Chương 1: Những vấn đề lý luận về vi phạm cơ bản hợp đồng theo luật Thương mại Việt Nam Chương 2: Thực trạng pháp luật về vi phạm cơ bản hợp đồng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. 6 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG THEO LUẬT THƢƠNG MẠI VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, đặc điểm của Vi phạm cơ bản hợp đồng đồng.1 Khái niệm chung về hợp đồng và Vi phạm cơ bản hợp đồng.1 Vi phạm hợp đồng Hợp đồng là hình thức pháp lý phù hợp nhất để thể hiện bản chất của các quan hệ tài sản. Hợp đồng dù thể hiện dưới hình thức nào, bởi ngôn ngữ nào cũng phản ánh bản chất pháp lý riêng của nó. Ở Việt Nam trong mỗi thời kì lịch sử sẽ có những định nghĩa hợp đồng khác nhau nhưng nhìn chung có hai nhóm hợp đồng cơ bản một là các loại hợp đồng điều chỉnh quan hệ dân sự hai là loại hợp đồng kinh tế điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực thương mại.
Hiện nay khái niệm về hợp đồng kinh tế không còn được ghi nhận kể từ khi BLDS 2005 và LTM 2005 có hiệu lực, hợp đồng (bao gồm hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế) đã được điều chỉnh bằng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thống nhất về hợp đồng1 “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”2. Nhưng điều đó không có nghĩa là hợp đồng trong lĩnh vực thương mại không còn tồn tại. Bởi khi còn các hoạt động thương mại3 được coi như một loại hành vi dân sự đặc thù thì vẫn có quy định riêng điều chỉnh với tư cách là hình thức pháp lý của các hoạt động thương mại. Trong thực tế vi phạm hợp đồng đã suất hiện và tồn tại trên khắp hệ thống pháp luật của thế giới và Việt Nam cũng không là ngoại lệ.
Theo cách hiểu thông thường vi phạm là làm trái với quy định. Do đó có thể hiểu vi phạm hợp đồng là không thực hiện đúng hay làm trái những gì mà các bên đã thỏa thuận, thống nhất ý chí với nhau. Về phương diện nghiên cứu học thuật trên thế giới có rất nhiều khái niệm vi phạm hợp đồng khác nhau. Như “vi phạm hợp đồng xảy ra khi một bên không hoặc từ chối thực hiện những gì anh ta có nghĩa vụ thực hiện theo hợp đồng mà không có lý do hợp pháp hoặc thực hiện không đúng hoặc không có khả năng thực hiện” là khái niệm 1 Tham khảo: Đinh Thị Mai Phương, 2005, Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, NXB Tư pháp 2 Điều 385 BLDS 2015 3 Tham khảo: Trần Văn Hùng, 2017, thực trạng hoạt động thương mại của việt nam giai đoạn 1995-2015, Tạp chí khoa học và công nghệ Lâm nghiệp 7 được Giáo sư Treitel đưa ra.
Theo cách hiểu này chỉ khi “không có lý do hợp lý” mới xem là vi phạm hợp đồng. Pháp luật quốc tế cũng có những quy định cụ thể về vi phạm hợp đồng tuy có nhiều quan điểm trái ngược nhau nhưng nhìn chung đều hướng về hành vi vi phạm những gì mà các bên các bên đã thỏa thuận ban đầu4. Tại Việt Nam tại khoản 12 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định “vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật Thương mại” và tại khoản 1 Điều 351 BLDS 2015 “Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ” dưới hai quy định này có thể thấy, LTM quy định phạm vi vi phạm hợp đồng rộng hơn so với BLDS khi xem “thực hiện không đầy đủ” là một dạng cụ thể của không thực hiện hợp đồng. Quy định của Luật Thương mại là khá phù hợp với xu hướng quy định của một số văn bản quốc tế.2 Vi phạm cơ bản hợp đồng Vi phạm cơ bản hợp đồng là một dạng là một loại vi phạm hợp đồng nhưng không phải vi phạm hợp đồng nào cũng là vi phạm hợp đồng cơ bản.
Yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa vi phạm cơ bản hợp đồng với các loại vi phạm hợp đồng khác là tính cơ bản của hành vi vi phạm Theo ngôn ngữ tiếng Việt “cơ bản” nghĩa là “trọng yếu nhất” có thể hiểu là vi phạm với tính chất nghiêm trọng hoặc vi phạm những nội dung trọng yếu nhất. Tính chất cơ bản của hành vi vi phạm được thể hiện ở chỗ vi phạm hợp đồng phải đủ nghiêm trọng để cho phép bên bị vi phạm xem vi phạm này như là vi phạm toàn phần hơn là vi phạm từng phần, vì vậy miễn việc tiếp tục thực hiện hợp đồng cho bên bị vi phạm và trao cho họ quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại5 Về góc độ pháp lý “Tàu đi chệch hướng là vấn đề nghiêm trọng làm thay đổi một cách cơ bản hành trình dự định đến mức chủ tàu điều khiển tàu đi chệch hướng không được xem là đã thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng chuyên chở mà thực hiện điều gì đó khác biệt một cách cơ bản, và vì thế chủ tàu không thể đòi lợi ích từ những quy định có lợi cho anh ta trong hợp đồng chuyên chở”6 Lý thuyết tàu đi chệch hướng 4 Phan Thị Thanh Thủy, 2014, So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980, Tạp chí khoa học 5 Theo Từ điển Black’s Law (phiên bản thứ 9) 6 Tàu đi chệch hướng được nêu ra trong vụ tranh chấp Joseph Thorley Ltd v. Orchris Steamship Co.A) 8 trong chuyên chở đường biển được xem như nguồn gốc của học thuyết vi phạm cơ bản đến nay, học thuyết vi phạm cơ bản đã được phát triển mạnh mẽ trong giới luật học và trở thành quy định quan trọng trong pháp luật hợp đồng của Anh, Mỹ,Canada… và được tiếp cận chủ yếu ở hai khía cạnh sau: Thứ nhất vi phạm hợp đồng có tính chất cơ bản nếu đó là vi phạm điều khoản cơ bản của hợp đồng hay vi phạm nghĩa vụ cốt lõi của hợp đồng; Thứ hai dựa vào mức độ ảnh hưởng đáng kể, nghiêm trọng của hành vi vi phạm hợp đồng đến mục đích, lợi ích kinh tế của một trong các bên xác lập và thực hiện hợp đồng. Nội dung của hợp đồng được cấu thành bởi các điều khoản cơ bản, điều khoản tùy nghi và điều khoản thông thường.
