Tổng quan luận án
Đề tài "Dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thu Phương, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Quang Ninh, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2019, thuộc chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn và Tiếng Việt (mã số: 9140111).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
- Cơ sở chủ trương, chính sách: Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI xác định ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn và vùng dân tộc thiểu số (DTTS). Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh DTTS cấp tiểu học (Công văn số 7679/BGD&ĐT-GDTH ngày 22/8/2008; Công văn số 8114/BGD&ĐT-GDTH ngày 15/9/2009; Thông báo số 145/TB-BGD&ĐT ngày 02/04/2010).
- Đặc trưng ngôn ngữ và rào cản giao tiếp: Trong tiếng Việt, hệ thống từ xưng hô là một hệ thống mở, nhạy cảm, phản ánh tôn ti, trật tự xã hội và sắc thái văn hóa giao tiếp (Nguyễn Văn Khang, 1999). Đối với học sinh tiểu học người DTTS, đặc biệt là học sinh dân tộc Hmông tiếp nhận tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ hai (NN2), việc sử dụng từ xưng hô và các quy tắc xưng hô là rào cản lớn.
- Bất cập thực tiễn dạy học: Hiện nay, học sinh tiểu học ở tất cả các vùng miền sử dụng chung một chương trình và sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt vốn được thiết kế theo định hướng dạy tiếng mẹ đẻ (TMĐ). Việc thiếu vắng môi trường giao tiếp tiếng Việt tự nhiên và phương pháp dạy học chưa phù hợp với đối tượng học sinh học tiếng Việt như NN2 dẫn đến tình trạng học sinh Hmông mắc nhiều lỗi chuyển di tiêu cực (giao thoa ngôn ngữ) khi xưng hô.
- Khoảng trống nghiên cứu: Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về cơ sở khoa học và giải pháp tổ chức dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông theo lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đề xuất và vận dụng các biện pháp dạy học nhằm nâng cao khả năng sử dụng từ xưng hô tiếng Việt trong giao tiếp cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông, góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt với tư cách là NN2 ở trường tiểu học.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):
- Hệ thống hóa lý luận về dạy học NN2 và thụ đắc NN2, từ xưng hô trong tiếng Việt và tiếng Hmông. So sánh, đối chiếu để chỉ ra sự đồng nhất và khác biệt cơ bản giữa từ xưng hô, cách xưng hô trong tiếng Việt và tiếng Hmông.
- Khảo sát thực trạng nội dung tài liệu dạy học từ xưng hô trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện hành, SGK Tiếng Việt tiểu học và khảo sát Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 (phần Tiếng Việt cấp tiểu học).
- Đề xuất các yêu cầu trong dạy học từ xưng hô tiếng Việt; vận dụng một số phương pháp dạy học phù hợp; xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm nâng cao khả năng dùng từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, phân tích và đánh giá tính khả thi của các phương pháp dạy học cùng hệ thống bài tập đề xuất.
Giả thuyết khoa học
Học sinh tiểu học dân tộc Hmông sử dụng từ xưng hô tiếng Việt còn nhiều bất cập do sự chuyển di tiêu cực (giao thoa ngôn ngữ) từ tiếng mẹ đẻ (không dùng từ xưng hô, dùng không đúng ngôi, không phù hợp vai giao tiếp, sai lệch sắc thái ý nghĩa). Nếu giáo viên nắm vững các phương pháp dạy học tích cực và triển khai một hệ thống bài tập rèn luyện khoa học, học sinh tiểu học dân tộc Hmông sẽ sử dụng từ xưng hô tiếng Việt trong giao tiếp hiệu quả hơn, từ đó nâng cao năng lực giao tiếp tiếng Việt và tự tin hơn trong các hoạt động xã hội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng và tiến hành thực nghiệm sư phạm trường hợp tại 03 trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học thuộc huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên:
- Trường Tiểu học Trần Văn Thọ;
- Trường Tiểu học Nậm Pố;
- Trường Tiểu học Nậm Kè số 2.
- Phạm vi đối tượng khảo sát - thực nghiệm: Học sinh khối lớp 1 (đầu cấp) và khối lớp 5 (cuối cấp) dân tộc Hmông (thuần Hmông, không có bố hoặc mẹ là người Kinh, sinh sống trong môi trường sử dụng tiếng Hmông).
