phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu với 3 chương nội dung, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác BT, HT khi Nhà nước THĐ NN. Chƣơng 2: Thực trạng công tác BT, HT khi Nhà nước THĐ NN trên địa bàn TPTB. Chƣơng 3: Một số giải pháp để thực hiện tốt công tác BT, HT khi Nhà nước THĐ NN trên địa bàn TPTB. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1.
Một số khái niệm Luật đất đai số 45/2013/QH13 được Quốc Hội nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực từ ngày 01/7/2014. Quy định một số khái niệm liên quan đến đất NN, BT, HT khi nhà nước THĐ như sau: 1.1 Đất NN “Là đất đai được sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về NN, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất NN bao gồm đất sản xuất NN, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất NN khác” [2]. “Đất sản xuất NN: Bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm; Đất lâm nghiệp: Bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thuỷ sản; Đất làm muối; Đất NN khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu, thí nghiệm NN, lâm nghiệp, làm muối, thủy sản; xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ GĐ, CN để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất NN” [2].
BT về đất “Là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị THĐ” [2] Ta thấy khái niệm trên chỉ xác định BT về đất, trong khi đó việc THĐ không chỉ gây thiệt hại về đất mà còn là những thiệt hại liên quan đến quyền sử dụng đất, 7 công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi trên đất, thậm chí thiệt hại về sức khỏe do áp lực căng thẳng, lo âu của người sử dụng đất. HT khi Nhà nước THĐ “Là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển” [2] HT là “giúp đỡ” mang tính chính sách, thể hiện việc cộng thêm vào nên không đòi hỏi tính tương xứng như BT như HT về giá đất NN vì khi THĐ NN người nông dân mất đất sản xuất, dẫn đến phải CĐN nghiệp từ NN sang phi NN thì bản chất là đã gây thiệt hại do mất việc làm. HT đảm bảo cho người có đất thu hồi thực sự ổn định sản xuất và cải thiện chất lượng cuộc sống. Giá đất “Là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích [2] theo quy định tại Khoản 19, Điều 3, Luật đất đai 2013.
Xét về mặt tổng quát, giá đất là giá bán, quyền sử dụng đất chính là mệnh giá của quyền sở hữu mảnh đất đó trong không gian và thời gian xác định”. Qua đó, giá đất có thể được hiểu là biểu hiện mặt giá trị của quyền sở hữu đất đai. Nhà nước THĐ “Là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” [2]. Sự cần thiết của công tác BT, HT khi Nhà nƣớc THĐ 1.
Sự cần thiết phải THĐ “- THĐ vì mục đích QP, AN: Phục vụ lực lượng vũ trang nhân dân thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc như làm nơi đóng quân; xây dựng trụ sở làm việc, căn cứ quân sự, công trình phòng thủ quốc gia, trận địa, công trình đặc biệt về QP, AN, công trình công nghiệp khoa học, công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho QP, AN; Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang; làm trường bắn, 8 thao trường, cơ sở đào đạo, trung tâm huấn luyện, nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân…” “- THĐ để phát triển KT - XH vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng để thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư và thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải THĐ như: Xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn HT phát triển chính thức ODA, xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, công trình sự nghiệp, kết cấu hạ tầng cấp quốc gia…; Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải THĐ, gồm: Dự án xây dựng trụ sở cơ quan Nhà nước, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư, TĐC, khu dân cư nông thôn mới, xây dựng đô thị mới… cấp địa phương.” Do vậy, việc THĐ để thực hiện các dự án đầu tư là rất cần thiết. Sự cần thiết phải BT, HT khi Nhà nước THĐ “- Do đất đai là tài sản lớn của quốc gia, của từng hộ GĐ, CN. Đất đai tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng đất. Do vậy, THĐ phải thực hiện BT, HT.
