phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận án bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên cho sinh viên dân tộc thiểu số ở các trƣờng đại học Chƣơng 2: Thực trạng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên cho sinh viên dân tộc thiểu số ở các trƣờng đại học khu vực miền núi phía Bắc Chƣơng 3: Biện pháp phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên cho sinh viên dân tộc thiểu số ở các trƣờng đại học khu vực miền núi phía Bắc 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN CHO SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu năng lực nghề nghiệp của người giáo viên Những nghiên cứu ở nước ngoài Emesto Cuadra và Juan Manuel Moreno cùng cộng sự (World Bank 2005) đề xuất bộ năng lực giáo viên, gồm ba nhóm năng lực với 12 năng lực cơ bản: Nhóm năng lực trong lĩnh vực nghề nghiệp (1- Hành động với tinh thần phân tích, lí giải, phê phán kiến thức; 2 - Tham dự các dự án nghề nghiệp; 3 - Hành động với tinh thần trách nhiệm và đạo đức); Nhóm năng lực trong lĩnh vực dạy học (4 - Thiết kế các tình huống dạy học; 5 - Triển khai các tình huống dạy học; 6 - Đánh giá sự tiến bộ của học sinh; 7 - Lập kế hoạch, tổ chức và giám sát cách thức làm việc của học sinh; 8 - Điều chỉnh hoạt động dạy linh hoạt; 9 - Tích hợp công nghệ thông tin và truyền thông; 10 - Truyền đạt đúng và rõ ràng); Nhóm năng lực trong lĩnh vực trƣờng học (11 - Hợp tác với nhà trƣờng, phụ huynh và nhân viên xã hội; 12 - Hợp tác với đồng nghiệp) [dẫn theo 12]. Nhƣ vậy những nghiên cứu của tổ chức Ngân hàng thế giới đã xác định cấu trúc năng lực của ngƣời giáo viên trong ba mối quan hệ chủ yếu là: Quan hệ với công việc (nghề nghiệp); Quan hệ với học sinh; Quan hệ với các lực lƣợng giáo dục trong xã hội.
Trong nghiên cứu, nhóm tác giả tiếp cận năng lực của ngƣời giáo viên ở góc độ hoạt động, các năng lực đƣợc biểu hiện ra bên ngoài bằng những hành động (hành động, tham dự, thiết kế, triển khai, đánh giá, lập kế hoạch, điều chỉnh, tích hợp, truyền đạt, hợp tác), nhóm tác giả cũng quan niệm năng lực của ngƣời giáo viên gồm nhiều năng lực thành phần, trong đó có cả năng lực trí tuệ (phân tích, giải thích, phê phán) và sự tham gia của trách nhiệm, đạo đức. 8 Kiymet Selvi (2005), xác định năng lực của giáo viên nói chung và năng lực sƣ phạm của giáo viên Thổ Nhĩ Kì nói riêng gồm 9 lĩnh vực sau: 1 - Năng lực môn học/năng lực chuyên môn; 2 - Năng lực nghiên cứu; 3 - Năng lực chƣơng trình (năng lực phát triển chƣơng trình và năng lực thực hiện chƣơng trình); 4 - Năng lực học tập suốt đời; 5 - Năng lực văn hoá - xã hội; 6 - Năng lực xúc cảm (đƣợc tạo thành từ các giá trị, đạo đức, niềm tin, thái độ, động cơ.v…); 7 - Năng lực giao tiếp; 8 - Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông; 9 - Năng lực giáo dục môi trƣờng [dẫn theo 12]. Nhìn vào quan niệm của Kiymet Selvi chúng ta thấy cấu trúc năng lực của ngƣời giáo viên trong xã hội hiện đại, ngoài hai năng lực cốt lõi mà ngƣời giáo viên ở thời đại nào cũng cần có là năng lực chuyên môn và năng lực chƣơng trình, thì đối với ngƣời giáo viên trong thế kỷ XXI cần có năng lực học suốt đời, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực giáo dục môi trƣờng. Trong quan niệm của Kiymet Selvi, những năng lực mang tính nhân văn (năng lực văn hoá - xã hội, năng lực xúc cảm, năng lực giao tiếp, năng lực giáo dục môi trƣờng) chiếm một tỷ trọng khá lớn trong cấu trúc năng lực của ngƣời giáo viên.
