CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Với hơn một nửa dân số, chiếm hơn 48% lực lượng lao động xã hội, phụ nữ Việt Nam có mặt trong mọi lĩnh vực, trên mọi địa bàn và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nhất là lĩnh vực nông nghiệp (Nhân Dân Điện Tử [NDĐT], 2020). Tuy nhiên, phụ nữ ở nông thôn Việt Nam thường chịu nhiều thiệt thòi về cuộc sống từ trong gia đình và cả xã hội xung quanh, họ là những người luôn gánh chịu những định kiến xã hội, những bất công về giới tính ở nhiều lĩnh vực khác nhau và họ chỉ nên là người “Giỏi việc nhà” trong một góc nhìn nào đó của xã hội. Mặc dù bình đẳng giới đã và đang được thực hiện trên phạm vi toàn cầu nhưng trên thực tế vấn đề công bằng trong tiếp cận những nguồn lực tự nhiên đặc biệt là nguồn tài nguyên nước vẫn còn nhiều bất cập trên phạm vi ngoài gia đình, phần lớn cái nhìn của cộng đồng vẫn chưa được cải thiện về sự tham gia vào quản trị nguồn tài nguyên nước của người phụ nữ. Theo Nguyễn Thị Báo (2015), phụ nữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tham gia và quản lý nước tại địa phương mà họ sinh sống nói chung và ở cấp hộ gia đình nói riêng.
Chính bản thân người phụ nữ phải là lực lượng giữ vai trò quan trọng, tiên phong được tham gia thảo luận, đề xuất ý kiến trong các dự án nước. Việc quản lý tài nguyên nước thường được coi là có tính kỹ thuật cao và do nam giới thống trị. Khi nói đến quản lý tài nguyên nước, ở bất kỳ cấp độ nào (địa phương, quốc gia, khu vực hay toàn cầu), trên thực tế cho thấy sự thiếu đại diện về tiếng nói và quyền lực tương tự như nam giới của phụ nữ trong việc đưa ra quan điểm và ra quyết định đặc biệt là ở vùng nông thôn (Delfau & Yeophantong, 2020). Nguyên tắc 3 của nguyên tắc Dublin1 thể hiện rằng phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý và bảo vệ nguồn nước.
Có một thực tế là trong số cộng đồng, do đặc điểm của nền văn hóa mà vị trí người phụ nữ thường bị xem nhẹ, điều đó dẫn đến sự tham gia của phụ nữ trong quản lý nước thường bị bỏ qua hoặc gây khó khăn. Nguyên tắc 3 đã nhấn mạnh lại vai trò của phụ nữ và chỉ rõ cần phải có những cơ chế thích hợp để nâng cao khả năng tiếp cận của phụ nữ tới quá trình ra quyết định, mở rộng những phạm vi mà qua đó người phụ nữ có thể tham gia vào quản lý nguồn nước (Lê Xuân Định và cộng sự, 2015). 1 Nguyên tắc Dublin là kết quả của Hội nghị về Nước và Môi trường năm 1992 tại Dublin. 1 Trong quá trình thực địa, nhóm nhận thấy rằng trên thực tế xã An Phú có kênh Vĩnh Tế chảy xuyên qua xã nhưng hiện trạng sản xuất nông nghiệp tại đây còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là tình trạng thiếu nước trong sản xuất nông nghiệp.
Trong những năm gần đây, lượng nước từ mùa lũ ít dần và thời gian lũ bị rút ngắn nên không cung cấp đủ lượng nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp của người dân tại đây. Tuy nhiên vấn đề cung cấp nước vẫn là chưa đủ mà cần phải có sự quản lý nguồn tài nguyên nước một cách hợp lý và công bằng cho tất cả người dân tại đây. Phụ nữ luôn hạn chế trong tham gia vào quản lý nguồn tài nguyên nước tại nơi mà họ sinh sống. Xuất phát từ thực trạng trên đề tài “Công bằng giới trong tiếp cận và quản lý nguồn tài nguyên nước tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang” được thực hiện nhằm tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước.1 Mục tiêu chung Tìm hiểu công bằng giới trong quản lý nguồn tài nguyên nước tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.2 Mục tiêu cụ thể Khảo sát hiện trạng tài nguyên nước tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước tại địa bàn. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Các nguồn tài nguyên nước có tại địa bàn xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang? Người phụ nữ có vai trò như thế nào trong quá trình ra quyết định đối với nguồn tài nguyên nước? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc ra quyết định và quản lý nguồn tài nguyên nước của phụ nữ? 2 1.4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 1.1 Giới hạn nội dung Đề tài tập trung vào khảo sát và phân tích yếu tố công bằng giới trong quá trình tiếp cận, ra quyết định và quản lý nguồn tài nguyên nước của phụ nữ tại địa bàn xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.2 Giới hạn không gian Đề tài được thực hiện ở xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.3 Giới hạn thời gian Đề tài được thực hiện từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 05 năm 2021 3 CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2.1 Vị trí địa lý xã An Phú Xã An Phú (địa bàn nghiên cứu) Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Tịnh Biên (Nguồn: Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên, 2016) 4 Xã An Phú thuộc huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang là một xã biên giới, miền núi, dân tộc và tôn giáo. Phía đông bắc giáp xã Nhơn Hưng; phía Nam giáp xã An Cư, Văn Giáo; phía Tây bắc giáp Vương quốc Campuchia; phía Đông giáp thị trấn Nhà Bàng; phía Tây Nam giáp xã Xuân Tô (Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên, 2020).564 km2 gồm 4 ấp: Phú Tâm, Phú Nhất, Phú Hiệp và Phú Hòa với tổng dân số là 8.147 người trong đó số nam giới 4.094 người chiếm 50,25%, số nữ giới là 4.053 người chiếm 49,75% và có mật độ dân số là 378 người/km2 (Phòng thống kê huyện Tịnh Biên, 2019).2 Điều kiện tự nhiên Theo cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên (Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên, k.n) thì vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của huyện Tịnh Biên nói chung và xã An Phú nói riêng như sau: 2.1 Khí hậu Huyện Tịnh Biên nằm trong vùng có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, có nền nhiệt cao và ổn định, lượng mưa nhiều và phân bố theo mùa 2.2 Chế độ mưa Tổng số ngày mưa nhiều trung bình trong khoảng 128 ngày với lượng mưa bình quân 1.478 mm nhưng phân bố không đều, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 với lượng mưa chiếm khoảng 90% so với tổng lượng mưa cả năm.
