Tổng quan nghiên cứu

Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là trung tâm thông tin học thuật trọng điểm của khu vực Trung Bắc, quản lý hệ thống vốn tài liệu phong phú với 16.668 tên ấn phẩm và phục vụ thường xuyên cho 7.728 bạn đọc có thẻ. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, việc chuẩn hóa nghiệp vụ xử lý tài liệu theo các chuẩn mực toàn cầu trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm tối ưu hóa khả năng chia sẻ nguồn lực thông tin. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Thư viện của tác giả Ngô Thị Linh tập trung nghiên cứu toàn diện công tác phân loại tài liệu và tổ chức hệ thống tra cứu tìm tin theo ký hiệu phân loại tại Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội 2.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá thực trạng phân loại tài liệu, phân tích quá trình chuyển dịch từ Khung phân loại 19 lớp truyền thống sang Khung phân loại thập phân Dewey phiên bản 14 Việt hóa, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả tra cứu. Phạm vi nghiên cứu bao quát quá trình phát triển 45 năm của nhà trường (1967 - 2012) và khảo sát thực chứng giai đoạn tin học hóa từ năm 2005 đến năm 2013 tại không gian thư viện 2.500m2. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, giúp hoàn thiện lý luận phân loại tài liệu, nâng cao tỷ lệ truy hồi thông tin chính xác và tạo tiền đề vững chắc cho việc liên thông thư viện toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận của Thông tin học và Thư viện học hiện đại, trọng tâm là lý thuyết ngôn ngữ tìm tin. Ngôn ngữ tìm tin theo ký hiệu phân loại được xác định là ngôn ngữ tiền kết hợp có cấu trúc cây đẳng cấp thứ bậc, giúp phản ánh toàn diện các lĩnh vực tri thức. Đề tài vận dụng khung so sánh giữa Khung phân loại 19 lớp (Thư viện Quốc gia Việt Nam ban hành năm 1961, hoàn thiện năm 1991 trên gốc UDC/BBK) và Khung phân loại thập phân Dewey (DDC 14 Việt hóa xuất bản năm 2006 kết hợp tham chiếu DDC 22 tiếng Anh).

Nghiên cứu sử dụng các khái niệm cốt lõi: ngôn ngữ tư liệu, điểm truy cập trực tiếp, bộ máy tra cứu truyền thống và hệ thống tìm tin tự động hóa. Đề tài bám sát định hướng chuẩn hóa nghiệp vụ theo Công văn số 1598/BVHTT-TV ngày 13/4/2007 của Bộ Văn hóa - Thông tin về việc áp dụng các chuẩn quốc tế thống nhất bao gồm: quy tắc biên mục AACR2, khổ mẫu đọc máy MARC21, khung phân loại DDC và phần mềm quản trị tích hợp Libol 5.5.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao quát toàn bộ 16.668 tên tài liệu trong cơ sở dữ liệu thư viện. Cỡ mẫu khảo sát người dùng tin gồm 7.728 tài khoản bạn đọc, phân tầng thành 3 nhóm: 56 cán bộ giảng viên, 7.564 sinh viên chính quy và 328 học viên cao học. Dữ liệu thực tế được trích xuất từ nhật ký lưu thông của phần mềm Libol 5.5 trong tháng 3/2013 với 159 lượt mượn của giảng viên và hàng chục nghìn lượt mượn của sinh viên, kết hợp phỏng vấn sâu 05 cán bộ chuyên trách phân loại và 10 giảng viên chuyên ngành.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu chủ đích nhằm đảm bảo tính đại diện cho từng đối tượng sử dụng và vị trí chuyên môn. Phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả, phân tích định lượng dữ liệu mượn trả và đối sánh lịch sử. Việc lựa chọn các phương pháp này giúp đánh giá chính xác độ bao phủ của khung phân loại đối với các ngành đào tạo sư phạm, đồng thời phản ánh khách quan hiệu suất tìm tin trong môi trường thư viện hiện đại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, vốn tài liệu của thư viện đạt quy mô 16.668 tên tài liệu tương ứng với gần 20.000 biểu ghi CSDL thư mục. Trong đó, sách chuyên khảo chiếm số lượng lớn nhất với 11.189 tên, luận văn và khóa luận tốt nghiệp đạt 5.671 tên, bài trích báo tạp chí là 1.425 bài và 289 loại báo tạp chí. Cơ cấu nội dung phân bổ sát với 23 ngành đào tạo: ngành Văn học chiếm tỷ trọng cao nhất với 25% (4.218 tên), Chính trị xã hội chiếm 18% (2.998 tên), Toán học chiếm 10% (1.666 tên), Sinh học chiếm 6% (885 tên), Lịch sử - địa lý chiếm 5% (875 tên), Tin học và Ngôn ngữ học cùng chiếm 4%, Vật lý và Hóa học cùng đạt 3%, các chuyên ngành khác chiếm 22%.

