CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Một số hướng tiếp cận vấn đề tư duy trong tâm lý học 1. Tiếp cận hành vi Các nhà tâm lý học hành vi đề cao vai trò của kích thích bên ngoài trong việc tạo ra các phản ứng.
Hành vi trí tuệ ở cả người và động vật là các phản ứng có hiệu quả mà chủ thể học được nhằm đáp lại các kích thích từ môi trường bên ngoài. Vì vậy, nghiên cứu và điều khiển việc hình thành hành vi trí tuệ cho cả người và động vật được quy về việc nghiên cứu tạo ra môi trường kích thích cho phép hình thành các phản ứng mong muốn, tức là quá trình “điều kiện hóa hành vi”. Vấn đề học tập và kỹ xảo đạt được là trung tâm của tâm lý học hành vi. Theo các nhà tâm lý học hành vi, tư duy giống như kỹ xảo, nó được hình thành theo cơ chế phản xạ và luyện tập.
Tiếp cận hình thái (Gestalt) Gestlat có nghĩa là cấu trúc, tổ chức, hình thể hay hình thái. Trong tâm lý học, hướng tiếp cận hình thái của trường phái Berlin xuất hiện vào thập niên đầu của thế kỷ XX mà đại biểu là các nhà tâm lý học Đức nổi tiếng W. Lĩnh vực chủ yếu và thành công nhất theo hướng tiếp cận hình thái là các nghiên cứu về tri giác và tư duy. Trong nghiên cứu tư duy, vấn đề quan tâm của các nhà tâm lý học Gestalt là sự biến đổi, cải tổ nhận thức.
Nhờ đó các quá trình tư duy mang tính sáng tạo khác hẳn với các khái quát hình thức, các thuật toán…như thuyết liên tưởng quan niệm. Theo họ, tư duy là sự hiểu biết bất ngờ (bừng hiểu) các quan hệ bản chất của tình huống có vấn đề. Sự bừng hiểu này không được chuẩn bị sẵn trực tiếp bởi hoạt động phân tích trước đó. Việc giải quyết 7 z nhiệm vụ tư duy thể hiện ở chỗ, một bộ phận của tình huống có vấn đề được tri giác trong cấu trúc mới.
Tình huống có vấn đề được cấu trúc lại, nhờ đó các thành phần tham gia bộc lộ thuộc tính mới, tính chất mới của mình. Thực chất của việc giải quyết nhiệm vụ là khám phá ra các tính chất mới đó. Các nhà Gestalt cho rằng sự có mặt của kinh nghiệm chưa đủ để giải quyết nhiệm vụ tư duy, thậm chí còn cản trở quá trình đi tìm lời giải cho các nhiệm vụ mới, vì nó tạo “sức ỳ” về mặt chức năng của đối tượng được sử dụng. Theo các nhà Gestalt, nghiên cứu tư duy không phải bằng quan sát mà phải bằng thực nghiệm.
Khi tiến hành thực nghiệm, cần lưu ý chọn các nhiệm vụ có các mức độ phức tạp khác nhau để làm rõ khả năng thực sự của nghiệm thể. Tuy chưa giải quyết triệt để các vấn đề tư duy nhưng các nhà tâm lý học theo hướng tiếp cận hình thái đã có những đóng góp lớn cho nền tâm lý học: các quy luật của tri giác, sự phát sinh các mối quan hệ giữa tri giác với tư duy trong quá trình giải quyết các bài toán tư duy…Nhiều thành tựu của tâm lý học Gestalt đến nay vẫn còn nguyên giá trị, chẳng hạn, phát hiện về sự phát sinh tri giác và tư duy trong trường tri giác khi giải quyết bài toán tư duy là cơ sở lí luận của một trong những trắc nghiệm nổi tiếng hiện nay: trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn do nhà tâm lý học J.Raven soạn thảo và chuẩn hóa. Tiếp cận phát sinh nhận thức Trong suốt hơn nửa thế kỷ, J.Piaget (1896 – 1980) và các cộng sự đã kiên trì hướng tiếp cận có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của tâm lý học thế kỷ XX: tiếp cận phát sinh nhận thức, phát triển trí tuệ trẻ em. Học thuyết của J.Piaget về sự phát triển trí tuệ của trẻ có hai nội dung gắn bó với nhau: học thuyết về cấu trúc, chức năng và sự phát sinh (Tâm lý học phát sinh) và học thuyết về các giai đoạn phát triển trí tuệ ở trẻ em (Tâm lý học lứa tuổi).
8 z Lý luận phát triển của Piaget hàm chứa một lý luận học tập tiềm ẩn dù vẫn mang màu sắc sinh học. Nói khác đi, tính phát sinh không tách rời khỏi lịch sử là như vậy. Do tính khoa học và giá trị thực tiễn to lớn của lý thuyết phát sinh trí tuệ nên chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn ở phần sau. Tiếp cận hoạt động Tiếp cận hoạt động là cuộc cách mạng thực sự trong tâm lý học nói chung và trong nghiên cứu sự hình thành và phát triển tư duy cá nhân nói riêng.
Đại biểu của hướng tiếp cận này là nhà tâm lý học kiệt xuất L.Vưgôtxki và các nhà tâm lý học khác như: A.Hướng tiếp cận hoạt động có cùng mục tiêu với các hướng tiếp cận hành vi, hình thái và phát sinh là xây dựng nền tâm lý học khách quan. Nhưng nếu cách tiếp cận hành vi chỉ nghiên cứu hành vi và loại bỏ ý thức của chủ thể thì cách tiếp cận hoạt động ngay từ đầu đã đưa ý thức trở thành đối tượng nghiên cứu của mình. Tất nhiên, việc nghiên cứu này không thể diễn ra theo cách thức của tâm lý học nội quan mà phải theo phương pháp khách quan. Đó thực sự là vấn đề nan giải.