Các tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7 – 8 – 9 ( lượng mưa chiếm hơn 1/3 tổng lượng mưa cả năm). Mùa mưa thường trùng với mùa nước nổi hằng năm nên khu vực đồng bằng của huyện thường bị ngập lụt Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 kéo dài đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chiếm khoảng 10% so với tổng lượng mưa của năm. Các tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1 – 2 – 3 với lượng mưa chiếm khoảng 1% ( hầu như không có mưa). Đây là đặc điểm điển hình cho tính khô hạn của vùng ĐBSCL.3 Chế độ nắng Tổng số giờ nắng bình quân hàng năm tương đối cao với 2.
Số giờ nắng thấp nhất của tháng là 153 giờ (thường vào tháng 9), số giờ nắng cao nhất của tháng là 283 giờ (thường vào tháng 3). Mùa khô có số giờ nắng trung bình 8 giờ/ngày, mùa mưa có số giờ nắng trung bình 6 giờ/ngày.4 Nguồn tài nguyên nước Tài nguyên nước của huyện bao gồm nguồn nước mưa, nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm: Nguồn nước mưa: Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm với lượng mưa rất cao, chiếm trên 90% tổng lượng mưa của năm. Đối với một huyện miền núi như Tịnh Biên, nguồn nước mưa có ý nghĩa rất quan trọng, là nguồn nước cung cấp chủ yếu cho sinh hoạt hàng ngày của người dân sinh sống ở vùng cao. Đồng thời mùa mưa cũng là thời điểm canh tác của đất ruộng trên và nương rẫy thuộc vùng đồi núi, các vùng không có nguồn nước tưới và là nguồn cung cấp cho các hồ chứa trên địa bàn toàn huyện.
Tuy nhiên nguồn tài nguyên này rất khó kiểm soát, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết hàng năm. Nguồn nước mặt: Tài nguyên nước mặt của huyện được cung cấp từ các kênh cấp I trên địa bàn và các hồ chứa nước trên núi. Chất lượng nguồn nước mặt chưa cao, tuy nhiên có thể phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt (qua xử lý). Vào mùa khô lượng nước ở các tuyến kênh cấp II, cấp III và kênh mương nội đồng xuống thấp (khoảng tháng 3 hàng năm) gây tình trạng thiếu nước, cần quan tâm nạo vét thường xuyên nhằm đảm bảo đủ nước cho sản xuất của người dân khu vực này.
Nguồn nước mặt cung cấp cho nhân dân sống ở khu vực đồi núi chủ yếu từ các hồ chứa nước trên núi. Toàn huyện có 03 hồ chứa nước lớn là hồ Thanh Long, hồ Thủy Liêm, hồ Ô Tức Sa với dung tích ước khoảng 650. Ngoài ý nghĩa cung cấp nước sử dụng cho nhân dân vùng núi, nguồn tài nguyên này còn có tiềm năng phát triển du lịch khá lớn. Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm có ý nghĩa rất quan trọng đối với cư dân sinh sống vùng núi.
Qua kết quả khảo sát chất lượng nước ngầm tại huyện Tịnh Biên theo Báo cáo quan trắc hiện trạng môi trường tỉnh An Giang năm 2010 cho thấy: Đã xuất hiện một vài vị trí có Coliforms vượt đến 31 lần so với giới hạn cho phép. Nồng độ NH4+ cũng vượt giới hạn đến 14 lần. Tuy nhiên, ở các thông số còn lại đều nằm trong giới hạn cho phép theo qui chuẩn và có xu hướng giảm so với các năm trước. Về cơ bản, nguồn nước ngầm có chất lượng khá tốt, có thể phục vụ cho đời sống sinh hoạt.3 Tình hình kinh tế xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang Địa bàn huyện Tịnh Biên có thổ nhưỡng đặc thù phù hợp cho sản xuất nông nghiệp nên Phòng NN & PTNT đã đề ra các kế hoạch để phát triển nông nghiệp của vùng.