Thứ hai, hoạt động phân loại sao chép từ các cơ sở dữ liệu lớn đạt hiệu quả phân hóa rõ rệt. Cán bộ thư viện đạt tỷ lệ tìm thấy và sao chép thành công chỉ số DDC lên tới 70% đối với tài liệu ngoại văn trên cơ sở dữ liệu của Thư viện Quốc hội Mỹ (tra cứu qua số ISBN tại trường 050 và 082). Ngược lại, tỷ lệ tìm thấy tài liệu tiếng Việt trên CSDL của Thư viện Quốc gia Việt Nam chỉ đạt khoảng 30%, nguyên nhân do nhiều tài liệu xuất bản mới hoặc tài liệu hồi cố của trường chưa kịp cập nhật trên hệ thống quốc gia.

Thứ ba, nhu cầu và hành vi tìm tin có sự khác biệt lớn giữa các nhóm bạn đọc. Sinh viên chiếm 97,8% tổng số thẻ (7.564 thẻ) với 35.708 lượt mượn sách chuyên khảo và 26.080 lượt mượn khóa luận trong tháng 3/2013, nhưng nhu cầu mượn tài liệu tiếng Anh chỉ đạt 36 lượt. Ngược lại, cán bộ giảng viên chỉ chiếm 0,72% tổng số thẻ (56 thẻ) nhưng có tới 57,8% lượt mượn là tài liệu tiếng Anh (92/159 lượt). Đáng chú ý, hơn 80% bạn đọc vẫn duy trì thói quen tra cứu theo tên sách hoặc từ khóa thay vì tra cứu theo ký hiệu phân loại DDC.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu 10 nhóm chủ đề tài liệu và bảng ma trận đối sánh tỷ lệ sao chép dữ liệu giữa Thư viện Quốc gia và Thư viện Quốc hội Mỹ. Nguyên nhân chính khiến bạn đọc ít tra cứu theo ký hiệu phân loại là do các chương trình hướng dẫn sử dụng thư viện đầu khóa chưa đi sâu vào việc giải thích cấu trúc cây phân loại DDC.

Về mặt nghiệp vụ, công tác phân loại do 05 cán bộ thực hiện độc lập nên tính nhất quán đôi khi còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan. So với các trung tâm thông tin lớn, việc Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội 2 chuyển sang dùng DDC 14 và tổ chức kho mở tại không gian 2.500m2 là bước tiến vượt bậc, giúp rút ngắn thời gian lấy sách. Tuy nhiên, để phát huy tối đa hệ thống 45 máy tính nối mạng và 30 máy trạm phòng Đa phương tiện, thư viện cần sớm nâng cao năng lực tra cứu chuyên sâu cho người dùng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình phân loại và xây dựng bảng chỉ dẫn phân loại nội bộ: Tổ Nghiệp vụ cần hoàn thiện cẩm nang phân loại chi tiết, mở rộng các chỉ số địa phương và lịch sử Việt Nam dựa trên DDC 14 và DDC 22. Mục tiêu đặt ra là kiểm soát sai sót phân loại xuống dưới mức 5%, hoàn thành thẩm định lại 100% biểu ghi hồi cố trong khung thời gian 12 tháng.

Thứ hai, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ 05 cán bộ biên mục: Ban Giám đốc thư viện cần tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu về chuẩn MARC21, ứng dụng công cụ WebDewey, kết hợp nâng cao trình độ tiếng Anh chuyên ngành. Lộ trình thực hiện trong 2 năm nhằm đảm bảo toàn bộ cán bộ xử lý thành thạo các dạng tài liệu đa ngữ và đa phương tiện.

Thứ ba, nâng cấp hạ tầng công nghệ và triển khai hệ thống tra cứu trực tuyến qua Internet: Thư viện cần nâng cấp phần mềm Libol 5.5, tích hợp phần mềm mã nguồn mở DSpace trong năm học mới để quản trị 5.671 tài liệu số toàn văn. Bộ phận công nghệ thông tin chịu trách nhiệm mở rộng cổng tra cứu OPAC trên môi trường Web, cho phép bạn đọc tra cứu từ xa 24/7.

Thứ tư, đổi mới công tác giáo dục kiến thức thông tin cho người dùng tin: Phòng Phục vụ cần đưa kỹ năng tra cứu theo ký hiệu phân loại DDC và kỹ năng khai thác kho mở vào chương trình sinh hoạt bắt buộc cho hơn 2.000 tân sinh viên mỗi năm. Mục tiêu là nâng tỷ lệ bạn đọc tự tra cứu và tiếp cận tài liệu chính xác lên trên 85% sau 2 học kỳ triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Ban giám đốc và cán bộ nghiệp vụ tại các thư viện đại học, cao đẳng: Nắm bắt mô hình chuyển đổi thực tế từ Khung phân loại 19 lớp sang DDC 14, quy trình xử lý hơn 20.000 biểu ghi và kinh nghiệm tổ chức kho mở trên diện tích 2.500m2.