- Phạm vi thời gian: Số liệu điều tra thực trạng và các đợt thực nghiệm sư phạm được tiến hành trong năm học 2017 - 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng kết, phân tích các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến bốn mảng nội dung chính:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Từ xưng hô 2. Phương pháp dạy 3. Dạy học tiếng Việt 4. Dạy tiếng Việt cho
tiếng Việt học ngôn ngữ 2 như ngôn ngữ 2 học sinh DTTS
1. Nghiên cứu về từ xưng hô tiếng Việt
- Nghiên cứu quốc tế: Mark Alves (2017) nghiên cứu ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc đối với hệ thống đại từ và từ xưng hô tiếng Việt từ thời Bắc thuộc đến tiền hiện đại; Chew Grace (2015) phân tích sự biến đổi ngữ nghĩa, chức năng của từ xưng hô tiếng Việt dưới tác động của hệ tư tưởng và bối cảnh chính trị - xã hội; M.B. Emeneau (1951) trong Studies in Vietnamese Grammar khảo sát hạn chế của đại từ nhân xưng đích thực trong việc thể hiện thái độ kính trọng.
- Lịch sử nghiên cứu trong nước (hơn 350 năm):
- Giai đoạn tiếp cận cấu trúc/từ loại: Alexandre de Rhodes (1651) miêu tả sơ lược đại từ nhân xưng và danh từ thân tộc; Trương Vĩnh Ký (1884) trong Grammaire de la langue annamite cung cấp bảng đại từ nhân xưng; Trần Trọng Kim (1940) trong Việt Nam văn phạm; Lê Biên (1999) trong Từ loại tiếng Việt hiện đại phân định đại từ xưng hô gốc và các danh từ được đại từ hóa; Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt.
- Giai đoạn tiếp cận ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội và giao tiếp: Nguyễn Văn Chiến (1987, 1992, 1993, 1997) nghiên cứu hệ thống từ xưng hô tiếng Việt qua lăng kính ngôn ngữ - văn hóa, đối chiếu với tiếng Khơme, Lào, Anh, Nga, Tiệp, xác lập khái niệm "năng lực giao tiếp xưng hô"; Nguyễn Văn Khang (1999, 2014) khảo sát xưng hô như hiện tượng ngôn ngữ học xã hội gắn với sự tương tác giữa vai xã hội và vai giao tiếp; Trương Thị Diễm (2003) làm rõ cơ chế chuyển hóa danh từ thân tộc thành từ xưng hô trên cả ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng; Phạm Thị Thành (1998) nghiên cứu đại từ nhân xưng trong tiếng Việt hiện đại; các tác giả khảo sát xưng hô trong ngữ cảnh chuyên biệt như Nguyễn Thị Hồng Chuyên (giao tiếp người lính), Chu Thị Phong Lan (mua bán chợ sinh viên), Khuất Thị Lan (vợ chồng nông dân 1930 - 1945), Trần Thị Thanh Hương (ban giám khảo truyền hình thực tế).
2. Nghiên cứu về phương pháp dạy học ngôn ngữ thứ hai
- Jack C. Richards và Theodore S. Rodgers (1986, 2018) tổng kết các đường hướng và phương pháp dạy học ngôn ngữ thế kỷ XX (nghe - nói, im lặng, giao tiếp, nhiệm vụ...); H.H. Stern (1983, 1997) phân tích các mô hình dạy học ngôn ngữ của Campbell (1980), Bernard Spolsky (1978), Ingram (1980), William Francis Mackey (1965), Peter Strevens (1976, 1977); Alice Omaggio Hadley (1993) nghiên cứu yếu tố cá nhân người học; Jill Kerper Mora (2002); Francis Mangubhai khảo sát phương pháp phản xạ toàn thân (TPR); James J. Asher (1969, 1977) phân tích mô hình học tiếng mẹ đẻ ứng dụng cho NN2; Lại Cao Nguyện (1995) so sánh quá trình học ngôn ngữ thứ nhất và NN2.
3. Nghiên cứu về dạy học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai
- Nguyễn Thiện Giáp (2008) phân tích đặc thù của dạy học tiếng Việt như NN2 và tổng kết ba mô hình thử nghiệm dạy học tiếng DTTS và tiếng Việt tại Việt Nam từ thập niên 1950 đến nay.
- Nguyễn Thị Phương Thảo (trong giáo trình Dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông) lập bảng so sánh chi tiết giữa thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất và NN2, đề xuất vận dụng phương pháp trực quan hành động (TPR) trong dạy tiếng Việt.
