Chương 1 TONG QUAN VE PHAN DOAN ANH Xu ly anh ngay nay da tro thanh mot nganh khoa hoc lon, da co mat trong nhiễu lĩnh vực của cuộc séng. Dieu này chúng ta có thể diễn giải được từ một định nghĩa đơn giản vê ngành khoa học này: Xử lý ảnh là ngành khoa học nghiên cứu các giai đoạn xứ lý thông tin dạng hình ảnh, mà hình ảnh là một trong những dạng thông tin phong phú nhất đối với chúng ta. Bước quan trọng nhất và cũng là khó khăn nhất trong giai đoạn xử lý ảnh là bước phân đoạn ảnh. Phán đoạn là việc phán tách các đối tuong cẩu thành nên ảnh thô từ đó có thể sử dụng cho các ứng dụng sau này.
MOT SO KHAI NIEM VE XU LY ANH 1. Giới thiệu Thế giới kỹ thuật số là kỹ thuật số với sự xuất hiện của nhiều thiết bị được sử dụng trong việc thu nhận hình ảnh. Ngày nay, việc lưu trữ số lượng lớn hình ảnh trở nên dễ dàng bằng cách sử dụng các kỹ thuật xử lý hình ảnh. Việc truy cập nhanh vào các bộ sưu tập hình ảnh không lồ này và truy xuất các hình ảnh tương tự của một hình ảnh nhất định (Truy vấn) từ bộ sưu tập hình ảnh khống lồ này đưa ra những thách thức lớn và đòi hỏi các thuật toán hiệu quả.
Mục tiêu chính của hệ thông được đề xuất là cung cấp một kết quả chính xác với thời gian tính toán thấp hơn. Với mục đích của chúng tôi, chúng tôi giới thiệu trong hệ thống truy xuất hình ảnh dựa trên nội dung (CBIR) bước phân loại và chúng tôi áp dụng kỹ thuật phân cụm k-nghĩa để khớp với các mô tả hình ảnh. Công việc này cung cấp một cái nhìn chỉ tiết về giải pháp mà chúng tôi đã áp dụng và đáp ứng hoàn hảo nhu cầu của chúng tôi. Để xác thực, chúng tôi áp dụng tất cả các kỹ thuật này trên hai cơ sở dữ liệu hình ảnh đề đánh giá hiệu suất của hệ thống của chúng tôi.
Nhiều kỹ thuật xử lý hình ảnh kỹ thuật số, hay xử lý hình ảnh kỹ thuật số như thường được gọi, đã được phát triển vào những năm 1960, tại Phòng thí nghiệm Bell, Phong thi nghiệm Động cơ phản lực, Viện Công nghệ Massachusetts, Đại học Maryland và một vài cơ sở nghiên cứu khác, với ứng dụng cho hình ảnh vệ tinh, chuyên đổi tiêu chuẩn ảnh dây, hình ảnh y tế, điện thoại truyền hình, nhận dạng nhân vật và nâng cao hình ảnh. [3| Mục đích của việc xử lý hình ảnh sớm là để cải thiện chất lượng của hình ảnh. Nó nhằm mục đích cho con người để cải thiện hiệu ứng hình ảnh của con người. Trong xử lý hình ảnh, đầu vào là hình ảnh chất lượng thấp và đầu ra là hình ảnh có chất lượng được cải thiện.
Xử lý hình ảnh phô biến bao gồm nâng cao hình ảnh, phục hồi, mã hóa và nén. Ứng dụng thành công đầu tiên là Phòng thí nghiệm Động cơ phản lực Mỹ (JPL). Họ đã sử dụng các kỹ thuật xử lý hình ảnh như hiệu chỉnh hình học, chuyên đôi màu, loại bỏ nhiễu, v. trên hàng ngàn bức ảnh mặt trăng được gửi bởi Space dò Ranger 7 vào năm 1964, có tính đến vị trí của mặt trời và môi trường của mặt trăng.
