Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phát triển du lịch cộng đồng (DLCĐ) được xác định là một hướng tiếp cận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam, hướng đến mục tiêu tạo sinh kế, cải thiện thu nhập cho cư dân nông thôn gắn liền với bảo tồn các giá trị di sản văn hóa và cảnh quan sinh thái. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tại nhiều địa phương cho thấy sự tham gia của người dân bản địa vào chuỗi giá trị du lịch vẫn còn hạn chế; phần lớn nguồn thu và quyền chủ động khai thác tour tuyến tập trung vào các doanh nghiệp lữ hành bên ngoài.

Làng cổ Phước Tích (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) là ngôi làng cổ thứ hai tại Việt Nam được xếp hạng Di tích quốc gia (năm 2009). Nơi đây lưu giữ hệ thống kiến trúc nhà rường truyền thống đặc sắc, làng nghề gốm cổ truyền từng sản xuất om ngự tiến vua triều Nguyễn và quần thể sinh thái ven sông Ô Lâu. Làng cũng là một trong ba địa bàn thụ hưởng dự án "Hỗ trợ phát huy vai trò của cộng đồng trong phát triển bền vững tại Việt Nam qua du lịch di sản" do Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế triển khai. Mặc dù sở hữu tiềm năng di sản phong phú, thực trạng nhân khẩu học tại làng có tới 70% là người cao tuổi, dẫn đến mức độ tham gia vào các hoạt động dịch vụ du lịch còn thấp, thiếu tính bền vững. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Huỳnh Thị Lệ Hậu đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Vai trò của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Phước Tích, tỉnh Thừa Thiên Huế".

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Mục tiêu tổng quát: Phân tích vai trò và thực trạng tham gia của cộng đồng địa phương đối với sự phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Phước Tích, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao vai trò của người dân trong chuỗi hoạt động DLCĐ thời gian tới.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về DLCĐ và vai trò của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch.
    • Đánh giá thực trạng phát triển DLCĐ và vai trò, mức độ tham gia, nhận thức của người dân tại làng cổ Phước Tích.
    • Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương, thúc đẩy du lịch phát triển tương xứng với tiềm năng di sản.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cộng đồng dân cư tham gia vào hoạt động du lịch tại làng cổ Phước Tích.
  • Phạm vi không gian: Làng cổ Phước Tích, thôn Phước Phú, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2019 - 2021; dữ liệu sơ cấp được tiến hành điều tra, khảo sát thực địa từ tháng 01/2022 đến tháng 02/2022.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các hình thức, mức độ tham gia của cộng đồng, cơ chế chia sẻ lợi ích, nhận thức tác động kinh tế - xã hội - môi trường, nhu cầu và kỳ vọng của người dân địa phương đối với hoạt động du lịch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn mực về du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), định nghĩa du lịch cộng đồng theo Murphy (1985), Đoàn Mạnh Cương (2019) và lý thuyết phát triển du lịch dựa vào cộng đồng của Jafari (2000). Về sự tham gia của người dân, nghiên cứu áp dụng thang đo 7 mức độ tham gia của cộng đồng địa phương theo khung lý thuyết của Pretty (1995), bao gồm:

  1. Tham gia thụ động (Passive Participation).
  2. Tham gia cung cấp thông tin (Participation in Information Giving).
  3. Tham gia tư vấn (Participation by Consultation).
  4. Tham gia trao đổi vật chất/lao động (Participation for Material Incentives).
  5. Tham gia chức năng (Functional Participation).
  6. Tham gia tương tác (Interactive Participation).
  7. Tham gia chủ động / Tự thân vận động (Self-Mobilization).