4. Nghiên cứu về dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số
- Nguyễn Văn Khang (2014) phân tích tác động xã hội học và tính phân hóa ngôn ngữ vùng cao; tài liệu bồi dưỡng giáo viên của Dự án Phát triển Giáo viên Tiểu học (2006); các nghiên cứu thực trạng năng lực tiếng Việt của học sinh Tây Bắc: Ngô Thị Thanh Quý (2016), Nguyễn Thị Thu Thủy (2016), Phạm Văn Trường (2015), Trần Thị Ngọc Anh (2016); nghiên cứu trên học sinh Hmông: Nguyễn Diệu Thương và Phạm Hùng Linh (2014) tại Mường Khương (Lào Cai), Nguyễn Kiến Thọ và Đào Thiện Xuân (2012) tại Văn Chấn (Yên Bái); các chương trình dự án: Dự án giáo dục 3 tỉnh khó khăn (2010), Chương trình SEQAP (Bộ GD&ĐT tại 36 tỉnh), Chương trình giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ của UNICEF.
Khoảng trống luận án giải quyết: Tích hợp lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, lý thuyết phân tích lỗi giao thoa và kết quả so sánh đối chiếu hệ thống xưng hô Việt - Hmông để xây dựng quy trình, phương pháp và hệ thống bài tập dạy học từ xưng hô tiếng Việt dành riêng cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (SLA):
- Phân biệt thụ đắc tự nhiên (naturalistic acquisition) và thụ đắc qua chỉ dẫn (instructed acquisition) theo Rod Ellis; thụ đắc tự phát và có chỉ dẫn theo Klein (1986); thụ đắc (vô thức) và học tập (có ý thức) theo Stephen Krashen (1981).
- Thuyết "thời kỳ nhạy cảm ngôn ngữ" của Eric Lenneberg (1967): xác định lứa tuổi tiểu học (trước dậy thì) là giai đoạn tối ưu cho sự phát triển ngôn ngữ.
- Thuyết "phát triển nhận thức" của Jean Piaget (1970): học sinh tiểu học (6 - 11 tuổi) nằm ở cuối giai đoạn tiền thao tác đến giai đoạn thao tác cụ thể, tư duy gắn liền với hoạt động trực quan.
- 5 giai đoạn thụ đắc NN2 của Krashen: (1) Giai đoạn im lặng, (2) Giai đoạn hành ngôn sớm, (3) Giai đoạn xuất hiện lời nói, (4) Giai đoạn tiền lưu loát, (5) Giai đoạn lưu loát.
- Yếu tố ảnh hưởng: Môi trường tự nhiên; tiếp cận nhân văn của Abraham Maslow; động cơ học tập (công cụ và hòa nhập) theo R.C. Gardner (1970).
- Lý thuyết phân tích lỗi và giao thoa ngôn ngữ:
- Kế thừa Robert Lado, S.P. Corder, Jack C. Richards và Nguyễn Văn Khang (2014): Phân tích nguyên nhân lỗi do giao thoa ngôn ngữ/chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ (ở bình diện hệ thống - cấu trúc và bình diện hành chức giao tiếp) và lỗi chuyển tiếp nội tại trong quá trình phát triển ngôn ngữ.
- Khung ngôn ngữ học đối chiếu từ xưng hô Việt - Hmông:
- So sánh hệ thống đại từ nhân xưng và danh từ thân tộc làm từ xưng hô giữa tiếng Việt và tiếng Hmông (Hmông Lềnh).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Xử lý các nguồn tài liệu lý luận ngôn ngữ học, giáo dục học và chương trình môn học.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn: Sử dụng phiếu hỏi đối với giáo viên tiểu học; phiếu bài tập kiểm tra năng lực sử dụng từ xưng hô tiếng Việt đối với học sinh lớp 1 và lớp 5; kết hợp dự giờ trực tiếp tại 03 trường tiểu học ở Mường Nhé.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn giáo viên và học sinh trước và sau khi triển khai giải pháp dạy học nhằm ghi nhận thái độ, mức độ hứng thú và khả năng thích ứng.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng tại 03 trường tiểu học trên địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Tính toán các tham số thống kê mô tả gồm điểm trung bình cộng ($\bar{X}$), phương sai ($S^2$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến thiên ($C_v$), lập bảng phân bố tần số, tần suất, lũy tích; sử dụng kiểm nghiệm $t$ (Student test) đối với hai mẫu độc lập để kiểm chứng độ tin cậy của sự khác biệt.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu khảo sát từ giáo viên và học sinh tiểu học dân tộc Hmông tại Trường Tiểu học Trần Văn Thọ, Trường Tiểu học Nậm Pố, Trường Tiểu học Nậm Kè số 2 (huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên).