Tác động của việc lập bản đồ thành công bản đồ bề mặt của mặt trăng bằng máy tính là một thành công lớn. Sau đó, giai đoạn xử lý hình ảnh phức tạp hơn đã được thực hiện trên gần 100.000 bức ảnh được gửi lại bởi tàu vũ trụ, nhờ đó đã thu được bản đồ địa hình, bản đồ màu và khảm toàn cảnh mặt trăng, đạt được kết quả phi thường và đặt nên móng vững chắc cho con người hạ cánh mặt trăng. Tuy nhiên, chỉ phí xử lý khá cao với thiết bị điện toán thời đó. Điều đó đã thay đôi vào những năm 1970, khi việc xử lý hình ảnh kỹ thuật số tăng sinh khi các máy tính rẻ hơn và phần cứng chuyên dụng trở nên có sẵn.
Điều này dẫn đến 5 hình ảnh được xử lý trong thời gian thực, đối với một số vấn đề chuyên dụng như chuyên đôi tiêu chuẩn truyền hình. Khi các máy tính đa năng trở nên nhanh hơn, chúng bắt đầu đảm nhận vai trò của phần cứng chuyên dụng cho tất cả các hoạt động ngoại trừ máy tính chuyên dụng và chuyên sâu nhất. Với các máy tính nhanh và bộ xử lý tín hiệu có sẵn trong những năm 2000, xử lý hình ảnh kỹ thuật số đã trở thành hình thức xử lý hình ảnh phô biến nhất và thường được sử dụng vì đây không chỉ là phương pháp linh hoạt nhất mà còn rẻ nhất. Các giai đoạn xử lý ảnh Các giai đoạn xử lý ảnh được biết là quá xử lý ảnh đầu vào từ đó đưa ra được kết quả như ý.
Nhằm thu lại kết quả là ảnh “tốt hơn” hoặc một kết luận. Ảnh đầu vào Ảnh đầu ra —\| Xử lý ảnh mm. nẳằẶ_ Kêt luận Hình 1.1: Các giai đoạn xử lý ảnh Trong việc xử lý ảnh, ảnh được xem là tập hợp các điểm ảnh giống như ảnh có n chiêu. Tại một vị trí bất kì nào đó của đối tượng mỗi điểm ảnh được coi như đặc trưng cường độ sáng hay một dấu hiệu nào đó của đối tượng trong không gian và nên nó có thé xem như một hàm n biến P(cl, c2,.
Các giai đoạn xử lý ảnh có thể được mô tả bằng sơ đồ sau: I _ Biéu dién va Ti Phân đoạn ” ne mo ta anh Tién xt ly anh [> CƠ SỞ Ỷ 4 TRITHUC |< Nhận dạng và — Thu nhận > nỘI suy Hình 1.2: Các giai đoạn xử lý ảnh chỉ tiết 1. Thu nhận ảnh: Là công đoạn đầu tiên quan trọng đối với một quá trình xử lý ảnh. Ảnh đầu vào được thu nhận qua các thiết bị là máy quét, camera, sensor, vv. tiếp sau đó các tín hiệu này sẽ được xử lý số hóa.
Một số thông số quan trọng ở bước này là chất lượng màu, dung lượng bộ nhớ độ phân giải, và tốc độ thu nhận ảnh của các thiết bị. Tiền xử lý: là bước mà ảnh sẽ được xử lý về độ tương phản,khử độ lệch, khử nhiễu, khử bóng vv. nhằm làm cho chất lượng ảnh trở nên tốt hơn các bộ lọc sẽ thực hiện việc này. Phân đoạn ảnh: Ảnh sẽ được xử lý phân tích cho ra thành các phần tử có cùng đặc điểm giống nhau dựa vào biên hoặc vùng liên thông — cùng mức xám, độ nhám, màu.
Kết quả của việc này nhằm đưa ra một mô tả khái quát của ảnh thô có cầu tạo từ các phần tử không giống nhau. Với đa số ứng dụng chỉ cần dùng vài đặc trưng nhất định trong khi đó lượng thông tin trong ảnh lại lớn, nên cần tôi giản lượng thông tin quá lớn đó. Quá trình đó là trích chọn đặc tính chủ yêu à phân vùng ảnh. Biểu diễn và mô tả hình ảnh: Phân đoạn ảnh xong sẽ cho ta dữ liệu pixel thô, gồm tập hợp các pixel của khu vực ảnh hoặc chức năng biên của một khu vực ảnh đó.