Hướng tiếp cận hoạt động đã khắc phục tình trạng này bằng cách khai thác triệt để thành tựu của triết học duy vật biện chứng và lịch sử, lấy triết học làm nền tảng phương pháp luận cho việc nghiên cứu tâm lý con người. Luận điểm cơ bản là: con người là ra chính bản thân mình bằng lao động và hoạt động xã hội. Toàn bộ đời sống tâm lý, ý thức của con người là sự phản ánh thực tiễn đời sống vật chất của nó. Tâm lý, ý thức được hình thành và biểu hiện qua hoạt động mà trước hết là lao động sản xuất và hoạt động xã hội.
Vì vậy muốn nghiên cứu tâm lý, ý thức của con người một cách khách quan phải bắt nguồn từ nghiên cứu toàn bộ đời sống thực tiễn của nó. Công việc chủ yếu của nhà tâm lý học là phân tích các dạng hoạt động trong đời sống thực tiễn, phát hiện các quy luật hình thành và 9 z chuyển hóa từ dạng hoạt động vật chất bên ngoài thành dạng hoạt động tâm lý bên trong và ngược lại. Như vậy, chìa khóa để nghiên cứu tư duy theo hướng tiếp cận hoạt động là tìm hiểu sự hình thành hoạt động tư duy từ hành động thực tiễn, vật chất bên ngoài, nghiên cứu tư duy trong toàn bộ đời sống hiện thực của nó. Từ nghiên cứu chức năng, cấu trúc đến nguồn gốc, nội dung xã hội, lịch sử phát sinh, hình thành và phát triển.
Học thuyết lịch sử - văn hóa về sự phát triển tâm lý do L.Vugôtxki sáng lập đã chỉ ra rằng mặt văn hóa – xã hội của các quan hệ này mới thực sự ảnh hưởng tới chiều hướng và phương thức phát sinh, phát triển trí tuệ của trẻ em trong các nền văn hóa khác nhau. Theo quan điểm của tiếp cận hoạt động, bất kỳ chức năng tâm lý cấp cao nào của trẻ em trong quá trình phát triển cũng đều được thể hiện hai lần: lần đầu là hoạt động tập thể, hoạt động xã hội, tức là chức năng tâm lý bên ngoài. Lần thứ hai là hoạt động cá nhân, phương pháp bên trong của tư duy trẻ em là chức năng tâm lý bên trong. - Trí tuệ của trẻ em được hình thành bằng chính hoạt động của nó.
Mỗi giai đoạn phát triển của trẻ có nhiều hoạt động, trong đó hoạt động chủ đạo có vai trò chủ yếu đối với sự phát triển trí tuệ và các hoạt động khác trong giai đoạn đó. Sự phát triển trí tuệ của trẻ em phụ thuộc trước hết vào hoạt động nào giữ vai trò chủ đạo trong từng giai đoạn. Vì vậy, sự hình thành và phát triển trí tuệ của trẻ em gắn liền với việc hình thành hoạt động chủ đạo trong mỗi giai đoạn phát triển của nó. - Trẻ em không thể tự mình hoạt động một cách đơn độc.
Hoạt động của trẻ em với thế giới đồ vật bao giờ cũng phải trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người lớn, lấy người lớn làm trung gian. Có thể nói trí tuệ của trẻ em là sản phẩm của hoạt động và sự hợp tác của nó với người lớn. 10 z - Chức năng của dạy học là phát triển nên dạy học phải đi trước sự phát triển. Tức là dạy học không hướng vào trình độ phát triển hiện thời mà phải tác động vào vùng phát triển gần nhất trong trí tuệ học sinh [10].
Hướng tiếp cận hoạt động nhìn chung có hướng nhấn mạnh tới khía cạnh lĩnh hội với tư cách là sự tái tạo những kinh nghiệm của xã hội, chuyển biến chúng thành của riêng cá nhân. Vì vậy, cần xác định đúng giới hạn của việc tái tạo, sự lặp lại để trách coi nhẹ yếu tố sáng tạo trong hoạt động trí tuệ của trẻ em. Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở nước ngoài Trong tâm lý học, trẻ em luôn là đối tượng trung tâm để nghiên cứu các vấn đề đặc trưng về tâm lý học. Hoạt động tư duy là một trong những vấn đề đó.
Vậy tư duy của trẻ em nảy sinh, hình thành và phát triển ra sao? Các công trình nghiên cứu về tư duy trẻ em của các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều câu trả lời khác nhau. Jean Piaget (1896 – 1980), là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Sĩ. Những thành tựu nghiên cứu về sự phát sinh, phát triển trí tuệ của trẻ em mà ông phát hiện ra là một trong những đóng góp lớn nhất cho sự phát triển tâm lý học thế kỷ XX. Mối quan tâm lớn nhất của Piaget là cấu trúc trí tuệ và quá trình phát sinh phát triển trí tuệ của trẻ em như thế nào? Theo ông, trí tuệ của cá nhân phát triển từ thấp đến cao được tuân theo trật tự chặt chẽ.
Đây không phải là trật tự thời gian mà là trật tự kế tiếp, mọi cá nhân phát triển bình thường đều phải tuân theo trật tự đó. Đồng thời quá trình phát triển này theo hai quy luật: tăng trưởng liên tục, từng tí một và phát triển nhảy vọt. Chính sự nhảy vọt cho ta khái niệm giai đoạn. Piaget cho rằng mỗi lứa tuổi có đặc trưng riêng về chất lượng trí tuệ và được coi là một giai đoạn phát triển.