- Đầu tư xây dựng là khâu không thể thiếu trong tiến trình phát triển của xã hội. Mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp việc phải tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại là yếu tố tiên quyết phục vụ mục tiêu đó; Muốn vậy, phải có mặt bằng đất đai để thực hiện. Công tác BT, HT khi Nhà nước THĐ là rất quan trọng để đẩy nhanh công tác xây dựng cơ bản các dự án đầu tư. - Đảm bảo lợi ích hợp pháp của các đối tượng sử dụng đất: vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu thống nhất quản lý; mặt khác đối với mỗi hộ GĐ, CN, tổ chức thì đất đai là tài sản có giá trị.
Vì vậy, việc BT, HT khi Nhà nước THĐ là rất cần thiết, đây là việc làm thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với người có đất bị thu hồi để đảm bảo lợi ích hợp pháp chính đáng của họ, đặc 9 biệt là đối với khu vực nông thôn bởi người dân chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất NN là chủ yếu, vì đất NN là tư liệu sản xuất đặc biệt. Đặc điểm, tính chất và hình thức của việc BT, HT khi Nhà nƣớc THĐ 1. Đặc điểm của việc BT khi Nhà nước THĐ - Về đối tượng BT: Là những chủ thể sử dụng đất như hộ GĐ, CN, tổ chức khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật. - Về phạm vi BT: Chỉ khi Nhà nước THĐ để sử dụng vào các mục đích QP, AN, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển KT - XH, người sử dụng đất mới được BT.
Bên cạnh đó, từng trường hợp cụ thể Nhà nước sẽ thực hiện các chính sách HT cho phù hợp. - Về giá BT: Nhà nước chủ động trong việc xác định giá BT dựa trên các căn cứ khoa học và tôn trọng giá đất trên thị trường trong điều kiện bình thường của thửa đất - Các phương pháp tiến hành: Kết hợp phương pháp hành chính và phương pháp thỏa thuận. Ngoài ra cần sử dụng nhiều phương pháp như phương pháp tuyên truyền, giáo dục thuyết phục và phương pháp kinh tế. Tính chất của việc BT khi Nhà nước THĐ - Tính phức tạp: Đất đai thực sự đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội: “Đất NN tập trung chủ yếu ở các khu vực nông thôn và là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu được trong sản xuất NN.
Đất đai có tính cố định vị rí, không thể di chuyển được, đất đai không giống các hàng hóa khác có thể sản sinh qua quá trình sản xuất, do đó đất đai có giới hạn. Giá trị đất đai ở các vị trí khác nhau lại không giống nhau, đất ở vùng đô thị có giá trị lớn hơn ở vùng nông thôn; đất đai ở những nơi tạo ra nguồn lợi lớn hơn, các điều kiện cơ sở hạ tầng hoàn thiện hơn sẽ có giá trị lớn hơn những đất đai có điều kiện kém hơn”. Chính vì vậy, khi vị trí đất đai, điều kiện đất đai từ chỗ kém thuận lợi nếu các điều kiện xung quanh nó trở nên tốt hơn thì đất có giá trị hơn. Vị rí đất đai hoặc điều kiện đất đai không chỉ tác động đến việc sản xuất, kinh doanh tạo nên lợi thế thương mại cho một công ty, doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đối với một quốc gia.
10 Đất đai là một tài sản không hao mòn theo thời gian và giá trị đất đai luôn có xu hướng tăng lên theo thời gian. - Tính đa dạng: Đất đai có tính đa dạng và phong phú tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất đai và phù hợp với từng vùng, đối với đất đai sử dụng vào mục đích NN thì tính đa dạng phong phú của đất đai do khả năng thích nghi của các loại cây, con quyết định và đất tốt hay xấu xét trong từng loại đất để làm gì. Đất đai là một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con người, con người tác động vào đất đai nhằm thu được sản phẩm để phục vụ cho các nhu cầu cuộc sống. Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ đất đai phong phú hơn rất nhiều, quyền sử dụng đất được trao đổi, mua bán, chuyển nhượng…” Do vậy, khi Nhà nước THĐ để giao cho các dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất được diễn ra trên các khu vực hành chính với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và trình độ dân trí khác nhau và mục đích sử dụng đất sau BT cũng rất khác nhau.