Về cơ sở thực tiễn, tác giả tổng hợp kinh nghiệm triển khai DLCĐ từ các dự án quốc tế (JICA, SNV, FIDR, IUCN, EU) và các mô hình tiêu biểu tại Việt Nam như Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình), cộng đồng Cơ Tu tại xã Tà Bhing (Nam Giang, Quảng Nam), Sa Pa (Lào Cai), Làng rau Trà Quế (Hội An, Quảng Nam), cùng các mô hình trên địa bàn Thừa Thiên Huế như Thủy Biều, Cầu Ngói Thanh Toàn và Đầm phá Tam Giang (Quảng Điền). Cơ sở pháp lý địa phương được trích dẫn gồm Quyết định số 3334/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật Làng cổ Phước Tích.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra sơ cấp định lượng:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ báo cáo thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, Cục Thống kê tỉnh, UBND xã Phong Hòa và Ban Quản lý Làng cổ Phước Tích.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp và chọn mẫu: Tổng thể cư dân làng cổ gồm $N = 117$ hộ. Tác giả áp dụng công thức xác định cỡ mẫu của Yamane (1967) với mức sai số cho phép $e = 0,1$:

$$n = \frac{N}{1 + N(e)^2} = \frac{117}{1 + 117 \times (0,1)^2} \approx 53,92$$

Do số lượng hộ dân thực tế trực tiếp tham gia phục vụ các dịch vụ du lịch tại làng có hạn, tác giả đã tiến hành phát phiếu khảo sát và thu về 41 bảng hỏi hợp lệ từ các đối tượng dân cư đã tham gia hoạt động du lịch trong giai đoạn tháng 01 - 02/2022. Phương pháp quan sát thực địa được sử dụng song song để đánh giá hạ tầng, thái độ phục vụ và mức độ tương tác với du khách.

  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Dữ liệu điều tra được nhập liệu, tổng hợp và xử lý thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa khung lý luận về du lịch, cộng đồng, du lịch cộng đồng và bản chất của sự phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Tác giả làm rõ nội dung của DLCĐ gồm 6 trụ cột: đảm bảo tính bền vững văn hóa - thiên nhiên, thuộc quyền sở hữu của cộng đồng, giữ lại nguồn thu nhập cho cư dân bản địa, trao quyền cho cộng đồng, nâng cao nhận thức và tăng cường hỗ trợ từ các tổ chức bên ngoài. Vai trò của các bên liên quan được phân định rõ ràng giữa Cơ quan quản lý Nhà nước (hoạch định chính sách, kiểm tra giám sát), Đơn vị tư vấn, Doanh nghiệp lữ hành (kết nối thị trường), Cộng đồng địa phương (chủ thể tài nguyên và vận hành dịch vụ), Khách du lịch (tiêu thụ và phản biện) cùng các Tổ chức quốc tế, phi chính phủ.

Chương này cũng phân tích hai chiều tác động của du lịch lên cộng đồng (kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường) và tổng thuật các bài học kinh nghiệm từ các mô hình DLCĐ điển hình trong nước:

Mô hình DLCĐ Địa bàn Tổ chức hỗ trợ / Quản lý Đặc trưng hoạt động
Bản Lác Mai Châu, Hòa Bình Công ty Du lịch Hòa Bình 24/110 hộ đón khách, lưu trú nhà sàn, biểu diễn nghệ thuật, dệt thổ cẩm.
Cơ Tu (Tà Bhing) Nam Giang, Quảng Nam Tổ chức FIDR & UBND huyện Trải nghiệm múa tâng tung da dá, ẩm thực, dệt cườm Zara.
Sa Pa San Sả Hồ, Lào Cai Tổ chức IUCN & SNV Homestay người Mông, phát triển nghề thổ cẩm, rèn đúc thủ công.
Làng rau Trà Quế Cẩm Hà, Hội An Chính quyền & Công ty Kha Trần Tour "Một ngày làm nông dân", 130 hộ trồng rau sạch trên diện tích 40 ha.
Thủy Biều TP. Huế, TT Huế Hội Nông dân phường Tour nhà vườn, nhà rường cổ, thưởng thức thanh trà (800 hộ/142 ha).
Cầu Ngói Thanh Toàn Hương Thủy, TT Huế UBND xã Thủy Thanh Chợ quê ngày hội, bài chòi, trải nghiệm nông nghiệp (>150 hộ tham gia).
Đầm phá Tam Giang Quảng Điền, TT Huế Địa phương & Lữ hành Tour ngắm bình minh/hoàng hôn, làng bích họa Ngư Mỹ Thạnh, nghề mây tre.