Giảng viên và sinh viên chuyên ngành Khoa học Thư viện - Thông tin: Sử dụng làm tài liệu tham khảo học thuật giá trị về lý thuyết ngôn ngữ tìm tin tiền kết hợp, kỹ thuật định chỉ số phân loại DDC và phương pháp nghiên cứu người dùng tin.

Chuyên viên công nghệ thông tin và quản trị hệ thống thư viện: Tham khảo giải pháp tích hợp chuẩn biên mục MARC21, phần mềm Libol 5.5 và định hướng ứng dụng phần mềm DSpace trong quản lý tài nguyên số.

Các nhà quản lý giáo dục và hoạch định chính sách thư viện: Có thêm cơ sở thực tiễn để đánh giá tiến trình chuẩn hóa nghiệp vụ thư viện đại học theo chủ trương của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Thư viện ĐHSP Hà Nội 2 chuyển đổi từ Khung 19 lớp sang Khung DDC 14?

Khung phân loại 19 lớp bộc lộ sự thiếu logic và khó cập nhật tri thức hiện đại. Khung phân loại thập phân DDC gồm 10 lớp chính (000 - 999) có tính chuẩn hóa toàn cầu, cập nhật liên tục và được Bộ Văn hóa - Thông tin định hướng sử dụng theo Công văn 1598/BVHTT-TV nhằm thúc đẩy hội nhập và chia sẻ thông tin quốc tế.

Tỷ lệ sao chép biên mục từ các cơ sở dữ liệu lớn đạt kết quả như thế nào?

Cán bộ thư viện đạt tỷ lệ sao chép chỉ số phân loại thành công 70% đối với tài liệu ngoại văn thông qua tra cứu mã ISBN trên CSDL của Thư viện Quốc hội Mỹ (trường 050 và 082). Đối với tài liệu tiếng Việt trên CSDL Thư viện Quốc gia Việt Nam, tỷ lệ đạt khoảng 30% do độ trễ cập nhật sách mới.

Cơ cấu vốn tài liệu của Thư viện ĐHSP Hà Nội 2 có đặc điểm gì nổi bật?

Vốn tài liệu gồm 16.668 tên ấn phẩm với tỷ trọng tập trung cao vào các ngành sư phạm nòng cốt: Văn học chiếm 25% (4.218 tên), Chính trị xã hội chiếm 18% (2.998 tên), Toán học chiếm 10% (1.666 tên), cùng 5.671 công trình luận văn, khóa luận phục vụ nghiên cứu chuyên sâu.

Nguyên nhân nào khiến bạn đọc ít tra cứu tài liệu theo ký hiệu phân loại?

Hơn 80% bạn đọc có thói quen tìm theo từ khóa hoặc tên sách vì hình thức này mang tính trực quan nhanh. Ngoài ra, người dùng tin chưa được đào tạo chuyên sâu về cấu trúc phân cấp DDC, đòi hỏi thư viện phải tăng cường hoạt động đào tạo kiến thức thông tin đầu khóa.

Hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác tra cứu tại thư viện được trang bị ra sao?

Thư viện vận hành trụ sở 2.500m2 với 45 máy tính nối mạng LAN/Internet (gồm 6 máy xử lý, 7 máy tra cứu, 25 máy đọc tài nguyên số, 7 máy quản lý) và phòng Đa phương tiện trang bị 30 máy tính chuyên dụng phục vụ khai thác dữ liệu toàn văn.

Kết luận

  • Khẳng định vai trò chiến lược của khung phân loại DDC trong việc chuẩn hóa nguồn tài nguyên 16.668 tên tài liệu và 20.000 biểu ghi.
  • Đánh giá toàn diện mô hình tổ chức kho mở 2.500m2 cùng hệ thống 45 máy tính phục vụ hiệu quả cho 7.728 bạn đọc có thẻ.
  • Xác định rõ khoảng trống trong quy trình phân loại sao chép và thói quen tìm tin chưa tối ưu của người dùng tin.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về chuẩn hóa cẩm nang DDC, đào tạo cán bộ biên mục, nâng cấp OPAC trực tuyến và giáo dục người dùng tin.
  • Thiết lập lộ trình triển khai phần mềm DSpace trong giai đoạn tiếp theo nhằm hoàn thiện hệ sinh thái thông tin số.

Nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Linh là tài liệu tham khảo khoa học và thực tiễn thiết thực dành cho các cơ quan thông tin - thư viện trên cả nước trong lộ trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.