Về mặt thuật ngữ, điều khoản cơ bản của hợp đồng có thể hiểu là điều khoản mà nếu một bên vi phạm điều khoản đó thì bên kia có quyền chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng. Hay, điều khoản cơ bản là điều khoản trong hợp đồng và có tầm quan trọng như hợp đồng, nếu bỏ qua nó sẽ làm cho hợp đồng vô hiệu. Điều này có nghĩa là nếu trong hợp đồng điều khoản cơ bản không được tuân thủ thực hiện thì hợp đồng không có giá trị gì đối với bên bị vi phạm. Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Tập 2) của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2005 có đoạn viết: “các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng.
Đó là những điều khoản không thể thiếu được đối với từng loại hợp đồng. Nếu không thỏa thuận được những điều khoản đó thì hợp đồng không thể giao kết được. Có những điều khoản đương nhiên là điều khoản cơ bản, vì không thỏa thuận tới nó sẽ không thể hình thành hợp đồng. Ngoài ra, có những điều khoản mà vốn dĩ không phải là điều khoản cơ bản nhưng các bên thấy cần phải thỏa thuận được điều khoản đó mới giao kết hợp đồng, thì những điều khoản này cũng là điều khoản cơ bản của hợp đồng sẽ giao kết”.
Tuy tồn tại nhiều quan điểm của nhiều học giả nhưng có một điểm chung khi đề cập đến điều khoản cơ bản đó là: điều khoản cơ bản là những điều khoản “cốt lõi” của hợp đồng, thiếu các điều khoản này các bên không giao kết hợp đồng. Hành vi vi phạm hợp đồng có thể gây ra hoặc không gây ra tổn thất, thiệt hại nào cho bên bị vi phạm nhưng điều quan trọng tạo nên tính cơ bản của hành vi vi phạm hợp đồng là lợi ích các bên mong muốn đạt được từ hợp đồng khi xác lập và thực hiện hợp đồng bị ảnh hưởng như thế nào bởi hành vi vi phạm hợp đồng. Vì vậy, 9 không có sự khác nhau giữa vi phạm cơ bản hợp đồng thương mại (nhằm mục đích sinh lợi) và hợp đồng dân sự (theo nghĩa hẹp, không nhằm mục đích sinh lợi), giữa vi phạm cơ bản hợp đồng thương mại trong nước và hợp đồng thương mại có tính chất quốc tế (có yếu tố nước ngoài).1 Đặc điểm của hành vi vi phạm cơ bản hợp đồng Vi phạm cơ bản hợp đồng ảnh hưởng nghiêm trọng lợi ích mong muốn từ hợp đồng của bên bị vi phạm khiến mục đích của hợp đồng không thể đạt được Hợp đồng thương mại được xác lập hợp pháp và có hiệu lực pháp lý thì trong hoàn cảnh thông thường bất kỳ ai tham gia xác lập, giao kết hợp đồng cũng đều kỳ vọng các bên đối tác phải tôn trọng và thực hiện đúng hợp đồng. Như một học giả đã từng nhận xét: “Chức năng của pháp luật hợp đồng, suy cho cùng là tạo ra sự tự do cho các bên định đoạt và các cơ chế hỗ trợ để sự tự định đoạt đó được tuân thủ, góp phần biến các thỏa ước giữa các cá nhân hoặc tổ chức trở thành có hiệu lực như là luật Các bên giao kết, thực hiện hợp đồng với mục tiêu thiện chí đôi bên cùng có lợi vì nó mà các bên tham gia hợp đồng là: người mua trả tiền vì sẽ nhận được hàng hóa, quyền sở hữu hàng hóa là mục đích của người mua.
Người bán có mục đích nhận được khoản tiền tương đương giá trị của hàng hóa. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, người bán và người mua có thể có những hành vi vi phạm hợp đồng dẫn đến ảnh hưởng nhất định tới quyền và lợi ích mong muốn của các bên. Những ảnh hưởng đó có thể là người mua nhận được hàng hóa nhưng hàng hóa không đủ về số lượng, không đảm bảo về chất lượng hoặc người bán nhận không đủ tiền thanh toán.