Chương 2: Vai trò của cộng đồng địa phương đối với sự phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Phước Tích

Chương 2 tập trung phân tích điều kiện tài nguyên và thực trạng phát triển du lịch tại Phước Tích. Làng có diện tích khoảng 1 km², tọa lạc tại $16^\circ 38'174''$ vĩ Bắc và $107^\circ 18'717''$ kinh Đông, được bao bọc ba mặt bởi dòng sông Ô Lâu.

Về tài nguyên du lịch:

  • Tài nguyên tự nhiên: Hệ thống cây cổ thụ gồm cây Thị miếu Cây Thị trên 700 năm tuổi, cây Cừa (Si) khoảng 400 năm tuổi, hệ thống vườn cây ăn quả đặc sản (vải trạng, bồ quân, dâu, vả, mít), hàng rào chè tàu xanh mướt bao quanh lối đi. Hồ Hà Trì (hồ Sen) rộng khoảng 2 ha và Cồn Trèng (đồi tích tụ phế phẩm gốm sành) tạo nên cấu trúc phong thủy biểu trưng "nghiên mực - con dấu" của làng.
  • Tài nguyên văn hóa vật thể: 27 ngôi nhà rường cổ 3 gian 2 chái, 10 nhà thờ họ cổ (trong đó 12 nhà rường có giá trị đặc biệt); hệ thống di tích gồm Miếu Bà (miếu Cây Thị), Miếu Đôi (thờ Bổn Nghệ Đào Nghệ và Khai Canh Hoàng Minh Hùng), Đình Phước Tích (đình Trung tái thiết). Nghề gốm truyền thống nổi danh với sản phẩm "om ngự" tiến vua và các đồ gia dụng đất nung (lu, ghè, thạp, bùng binh, tu huýt).
  • Tài nguyên văn hóa phi vật thể: Ẩm thực bánh bột gạo hình chiếc thuyền; các lễ hội thường niên như Lễ Tế Khai Canh - Tổ nghề gốm (mồng 5/11 âm lịch), Lễ Kỳ an (11/6 âm lịch), Lễ Tảo mộ âm hồn tại nghĩa trang Hà Cát (rằm tháng Giêng); trò chơi dân gian như đua ghe sông Ô Lâu, kéo co, bịt mắt đập om, xiếc thìa lia qua đìa Nốt Đoột.
  • Hạ tầng và tiếp cận: Cách TP. Huế 40 km, kết nối qua Quốc lộ 1A và Quốc lộ 49B; tuyến xe buýt số 4 (Bến xe Phía Nam - TT Phong Điền) kết hợp tuyến số 5 (TT Phong Điền - UBND xã Phong Hòa); quảng bá qua website langcoPhuocTich.com và fanpage Phước Tích Heritage.

Chương 2 tổng hợp kết quả điều tra xã hội học từ 41 hộ dân tham gia du lịch qua hệ thống 20 bảng thống kê (từ Bảng 2.1 đến Bảng 2.20), phân tích các khía cạnh:

  • Đặc điểm nhân khẩu học: Tỷ lệ người già chiếm đa số ($70%$), thiếu hụt lao động trẻ trực tiếp tham gia chuỗi dịch vụ.
  • Mức độ tham gia: Đa số cư dân dừng lại ở mức độ 2 (cung cấp thông tin), mức độ 3 (tư vấn) và mức độ 4 (cung cấp dịch vụ bán thời gian như mở cửa nhà rường, làm bánh gạo, biểu diễn làm gốm), chưa tiến lên mức độ 6 (tương tác) và mức độ 7 (tự quản lý chủ động).
  • Đánh giá tác động: Người dân ghi nhận tác động tích cực về mặt kinh tế (tăng thêm thu nhập phụ) và văn hóa (nâng cao ý thức bảo tồn di sản, lòng tự hào quê hương); đồng thời bày tỏ lo ngại về tác động tiêu cực tiềm ẩn như rác thải sinh hoạt, ô nhiễm tiếng ồn và sự xáo trộn nhịp sống yên bình thường nhật.
  • Nhu cầu và mong đợi: Cư dân mong muốn được hỗ trợ đào tạo kỹ năng đón tiếp, ngoại ngữ giao tiếp, tăng cường chia sẻ doanh thu từ vé tham quan và hoàn thiện hạ tầng đường kiệt, chống trơn trượt vào mùa mưa lũ.

Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương trong tham gia phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Phước Tích

Từ các hạn chế được chỉ ra ở Chương 2, Chương 3 xây dựng 5 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng:

  1. Giải pháp về chính sách Nhà nước: Hoàn thiện quy hoạch bảo tồn theo Quyết định 3334/QĐ-UBND, ban hành chính sách hỗ trợ tài chính cho các chủ nhà rường duy tu nhà cổ, đầu tư nâng cấp đồng bộ hạ tầng giao thông liên thôn và các kiệt ngõ bằng vật liệu gạch truyền thống thay cho bê tông hóa.
  2. Giải pháp nâng cao thu nhập của người dân: Thiết lập cơ chế trích quỹ rõ ràng từ doanh thu bán vé tham quan để tái phân phối cho các hộ dân đón khách; liên kết chuỗi sản phẩm gốm lưu niệm, bánh bột gạo và dịch vụ ẩm thực gia đình nhằm kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách.
  3. Giải pháp tăng cường mối quan hệ hợp tác: Xây dựng mô hình liên kết chặt chẽ "4 nhà": Nhà nước (BQL làng cổ, chính quyền xã) - Doanh nghiệp lữ hành - Cộng đồng địa phương - Nhà khoa học/chuyên gia du lịch.
  4. Giải pháp nâng cao nhận thức, trình độ và kỹ năng: Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ thuyết minh tại điểm, kỹ năng giao tiếp đón tiếp khách quốc tế, an toàn vệ sinh thực phẩm và nâng cao tay nghề phục dựng hoa văn gốm cổ cho thế hệ kế cận.
  5. Giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình tham vấn cộng đồng: Tổ chức họp dân định kỳ, bảo đảm tiếng nói và nguyện vọng của cư dân được đưa vào các quyết định phát triển tour tuyến, quy chế quản lý di tích.

Kết quả và đóng góp

Về mặt kết quả định lượng và khảo sát thực tiễn:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa hiện trạng quản trị và tài nguyên tại làng cổ Phước Tích với quy mô 117 hộ dân, xác lập dữ liệu về 27 ngôi nhà rường cổ, 10 nhà thờ họ, các di tích tâm linh và hệ thống cây di sản hàng trăm năm tuổi.
  • Đo lường và phân tích thực trạng tham gia của cộng đồng thông qua mẫu khảo sát 41 hộ phục vụ du lịch; chứng minh rào cản nhân khẩu học lớn nhất hiện nay là tỷ lệ người già cao ($70%$), khiến nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại chỗ bị hạn chế về số lượng và tính thích ứng.
  • Đánh giá được mức độ tham gia thực tế của người dân Phước Tích đang khu biệt ở các bậc thấp đến trung bình (thụ động, cung cấp dịch vụ đơn lẻ) theo thang bậc Pretty (1995), chưa đạt tới mức độ tự vận hành tổ chức du lịch cộng đồng.

Về đóng góp thực tiễn và giải pháp:

  • Đề tài đóng góp góc nhìn thực chứng về mô hình du lịch di sản gắn với nông thôn miền Trung, phản ánh khách quan khoảng cách giữa định hướng chính sách bảo tồn với quyền lợi kinh tế thực tế của cư dân.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp 5 nhóm can thiệp đồng bộ từ thể chế, sinh kế, đào tạo đến cơ chế tham vấn, cung cấp cứ liệu khoa học cho Ban Quản lý Làng cổ Phước Tích và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Phong Điền trong việc lập kế hoạch phát triển du lịch giai đoạn tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu thực tế:

  • Giới hạn cỡ mẫu: Cỡ mẫu khảo sát thực tế dừng lại ở 41 phiếu do số lượng hộ dân trực tiếp tham gia làm dịch vụ du lịch tại làng còn ít; chưa mở rộng điều tra sâu đối với nhóm hộ dân chưa tham gia du lịch để phân tích toàn diện nguyên nhân cản trở.
  • Giới hạn thời gian khảo sát: Quá trình điều tra sơ cấp diễn ra trong thời gian ngắn (tháng 01 - 02/2022), trùng với giai đoạn ngành du lịch vừa phục hồi sau đại dịch COVID-19, do đó chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2019 - 2021 về lượng khách và doanh thu có sự biến động đột biến, chưa phản ánh trạng thái hoạt động ổn định dài hạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Các nghiên cứu tương lai có thể mở rộng đánh giá mức độ sẵn sàng chi trả của khách du lịch đối với sản phẩm gốm và ẩm thực truyền thống Phước Tích, hoặc xây dựng mô hình hồi quy lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ dân khi tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ DLCĐ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Sinh viên, học viên ngành Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Kinh tế Phát triển: Cung cấp phương pháp luận khảo sát xã hội học, cách vận dụng thang đo mức độ tham gia của Pretty (1995) và phương pháp tính mẫu Yamane trong nghiên cứu du lịch nông thôn.
  • Cơ quan quản lý Nhà nước và Ban Quản lý Di tích: Cung cấp bức tranh thực trạng về mối quan hệ giữa bảo tồn di sản kiến trúc nhà rường, làng nghề gốm với bài toán sinh kế cộng đồng tại huyện Phong Điền và tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Doanh nghiệp lữ hành: Tham khảo dữ liệu chi tiết về tài nguyên văn hóa vật thể, phi vật thể, các tuyến tham quan và danh mục sản phẩm đặc trưng của Phước Tích để thiết kế tour trải nghiệm văn hóa phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả sử dụng khung lý thuyết nào để đo lường mức độ tham gia của người dân làng Phước Tích? Tác giả áp dụng khung thang đo 7 mức độ tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch của Pretty (1995), đi từ bậc 1 (Tham gia thụ động) đến bậc 7 (Tham gia chủ động / Tự thân vận động).

2. Cỡ mẫu điều tra sơ cấp trong khóa luận được xác định như thế nào? Từ tổng thể $N = 117$ hộ dân của làng, áp dụng công thức Yamane với sai số $e = 0,1$, cỡ mẫu tính toán lý thuyết là 53,92. Tác giả đã tiến hành khảo sát toàn bộ các hộ dân trực tiếp phục vụ du lịch và thu về 41 bảng hỏi hợp lệ trong đợt điều tra tháng 01 - 02/2022.

3. Yếu tố nhân khẩu học nào tại làng Phước Tích đang gây cản trở lớn nhất đến phát triển DLCĐ? Theo số liệu trong văn bản, khoảng $70%$ dân cư tại làng là người cao tuổi, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lực lượng lao động trẻ có kỹ năng, ngoại ngữ và khả năng đổi mới dịch vụ du lịch.

4. Làng cổ Phước Tích có những tài nguyên văn hóa vật thể và làng nghề đặc trưng nào? Làng sở hữu 27 ngôi nhà rường cổ, 10 nhà thờ họ cổ, Miếu Bà (miếu Cây Thị >700 năm tuổi), Miếu Đôi (thờ Khai Canh và Bổn Nghệ Đào Nghệ) và làng nghề gốm truyền thống từng sản xuất "om ngự" tiến vua triều Nguyễn.

5. Sản phẩm ẩm thực và trò chơi dân gian đặc thù nào của Phước Tích được phân tích trong đề tài? Về ẩm thực có món bánh bột gạo nhân đậu xanh tạo hình chiếc thuyền buôn gốm Ô Lâu. Về trò chơi dân gian có trò "Xiếc thìa lia qua đìa Nốt Đoột", đua ghe, kéo co và bịt mắt đập om đất.

Kết luận

Khóa luận của Huỳnh Thị Lệ Hậu đã hoàn thành việc đánh giá thực trạng và làm rõ vai trò của cộng đồng địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại di tích quốc gia Làng cổ Phước Tích. Công trình khẳng định người dân là chủ thể cốt lõi của không gian di sản nhà rường và làng nghề gốm, song mức độ tham gia hiện nay vẫn còn hạn chế do rào cản già hóa dân số và cơ chế phân phối lợi ích chưa đồng bộ. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính khả thi cao, góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế sinh kế bền vững cho người dân địa phương.