- Văn bản Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện hành và Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGD&ĐT).
- SGK Tiếng Việt cấp tiểu học hiện hành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài. Luận án phân tích 4 nhóm vấn đề: (1) Lịch sử nghiên cứu từ xưng hô tiếng Việt từ góc độ cấu trúc đến ngữ dụng và văn hóa; (2) Các mô hình lý thuyết dạy học NN2 của Campbell, Spolsky, Ingram, Mackey, Strevens và Stern; (3) Lý luận và các thực nghiệm dạy học tiếng Việt như NN2 tại Việt Nam; (4) Thực trạng dạy học tiếng Việt cho học sinh DTTS vùng Tây Bắc và học sinh Hmông. Chương này khẳng định tính mới của đề tài khi tiếp cận việc dạy từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hmông theo lý thuyết thụ đắc NN2.
Chương 2: Cơ sở khoa học của việc dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông
Chương 2 thiết lập nền tảng lý luận và phân tích thực tiễn khảo sát:
- Cơ sở lý luận:
- Định vị tiếng Việt là NN2 đối với học sinh tiểu học dân tộc Hmông tại địa bàn nghiên cứu do các em sinh sống trong cộng đồng thuần ngữ Hmông.
- Vận dụng các quy luật tâm lý nhận thức của lứa tuổi tiểu học và lý thuyết thụ đắc NN2 (Krashen, Piaget, Lenneberg).
- Đối chiếu từ xưng hô tiếng Việt và tiếng Hmông: Hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Hmông Lềnh có sự phân biệt rạch ròi về số (số ít, số hai, số nhiều) và ngôi, nhưng không phong phú về lớp từ thân tộc lâm thời đảm nhận chức năng xưng hô như tiếng Việt; tiếng Hmông không phản ánh đậm nét các sắc thái tôn ti, thứ bậc xã hội phức tạp như tiếng Việt.
- Phân loại lỗi của học sinh Hmông: Lỗi giao thoa hệ thống, lỗi giao thoa hành chức (không dùng từ xưng hô, dùng đại từ thay cho danh từ thân tộc, xưng hô ngang hàng với người lớn tuổi) và lỗi chuyển tiếp.
| Nhóm yếu tố đối chiếu |
Tiếng Việt |
Tiếng Hmông (Hmông Lềnh) |
| Đại từ nhân xưng gốc |
Ít từ, chủ yếu mang sắc thái thân mật hoặc suồng sã/không lịch sự. |
Có hệ thống ngôi (1, 2, 3) và phân chia rõ số ít, số hai (song số), số nhiều. |
| Danh từ thân tộc làm từ xưng hô |
Rất phong phú, đa tầng bậc, phản ánh thứ bậc, tuổi tác, quan hệ thân - sơ. |
Số lượng từ thân tộc dùng để xưng hô hạn chế; không chuyển hóa rộng rãi sang giao tiếp xã hội. |
| Quy tắc xưng hô xã hội |
Xu hướng "gia đình hóa", xưng hô theo vị thế và quan hệ tình cảm. |
Phân định theo ngôi giao tiếp trực diện, ít chịu chi phối bởi tôn ti gia tộc khi ra ngoài xã hội. |
- Cơ sở thực tiễn:
- Khảo sát chương trình: Chương trình hiện hành tích hợp xưng hô qua các kỹ năng nhưng chỉ có 2 bài dạy trực tiếp ở lớp 5 ("Đại từ" và "Đại từ xưng hô"). Chương trình 2018 chú trọng năng lực giao tiếp và quy định cụ thể yêu cầu cần đạt về xưng hô ở các khối lớp.
- Khảo sát giáo viên và học sinh: Khảo sát thực trạng tại 3 trường thuộc huyện Mường Nhé chỉ ra những khó khăn của giáo viên về phương pháp dạy học cho học sinh DTTS; chỉ ra thực trạng học sinh lớp 1 và lớp 5 người Hmông gặp nhiều lúng túng, ngại giao tiếp và mắc lỗi sai khi lựa chọn từ xưng hô tiếng Việt trong các tình huống trường học và xã hội.