Với cả hai trường hợp này thì nên chuyển đổi dữ liệu thô sang loại khác phù hợp hơn để giúp máy tính xử lý. Việc đầu tiên khi chuyển đổi là xác định đại diện một khu vực ảnh là khu hoàn chin chứa các pixel của nó hay là một ranh giới. Biếu diễn ranh giới của một khu vực phù hợp cho ứng dụng chủ yếu liên quan đến các đặc điểm ngoài của các đối tượng, chăng hạn như các biến dạng trên ranh giới và các cạnh. Các biểu diễn khu vực phù hợp với các ứng dụng dùng khai thác các thuộc tính bên trong đôi tượng, chăng hạn như hình ảnh hoặc cầu trúc khung xương của nó.
Một phần quan trọng trong việc đôi chuyển đữ liệu hình ảnh thô thành định dạng phù hợp hợn cho việc xử lý là việc lựa chọn ảnh đại diện phù hợp cho khu vực hình ảnh. Ngoài ra ta còn phải có một phương pháp mô tả các dữ liệu sẽ được chuyên đổi để cho các thuộc tính quan tâm được tô sáng và để xử lý chúng dễ dàng hơn. Nhận dạng và nội suy: Đây là bước cuối cùng trong quy trình xử lý ảnh. Nhận dạng hình ảnh có thê được nhìn thấy đơn giản bang cach dan nhãn các đối tượng trong hình ảnh.
Nội suy là quá trình gắn ý nghĩa cho một tập hợp các đối tượng đã biết. Hầu hết các ứng dụng đều chỉ đừng lại ở việc tiền xử lý. Các chức năng như nội suy, nhận dạng hay chỉ xuất hiện trong phân tích hình ảnh tự động, bán tự động, nhận dạng chữ viết tay, trích xuất thông tin tử hình ảnh. Một số khái niệm cơ bản 1.
Điểm ảnh - Pixel Hình ảnh thật là tập hợp hình ảnh liên tục của các giả trị không gian và độ sáng. Nếu muốn xử lý hình ảnh bằng máy tính, hình ảnh cần phải được số hóa. Quá trình số hóa là việc người ta thu lay tín hiệu rời rạc từ tín hiệu liên tục thông qua quá trình lây mẫu và định lượng các thành phần giá trị, về nguyên tắc, hai điểm liên kề sẽ không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Trong quá trình này, ta sử dụng khái niệm Pixel - là yếu tố Ảnh mà chúng ta quen thuộc.
Tập các Pixel sẽ tạo thành một hình ảnh. Mức xám - ŒGray level Việc mã hóa tương ứng cường độ sáng cua ting pixel co giá tri sang gọi là mức xám, là kết quả của lượng tử hóa. Mã hóa thường được sử dụng là 1ó, 32 hoặc 64 cấp độ. Mức 256 là mức phổ biến nhất - mỗi Pixel được mã hóa với 8 bịt.
Biên Đề có thê phân biệt đối tượng này với đối tượng khác ta nhờ vào một tính năng rất quan trọng là Biên. Cạnh của hình ảnh là tập hợp của nhiều điểm biên. Một pixel cũng có thé duoc xem là một ranh ĐIỚI nếu tại đó có sự thay đôi mức độ màu xám đột ngột. Láng giêng Một khái niệm rất quan trọng trong xử lý ảnh là khái niệm lang giéng.
Láng giềng được chia hai loại: 8 lang giéng, 4 lang giéng. - 8 láng giềng của (x,y) la bao gồm láng giềng ngang, dọc và chéo (là một tập cha của 4 láng giêng): N§(Œ.y)) = N4((,y)) © {Œ+1,y+1), (x-1,y-1), (x+1,y-1), %-1,y+1)) - 4 láng giềng của (x,y) là một tập hợp bao gồm láng giềng ngang và dọc của nó: N4(Œ. Vùng hiên thông Nếu hai điểm (xa,yA) và (xs,yp) bất kỳ của R có thể được nối bởi một đường (XA. Diém (x,,y,) duoc cho là kề với điểm (x¿,y¿) nếu (xx,y,) thuộc vào lang giéng trực tiếp của (x,,y,) thi ving R sé được gọi là liên thông.