Điều đó cũng khẳng định trong cấu trúc năng lực của ngƣời giáo viên không chỉ có tri thức, kỹ năng mà còn có cả thành phần xúc cảm, niềm tin, đạo đức.v… Abdalhamid Alahmad, Tatjana Stamenkovska, János Gyori (2021), trong công trình “Chuẩn bị cho giáo viên tương lai những kỹ năng giáo dục ở thế kỷ 21‖, nhấn mạnh việc giáo viên cần biết các mô hình học tập cá nhân, hiểu động cơ và cảm xúc của học sinh; có nền tảng kiến thức phong phú; có kỹ năng thiết kế, lãnh đạo, quản lý và lập kế hoạch môi trƣờng học tập; sử dụng hiệu quả các kỹ năng nhận thức và siêu nhận thức; phải thành thạo trong việc sử dụng công nghệ [52]. Kathryn Kennedy and Leanna Archambault (2012), trong nghiên cứu ―Cung cấp trải nghiệm thực địa cho giáo viên trong việc học trực tuyến từ K- 9 12: Khảo sát quốc gia về các chương trình giáo dục dành cho giáo viên (ở Hoa Kỳ)” cho rằng giáo viên trong thế kỷ 21 phải làm chủ đƣợc hai môi trƣờng dạy học là môi trƣờng trực tiếp và môi trƣờng trực tuyến. Đối với môi trƣờng trực tuyến, giáo viên đạt đƣợc những tiêu chí nhƣ: 1 - Đáp ứng các tiêu chuẩn giảng dạy chuyên nghiệp trong cả môi trƣờng trực tiếp và môi trƣờng ảo; 2 - Có kỹ năng công nghệ tiên quyết để dạy trực tuyến; 3 - Lập kế hoạch, thiết kế và kết hợp các chiến lƣợc để khuyến khích học tập tích cực trên môi trƣờng trực tuyến; 4 - Khả năng lãnh đạo trực tuyến theo cách thúc đẩy sự thành công của học sinh thông qua phản hồi thƣờng xuyên, phản hồi nhanh chóng và kỳ vọng rõ ràng; 5 - Làm mẫu, hƣớng dẫn và khuyến khích hành vi hợp pháp, đạo đức, an toàn và lành mạnh liên quan đến việc sử dụng công nghệ; 6 - Có kinh nghiệm học trực tuyến; 7 - Hiểu và đáp ứng những học sinh có nhu cầu đặc biệt trong lớp học trực tuyến (biết các công nghệ hỗ trợ, các sửa đổi và các dịch vụ liên quan trong môi trƣờng trực tuyến để đảm bảo hỗ trợ những học sinh có nhu cầu đặc biệt); 8 - Thể hiện năng lực xây dựng và thực hiện đánh giá trong môi trƣờng học tập trực tuyến; 9 - Thể hiện năng lực trong việc sử dụng dữ liệu; 10 - Thể hiện các chiến lƣợc thƣờng xuyên và hiệu quả; 11- Cộng tác hiệu quả với đồng nghiệp bằng cách sử dụng hội nghị trên web [56]. Một số nghiên cứu khác về năng lực nghề nghiệp giáo viên theo tiếp cận giáo dục bền vững nhƣ: Cao ủy Kinh tế Liên Hiệp Quốc về Châu Âu UNECE với dự án CSCT (Curriculum, Sustainable development, Competences, Teacher training) [58],[59] đã xác định các năng lực cụ thể của giáo viên bao gồm: kiến thức (kiến thức chuyên môn, kiến thức sƣ phạm), tƣ duy hệ thống, cảm xúc, giá trị và đạo đức, hành động.
Rauch, Steiner, & Streissler [57] phát triển mô hình KOM-BiNE đã xác định năng lực nghề nghiệp giáo viên bao gồm: Nhóm kiến thức chuyên môn và kĩ năng sƣ phạm; Nhóm giá trị; Nhóm thái độ; Nhóm giao tiếp và phản hồi; Nhóm năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện 10 Các tác giả Baumert & Kunter [53] đã đề xuất mô hình năng lực nghề nghiệp giáo viên COACTIV gồm: Kiến thức và kĩ năng; Giá trị, niềm tin và mục tiêu nghề nghiệp; Định hƣớng động lực; Các năng lực hành động. Các tác giả Warren, Archambault, & Foley [61] đã đề xuất các năng lực: tƣ duy tƣơng lai, tƣ duy giá trị, tƣ duy hệ thống và tƣ duy chiến lƣợc. Garcia và cộng sự [55] đã xây dựng mô hình năng lực gồm các khía cạnh: sự kết nối, đối thoại, sáng tạo, đổi mới, tƣ duy phản biện, tính không chắc chắn. Vare và các cộng sự [60] đã đề xuất khung 12 năng lực dành cho các nhà giáo dục gồm: tƣ duy hệ thống, tƣ duy tƣơng lai, sự tham gia, sự tập trung, sự đồng cảm, sự cam kết, tính xuyên ngành, sự đổi mới, hành động, tính phản biện, tính trách nhiệm và tính quyết đoán.
Các tác giả nghiên cứu theo tiếp cận giáo dục bền vững đã xác định, bổ sung làm phong phú thêm cấu trúc năng lực năng lực nghề nghiệp của ngƣời giáo viên. Tuy nhiên, chƣa bao quát đƣợc toàn diện, phản ánh đƣợc đầy đủ các giá trị và các năng lực thành phần trong cấu trúc năng lực nghề nghiệp của ngƣời giáo viên. Những nghiên cứu ở trong nƣớc Năng lực nghề nghiệp của ngƣời giáo viên là một vấn đề thu hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và đông đảo đội ngũ giáo viên, với những nghiên cứu ở những mức độ và bình diện khác nhau có sản phẩm là những công trình khoa học lớn nhƣ đề tài khoa học, sách chuyên khảo; những nghiên cứu nhỏ có thể là những sáng kiến, bài viết đăng trên các tạp chí hoặc hội thảo. Dƣới đây là những công trình lớn nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về năng lực nghề nghiệp của ngƣời giáo viên: Trong công trình Phát triển chương trình đào tạo giáo viên - những vấn đề lí luận và thực tiễn.
Theo đó, tác giả đã xác định năng lực giáo viên bao gồm năng lực chung (năng lực chuyên môn, năng lực quan hệ con ngƣời, năng lực khái quát) và năng lực chuyên biệt - năng lực sƣ phạm. Tác giả cũng quan niệm ―năng lực sƣ phạm là một thuộc tính, là đặc điểm của nhân cách còn kĩ năng sƣ phạm là những thao tác riêng của hoạt động sƣ phạm trong các dạng hoạt động cụ thể‖ và nhấn mạnh khi nghiên cứu năng lực sƣ phạm của giáo viên cần nghiên cứu hệ thống các kỹ năng tƣơng ứng. Trong công trình trên, tác giả Phạm Hồng Quang đặc biệt coi trọng đào tạo giáo viên dựa vào năng lực và định hƣớng trách nhiệm, xem đó là một đặc tính nghề nghiệp và là điểm khác biệt lớn giữa nghề giáo viên và các nghề nghiệp khác.