Chương 3: Tổ chức dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm bao gồm:
- Nguyên tắc và yêu cầu dạy học: Dạy học gắn với ngữ cảnh giao tiếp thực tế; tôn trọng đặc điểm tiếp nhận của người học NN2; kết hợp giữa hình thành kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành.
- Vận dụng 3 phương pháp dạy học chuyên biệt:
- Phương pháp trực quan hành động (Total Physical Response - TPR): Kết hợp lời nói với cử chỉ, điệu bộ, hành động cơ thể, phù hợp với học sinh đầu cấp (lớp 1) và học sinh ở giai đoạn hành ngôn sớm.
- Phương pháp đóng vai (Role Play): Tổ chức cho học sinh đặt mình vào các vai giao tiếp giả định (thầy - trò, bạn bè, người mua - người bán, bác sĩ - bệnh nhân) để thực hành lựa chọn từ xưng hô phù hợp vai xã hội.
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ (Language Analysis): Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ cảnh, nhận diện mối quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp để xác định nét nghĩa dụng học và lựa chọn từ xưng hô chính xác.
- Xây dựng hệ thống bài tập dạy học từ xưng hô:
- Cấu trúc hệ thống bài tập được phân loại theo tiến trình nhận thức:
- Nhóm bài tập nhận diện và hiểu nghĩa từ xưng hô: Nhận biết đại từ, danh từ thân tộc làm từ xưng hô trong văn bản, câu thoại.
- Nhóm bài tập sửa lỗi: Phát hiện và sửa các lỗi dùng sai ngôi, sai thứ bậc, thiếu lịch sự do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ.
- Nhóm bài tập vận dụng trong giao tiếp: Điền từ xưng hô vào hội thoại, đóng vai xử lý tình huống giao tiếp thực tế trong nhà trường và cộng đồng.
- Quy trình vận dụng hệ thống bài tập vào các dạng bài học tiếng Việt cụ thể ở tiểu học.
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Chương 4 mô tả quá trình và kết quả kiểm chứng tính khả thi của các đề xuất:
- Thiết kế thực nghiệm: Tiến hành tại 3 trường tiểu học bán trú huyện Mường Nhé (Trần Văn Thọ, Nậm Pố, Nậm Kè số 2) trên hai đối tượng: Lớp 1 (đầu cấp) và Lớp 5 (cuối cấp), phân chia thành nhóm Thực nghiệm (TN) và nhóm Đối chứng (ĐC) có trình độ tương đương.
- Thời gian thực hiện: Năm học 2017 - 2018.
- Phương pháp xử lý kết quả: Đo lường kết quả bài kiểm tra sau thực nghiệm bằng các công thức toán thống kê giáo dục, so sánh điểm trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên và kiểm định giá trị $t$ Student với mức ý nghĩa $p < 0,05$.
QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
[ Nhóm Thực nghiệm (TN) ] [ Nhóm Đối chứng (ĐC) ]
Dạy học bằng 3 phương pháp (TPR, Role Play, Dạy học theo quy trình và
Language Analysis) & Hệ thống bài tập đề xuất phương pháp thông thường
[ Đánh giá sau thực nghiệm ]
• So sánh điểm trung bình cộng (X̄), độ lệch chuẩn (S)
• Tính hệ số biến thiên (Cv)
• Kiểm định Student (t-test) 2 mẫu độc lập
- Kết quả thực nghiệm định lượng:
- Nhóm TN ở cả hai khối lớp đạt kết quả học tập và năng lực sử dụng từ xưng hô cao hơn rõ rệt so với nhóm ĐC.
- Điểm trung bình cộng ($\bar{X}$) của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC; độ lệch chuẩn ($S$) và hệ số biến thiên ($C_v$) của nhóm TN nhỏ hơn nhóm ĐC, phản ánh mức độ đồng đều và tiến bộ vững chắc của học sinh nhóm TN.
- Giá trị $t$ tính toán đều lớn hơn giá trị $t_{(\alpha, k)}$ tra bảng phân phối Student ở mức xác suất ý nghĩa quy định, khẳng định sự khác biệt giữa hai nhóm là có ý nghĩa thống kê.
- Đánh giá định tính: Học sinh nhóm thực nghiệm tự tin hơn, chủ động tham gia giao tiếp bằng tiếng Việt, giảm thiểu rõ rệt các lỗi nói cộc lốc hoặc dùng sai đại từ nhân xưng khi giao tiếp với thầy cô và bạn bè.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Tổng hợp và cụ thể hóa lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, lý thuyết phân tích lỗi giao thoa ngôn ngữ và khung lý thuyết ngôn ngữ học xã hội vào việc nghiên cứu dạy học một phân lớp từ vựng cụ thể (từ xưng hô tiếng Việt) cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông.
- Xác lập cơ sở khoa học đối chiếu giữa hệ thống từ xưng hô tiếng Việt và tiếng Hmông (Hmông Lềnh), chỉ ra bản chất ngôn ngữ học của các lỗi chuyển di tiêu cực thường gặp ở học sinh tiểu học Hmông khi học tiếng Việt.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đề xuất quy trình và cách thức vận dụng kết hợp 3 phương pháp dạy học tích cực phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhận thức của học sinh tiểu học Hmông: Phương pháp trực quan hành động (TPR), Phương pháp đóng vai (Role play) và Phương pháp phân tích ngôn ngữ (Language analysis).
- Xây dựng hệ thống bài tập dạy học từ xưng hô tiếng Việt đa dạng (nhận diện, chữa lỗi, tạo lập hội thoại/vận dụng) được kiểm chứng qua thực nghiệm tại các trường tiểu học bán trú huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho giáo viên vùng DTTS trong việc thiết kế bài giảng tiếng Việt theo hướng phát triển chương trình nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với cơ quan quản lý giáo dục: Cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề về phương pháp dạy học tiếng Việt như NN2 cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên giảng dạy tại các vùng DTTS; xây dựng tài liệu hướng dẫn dạy học tiếng Việt đặc thù phù hợp từng vùng ngôn ngữ.
- Đối với các trường tiểu học vùng DTTS: Tạo dựng môi trường giao tiếp tiếng Việt thân thiện trong và ngoài lớp học (khu nội trú, hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ) nhằm hỗ trợ quá trình thụ đắc ngôn ngữ tự nhiên cho học sinh.
- Đối với giáo viên: Chủ động điều chỉnh ngữ liệu và phương pháp dạy học, tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan, trò chơi ngôn ngữ, tạo điều kiện cho học sinh thực hành giao tiếp thường xuyên; không áp đặt hoàn toàn phương pháp dạy tiếng mẹ đẻ cho học sinh học tiếng Việt như NN2.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Về phạm vi không gian: Luận án chỉ tiến hành khảo sát và thực nghiệm tại 03 trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học trên địa bàn huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; chưa mở rộng khảo sát tại tất cả các địa bàn có đồng bào Hmông cư trú (như Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Nghệ An, Đắk Lắk).
- Về nhóm phương ngữ: Nội dung nghiên cứu và đối chiếu tập trung chủ yếu vào nhóm tiếng Hmông Lềnh (Hmông Hoa/Hmông Cánh Trắng) tại địa bàn khảo sát, chưa bao quát toàn bộ các phương ngữ Hmông khác (Hmông Đen, Hmông Trắng, Hmông Đỏ).
- Về khối lớp: Luận án tập trung khảo sát sâu và thực nghiệm ở hai khối lớp đại diện (Lớp 1 và Lớp 5), chưa triển khai thực nghiệm đồng loạt ở tất cả các khối lớp 2, 3, 4.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các địa bàn cư trú khác của người Hmông và các nhóm dân tộc thiểu số khác có đặc điểm loại hình ngôn ngữ tương đồng.
- Nghiên cứu biên soạn tài liệu bổ trợ hoặc sổ tay hướng dẫn rèn luyện kỹ năng xưng hô tiếng Việt cho học sinh DTTS cấp tiểu học.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Phương pháp dạy học Tiếng Việt và Ngôn ngữ học ứng dụng: Luận án là tài liệu tham khảo về khung lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, phương pháp phân tích lỗi giao thoa và phương pháp thiết kế thực nghiệm sư phạm có đối chứng ở trường tiểu học.
- Đối với giảng viên các trường sư phạm: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy trong học phần Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học, chuyên đề dạy học tiếng Việt cho học sinh DTTS.
- Đối với giáo viên tiểu học công tác tại vùng đồng bào DTTS: Cung cấp hệ thống bài tập thực hành, kỹ thuật tổ chức phương pháp trực quan hành động (TPR) và phương pháp đóng vai nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinh.
- Đối với cán bộ quản lý và nhà hoạch định chính sách giáo dục: Cung cấp cứ liệu thực tế để xây dựng chương trình bồi dưỡng giáo viên vùng cao và phát triển chương trình giáo dục nhà trường phù hợp bối cảnh đa văn hóa, đa ngữ.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án xác định tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai (NN2) đối với học sinh tiểu học dân tộc Hmông tại địa bàn nghiên cứu?
Học sinh Hmông tại 03 điểm trường khảo sát ở Mường Nhé (Điện Biên) là học sinh thuần Hmông, sinh ra và lớn lên trong gia đình có cả bố và mẹ đều nói tiếng Hmông, sinh sống tại cộng đồng làng bản sử dụng tiếng mẹ đẻ là tiếng Hmông. Các em chỉ bắt đầu tiếp xúc và học tiếng Việt chủ yếu khi đến trường học. Do đó, căn cứ vào lý thuyết ngôn ngữ học ứng dụng, tiếng Việt đối với các em có đầy đủ đặc tính của một ngôn ngữ thứ hai chứ không phải tiếng mẹ đẻ.
2. Sự khác biệt cơ bản giữa hệ thống từ xưng hô tiếng Việt và tiếng Hmông Lềnh là gì?
Tiếng Hmông Lềnh có hệ thống đại từ nhân xưng phân định chặt chẽ theo ngôi và số (số ít, số hai, số nhiều), nhưng số lượng danh từ thân tộc dùng làm từ xưng hô rất hạn chế và ít khi chuyển hóa sang giao tiếp xã hội. Ngược lại, tiếng Việt sử dụng rất phong phú hệ thống danh từ thân tộc để xưng hô trong cả gia đình lẫn ngoài xã hội nhằm biểu thị thứ bậc, sắc thái tình cảm, thân - sơ và tôn kính.
3. Những nguyên nhân chính dẫn đến lỗi sử dụng từ xưng hô tiếng Việt của học sinh Hmông là gì?
Theo luận án, lỗi xưng hô của học sinh xuất phát từ hai nguyên nhân:
- Giao thoa ngôn ngữ (chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ): Do tiếng mẹ đẻ không có thói quen dùng danh từ thân tộc mở rộng để xưng hô xã hội nên học sinh thường nói cộc lốc, không dùng từ xưng hô, hoặc dùng đại từ ngang hàng với người lớn tuổi.
- Lỗi chuyển tiếp trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ: Do học sinh chưa nắm vững quy tắc kết hợp và sắc thái biểu cảm của các từ xưng hô tiếng Việt phức tạp trong từng ngữ cảnh cụ thể.
4. Ba phương pháp dạy học cốt lõi được luận án đề xuất ở Chương 3 là những phương pháp nào?
Ba phương pháp bao gồm:
- Phương pháp trực quan hành động (Total Physical Response - TPR): Dạy từ xưng hô kết hợp hành động, cử chỉ, vận động cơ thể.
- Phương pháp đóng vai (Role Play): Tổ chức các tình huống giao tiếp giả định để học sinh luyện tập nhập vai và chọn từ xưng hô thích hợp.
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ (Language Analysis): Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ cảnh giao tiếp và mối quan hệ giữa các nhân vật để hiểu nét nghĩa và cách dùng từ đúng.
5. Địa bàn và đối tượng thực nghiệm sư phạm của luận án được triển khai cụ thể ở đâu?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại 03 trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học thuộc huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên: Trường Tiểu học Trần Văn Thọ, Trường Tiểu học Nậm Pố và Trường Tiểu học Nậm Kè số 2, trên đối tượng học sinh khối lớp 1 và khối lớp 5 trong năm học 2017 - 2018.
Kết luận
Luận án "Dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc Hmông" của tác giả Nguyễn Thu Phương đã giải quyết một vấn đề chuyên môn quan trọng của lý luận và phương pháp dạy học tiếng Việt ở vùng dân tộc thiểu số. Bằng việc vận dụng lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai và phân tích đối chiếu ngôn ngữ học, công trình đã làm sáng tỏ cơ sở khoa học cũng như thực trạng sử dụng từ xưng hô của học sinh Hmông tại Điện Biên. Hệ thống 3 phương pháp dạy học tích cực (TPR, đóng vai, phân tích ngôn ngữ) cùng hệ thống bài tập rèn luyện do luận án đề xuất đã được kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả thông qua thực nghiệm sư phạm. Công trình là tài liệu khoa học có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác giảng dạy tiếng Việt vùng dân tộc thiểu số và việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới.