Công bằng giới trong tiếp cận và quản lý nguồn tài nguyên nước tại xã an phú huyện tịnh biên tỉnh an giang

Chuyên khảo phân tích Công bằng giới trong tiếp cận và quản lý nguồn tài nguyên nước tại xã an phú huyện tịnh biên tỉnh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại Học An Giang

Chuyên ngành

Phát Triển Nông Thôn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

2021

63
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM LƯỢC

LỜI CAM KẾT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.2. Mục tiêu chung

1.3. Mục tiêu cụ thể

1.4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.5. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

1.5.1. Giới hạn nội dung

1.5.2. Giới hạn không gian

1.5.3. Giới hạn thời gian

2. CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1. Vị trí địa lý xã An Phú

2.1.2. Điều kiện tự nhiên

2.1.2.1. Khí hậu
2.1.2.2. Chế độ mưa
2.1.2.3. Chế độ nắng

2.1.3. Nguồn tài nguyên nước

2.1.4. Tình hình kinh tế xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang

2.2. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

2.2.1. Khái niệm

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. THU THẬP SỐ LIỆU THỨ CẤP

3.2. THU THẬP SỐ LIỆU SƠ CẤP

3.2.1. Phỏng vấn người am hiểu (Key Informant Panels - KIP)

3.2.2. Thảo luận nhóm tập trung

3.2.3. Phỏng vấn sâu (In-depth Interview)

3.2.4. Quan sát trực tiếp

3.3. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1. THỰC TRẠNG NGUỒN TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TẠI BỜ BẮC VÀ BỜ NAM XÃ AN PHÚ, HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

4.1.1. Bờ Bắc kênh Vĩnh Tế

4.1.2. Bờ Nam kênh Vĩnh Tế

4.2. VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH ĐỐI VỚI VIỆC QUẢN LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN NƯỚC

4.2.1. Sự tham gia của nam và nữ trong sản xuất nông nghiệp

4.2.2. Sự tham gia của phụ nữ vào quá trình ra quyết định trong hệ thống cấp nước tại địa phương

4.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH VÀ QUẢN LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN NƯỚC CỦA PHỤ NỮ

4.3.1. Yếu tố kinh tế

4.3.2. Yếu tố văn hóa – xã hội

4.3.3. Yếu tố chủ quan

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: BẢNG HỎI PHỎNG VẤN CÁN BỘ ĐỊA PHƯƠNG

PHỤ LỤC 2: BẢNG HỎI THẢO LUẬN NHÓM

PHỤ LỤC 3: BẢNG HỎI PHỎNG VẤN SÂU

PHỤ LỤC 4: DANH SÁCH HÌNH ẢNH THỰC TẾ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Công Bằng Giới Trong Quản Lý Nước

Việt Nam, với hơn một nửa dân số là phụ nữ, ghi nhận sự đóng góp to lớn của họ trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp. Tuy nhiên, phụ nữ nông thôn thường đối mặt với nhiều thiệt thòi và định kiến về giới. Mặc dù bình đẳng giới đã được thúc đẩy trên toàn cầu, nhưng sự công bằng trong tiếp cận và quản lý tài nguyên nước vẫn còn nhiều bất cập. Quản lý tài nguyên nước thường được xem là lĩnh vực kỹ thuật cao do nam giới thống trị, dẫn đến sự thiếu đại diện của phụ nữ trong quá trình ra quyết định. Nguyên tắc Dublin nhấn mạnh vai trò trung tâm của phụ nữ trong việc cung cấp, quản lý và bảo vệ nguồn nước, đồng thời kêu gọi các cơ chế thích hợp để nâng cao khả năng tiếp cận của phụ nữ tới quá trình ra quyết định liên quan đến tài nguyên nước.

1.1. Tầm quan trọng của vai trò của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước

Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài nguyên nước ở cấp hộ gia đình và cộng đồng. Họ thường là người chịu trách nhiệm chính trong việc sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Do đó, việc đảm bảo sự tham gia của phụ nữ trong quá trình ra quyết định về quản lý tài nguyên nước là rất quan trọng để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của các giải pháp. Theo Nguyễn Thị Báo (2015), phụ nữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tham gia và quản lý nước tại địa phương mà họ sinh sống nói chung và ở cấp hộ gia đình nói riêng.

1.2. Thực trạng tiếp cận nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng thiếu nước ngọt ngày càng trở nên nghiêm trọng do tác động của biến đổi khí hậu và các hoạt động khai thác tài nguyên nước ở thượng nguồn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân, đặc biệt là phụ nữ, những người phụ thuộc nhiều vào tài nguyên nước cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác. Cần có những giải pháp để đảm bảo tiếp cận nguồn nước công bằng cho tất cả mọi người, đặc biệt là các nhóm yếu thế như phụ nữ và người nghèo.

II. Thách Thức Công Bằng Giới Quản Lý Nước Tại An Phú

Tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, kênh Vĩnh Tế chảy qua địa bàn, nhưng tình trạng thiếu nước trong sản xuất nông nghiệp vẫn là một vấn đề nan giải. Lượng nước từ mùa lũ ngày càng ít và thời gian lũ rút ngắn, gây khó khăn cho việc cung cấp đủ nước cho sản xuất. Vấn đề không chỉ là cung cấp nước mà còn là quản lý tài nguyên nước một cách hợp lý và công bằng cho tất cả người dân. Sự tham gia của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước còn hạn chế, xuất phát từ những định kiến xã hội và yếu tố kinh tế.

2.1. Tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của phụ nữ

Biến đổi khí hậu gây ra những tác động tiêu cực đến tài nguyên nước, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của phụ nữAn Phú. Hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn gia tăng và lũ lụt bất thường làm giảm năng suất cây trồng, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng đến thu nhập của phụ nữ. Cần có những giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu để bảo vệ sinh kế của phụ nữ và đảm bảo an ninh lương thực cho cộng đồng.

2.2. Rào cản văn hóa xã hội đối với sự tham gia của phụ nữ

Những rào cản văn hóa xã hội như định kiến về vai trò giới, gánh nặng công việc gia đình và thiếu sự hỗ trợ từ cộng đồng khiến phụ nữ gặp khó khăn trong việc tham gia vào các hoạt động quản lý tài nguyên nước. Cần có những chương trình nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và tạo điều kiện để phụ nữ có thể tham gia đầy đủ và hiệu quả vào quá trình ra quyết định về tài nguyên nước.

III. Nâng Cao Năng Lực Cho Phụ Nữ Quản Lý Nguồn Nước

Để thu hẹp khoảng cách và nâng cao vai trò của phụ nữ trong quản trị tài nguyên nước tại xã An Phú, cần có những giải pháp đồng bộ. Các giải pháp này bao gồm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động quản lý tài nguyên nước, và tạo điều kiện để phụ nữ tiếp cận các nguồn lực và thông tin cần thiết. Việc nâng cao năng lực cho phụ nữ là yếu tố then chốt để đảm bảo sự thành công của các giải pháp này.

3.1. Giáo dục về nước và nâng cao nhận thức cộng đồng

Giáo dục về nướcnâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của tài nguyên nước và vai trò của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước là rất quan trọng. Các chương trình giáo dục về nước cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm văn hóa và trình độ dân trí của người dân địa phương, đồng thời chú trọng đến việc truyền tải thông điệp về bình đẳng giới.

3.2. Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và đối thoại chính sách

Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ, vào quá trình ra quyết định về tài nguyên nước là rất quan trọng. Cần tạo ra các diễn đàn để người dân có thể bày tỏ ý kiến và đóng góp vào việc xây dựng các chính sách và chương trình quản lý tài nguyên nước. Đối thoại chính sách giữa các bên liên quan cũng cần được tăng cường để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

IV. Giải Pháp Công Bằng Giới Quản Lý Nước Bền Vững

Để đảm bảo quản lý tài nguyên nước bền vữngcông bằng giới tại An Phú, cần có những giải pháp cụ thể và thiết thực. Các giải pháp này bao gồm cải thiện cơ sở hạ tầng nước, áp dụng công nghệ xử lý nước tiên tiến, và thúc đẩy sử dụng nước tiết kiệm. Đồng thời, cần có những chính sách hỗ trợ phụ nữ tiếp cận các nguồn lực và thông tin cần thiết để tham gia vào quá trình quản lý tài nguyên nước.

4.1. Cải thiện cơ sở hạ tầng nước và công nghệ xử lý nước

Cải thiện cơ sở hạ tầng nước như hệ thống kênh mương, trạm bơm và hồ chứa là rất quan trọng để đảm bảo cung cấp nước ổn định cho sản xuất và sinh hoạt. Áp dụng công nghệ xử lý nước tiên tiến giúp cải thiện chất lượng nước và giảm thiểu ô nhiễm. Cần có những đầu tư thích đáng vào cơ sở hạ tầng nướccông nghệ xử lý nước để đảm bảo quản lý tài nguyên nước bền vững.

4.2. Thúc đẩy sử dụng nước tiết kiệm và quản lý rủi ro thiên tai

Thúc đẩy sử dụng nước tiết kiệm trong sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt giúp giảm áp lực lên tài nguyên nước. Quản lý rủi ro thiên tai liên quan đến nước như hạn hán, lũ lụt và xâm nhập mặn là rất quan trọng để bảo vệ sinh kế của phụ nữ và cộng đồng. Cần có những biện pháp phòng ngừa và ứng phó hiệu quả với các rủi ro thiên tai để đảm bảo quản lý tài nguyên nước bền vững.

V. Nghiên Cứu Trường Hợp Vai Trò Phụ Nữ Tại An Phú

Nghiên cứu trường hợp tại xã An Phú cho thấy sự tham gia của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước còn hạn chế do nhiều yếu tố. Tuy nhiên, phụ nữ có vai trò quan trọng trong việc sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc nâng cao năng lực cho phụ nữ và tạo điều kiện để họ tham gia vào quá trình ra quyết định có thể mang lại những kết quả tích cực trong việc quản lý tài nguyên nước bền vững.

5.1. Phân tích yếu tố cản trở sự tham gia của phụ nữ

Phân tích yếu tố cản trở sự tham gia của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước tại An Phú cho thấy những rào cản về văn hóa xã hội, kinh tế và chủ quan. Định kiến về vai trò giới, gánh nặng công việc gia đình và thiếu sự hỗ trợ từ cộng đồng khiến phụ nữ gặp khó khăn trong việc tham gia vào các hoạt động quản lý tài nguyên nước.

5.2. Đề xuất khuyến nghị chính sách và thực tiễn tốt

Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất khuyến nghị chính sáchthực tiễn tốt để nâng cao năng lực cho phụ nữ và tạo điều kiện để họ tham gia đầy đủ và hiệu quả vào quá trình quản lý tài nguyên nước. Các khuyến nghị chính sách bao gồm tăng cường giáo dục về nước, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và cải thiện cơ sở hạ tầng nước.

VI. Tương Lai Công Bằng Giới Quản Lý Nước Tại An Giang

Để đạt được công bằng giới trong quản lý tài nguyên nước tại An Giang, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan, bao gồm chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng. Việc xây dựng khung pháp lý rõ ràng và tăng cường giám sát và đánh giá là rất quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Đồng thời, cần có những tài chính cho bình đẳng giới để hỗ trợ các hoạt động nâng cao năng lực cho phụ nữ và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng.

6.1. Xây dựng khung pháp lý và tăng cường giám sát và đánh giá

Xây dựng khung pháp lý rõ ràng về bình đẳng giới trong quản lý tài nguyên nước là rất quan trọng để đảm bảo quyền lợi của phụ nữ. Tăng cường giám sát và đánh giá các chương trình và chính sách liên quan đến tài nguyên nước giúp đảm bảo tính hiệu quả và công bằng.

6.2. Huy động tài chính cho bình đẳng giới và hợp tác xã hội

Huy động tài chính cho bình đẳng giới từ các nguồn khác nhau giúp hỗ trợ các hoạt động nâng cao năng lực cho phụ nữ và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng. Hợp tác xã hội giữa các bên liên quan giúp tạo ra những giải pháp sáng tạo và bền vững cho việc quản lý tài nguyên nước.

06/06/2025
Công bằng giới trong tiếp cận và quản lý nguồn tài nguyên nước tại xã an phú huyện tịnh biên tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Với hơn một nửa dân số, chiếm hơn 48% lực lượng lao động xã hội, phụ nữ Việt Nam có mặt trong mọi lĩnh vực, trên mọi địa bàn và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nhất là lĩnh vực nông nghiệp (Nhân Dân Điện Tử [NDĐT], 2020). Tuy nhiên, phụ nữ ở nông thôn Việt Nam thường chịu nhiều thiệt thòi về cuộc sống từ trong gia đình và cả xã hội xung quanh, họ là những người luôn gánh chịu những định kiến xã hội, những bất công về giới tính ở nhiều lĩnh vực khác nhau và họ chỉ nên là người “Giỏi việc nhà” trong một góc nhìn nào đó của xã hội. Mặc dù bình đẳng giới đã và đang được thực hiện trên phạm vi toàn cầu nhưng trên thực tế vấn đề công bằng trong tiếp cận những nguồn lực tự nhiên đặc biệt là nguồn tài nguyên nước vẫn còn nhiều bất cập trên phạm vi ngoài gia đình, phần lớn cái nhìn của cộng đồng vẫn chưa được cải thiện về sự tham gia vào quản trị nguồn tài nguyên nước của người phụ nữ. Theo Nguyễn Thị Báo (2015), phụ nữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tham gia và quản lý nước tại địa phương mà họ sinh sống nói chung và ở cấp hộ gia đình nói riêng.

Chính bản thân người phụ nữ phải là lực lượng giữ vai trò quan trọng, tiên phong được tham gia thảo luận, đề xuất ý kiến trong các dự án nước. Việc quản lý tài nguyên nước thường được coi là có tính kỹ thuật cao và do nam giới thống trị. Khi nói đến quản lý tài nguyên nước, ở bất kỳ cấp độ nào (địa phương, quốc gia, khu vực hay toàn cầu), trên thực tế cho thấy sự thiếu đại diện về tiếng nói và quyền lực tương tự như nam giới của phụ nữ trong việc đưa ra quan điểm và ra quyết định đặc biệt là ở vùng nông thôn (Delfau & Yeophantong, 2020). Nguyên tắc 3 của nguyên tắc Dublin1 thể hiện rằng phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý và bảo vệ nguồn nước.

Có một thực tế là trong số cộng đồng, do đặc điểm của nền văn hóa mà vị trí người phụ nữ thường bị xem nhẹ, điều đó dẫn đến sự tham gia của phụ nữ trong quản lý nước thường bị bỏ qua hoặc gây khó khăn. Nguyên tắc 3 đã nhấn mạnh lại vai trò của phụ nữ và chỉ rõ cần phải có những cơ chế thích hợp để nâng cao khả năng tiếp cận của phụ nữ tới quá trình ra quyết định, mở rộng những phạm vi mà qua đó người phụ nữ có thể tham gia vào quản lý nguồn nước (Lê Xuân Định và cộng sự, 2015). 1 Nguyên tắc Dublin là kết quả của Hội nghị về Nước và Môi trường năm 1992 tại Dublin. 1 Trong quá trình thực địa, nhóm nhận thấy rằng trên thực tế xã An Phú có kênh Vĩnh Tế chảy xuyên qua xã nhưng hiện trạng sản xuất nông nghiệp tại đây còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là tình trạng thiếu nước trong sản xuất nông nghiệp.

Trong những năm gần đây, lượng nước từ mùa lũ ít dần và thời gian lũ bị rút ngắn nên không cung cấp đủ lượng nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp của người dân tại đây. Tuy nhiên vấn đề cung cấp nước vẫn là chưa đủ mà cần phải có sự quản lý nguồn tài nguyên nước một cách hợp lý và công bằng cho tất cả người dân tại đây. Phụ nữ luôn hạn chế trong tham gia vào quản lý nguồn tài nguyên nước tại nơi mà họ sinh sống. Xuất phát từ thực trạng trên đề tài “Công bằng giới trong tiếp cận và quản lý nguồn tài nguyên nước tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang” được thực hiện nhằm tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước.1 Mục tiêu chung Tìm hiểu công bằng giới trong quản lý nguồn tài nguyên nước tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.2 Mục tiêu cụ thể Khảo sát hiện trạng tài nguyên nước tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước tại địa bàn. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Các nguồn tài nguyên nước có tại địa bàn xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang? Người phụ nữ có vai trò như thế nào trong quá trình ra quyết định đối với nguồn tài nguyên nước? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc ra quyết định và quản lý nguồn tài nguyên nước của phụ nữ? 2 1.4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 1.1 Giới hạn nội dung Đề tài tập trung vào khảo sát và phân tích yếu tố công bằng giới trong quá trình tiếp cận, ra quyết định và quản lý nguồn tài nguyên nước của phụ nữ tại địa bàn xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.2 Giới hạn không gian Đề tài được thực hiện ở xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.3 Giới hạn thời gian Đề tài được thực hiện từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 05 năm 2021 3 CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2.1 Vị trí địa lý xã An Phú Xã An Phú (địa bàn nghiên cứu) Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Tịnh Biên (Nguồn: Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên, 2016) 4 Xã An Phú thuộc huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang là một xã biên giới, miền núi, dân tộc và tôn giáo. Phía đông bắc giáp xã Nhơn Hưng; phía Nam giáp xã An Cư, Văn Giáo; phía Tây bắc giáp Vương quốc Campuchia; phía Đông giáp thị trấn Nhà Bàng; phía Tây Nam giáp xã Xuân Tô (Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên, 2020).564 km2 gồm 4 ấp: Phú Tâm, Phú Nhất, Phú Hiệp và Phú Hòa với tổng dân số là 8.147 người trong đó số nam giới 4.094 người chiếm 50,25%, số nữ giới là 4.053 người chiếm 49,75% và có mật độ dân số là 378 người/km2 (Phòng thống kê huyện Tịnh Biên, 2019).2 Điều kiện tự nhiên Theo cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên (Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên, k.n) thì vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của huyện Tịnh Biên nói chung và xã An Phú nói riêng như sau: 2.1 Khí hậu Huyện Tịnh Biên nằm trong vùng có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, có nền nhiệt cao và ổn định, lượng mưa nhiều và phân bố theo mùa 2.2 Chế độ mưa Tổng số ngày mưa nhiều trung bình trong khoảng 128 ngày với lượng mưa bình quân 1.478 mm nhưng phân bố không đều, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 với lượng mưa chiếm khoảng 90% so với tổng lượng mưa cả năm.

Các tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7 – 8 – 9 ( lượng mưa chiếm hơn 1/3 tổng lượng mưa cả năm). Mùa mưa thường trùng với mùa nước nổi hằng năm nên khu vực đồng bằng của huyện thường bị ngập lụt Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 kéo dài đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chiếm khoảng 10% so với tổng lượng mưa của năm. Các tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1 – 2 – 3 với lượng mưa chiếm khoảng 1% ( hầu như không có mưa). Đây là đặc điểm điển hình cho tính khô hạn của vùng ĐBSCL.3 Chế độ nắng Tổng số giờ nắng bình quân hàng năm tương đối cao với 2.

Số giờ nắng thấp nhất của tháng là 153 giờ (thường vào tháng 9), số giờ nắng cao nhất của tháng là 283 giờ (thường vào tháng 3). Mùa khô có số giờ nắng trung bình 8 giờ/ngày, mùa mưa có số giờ nắng trung bình 6 giờ/ngày.4 Nguồn tài nguyên nước Tài nguyên nước của huyện bao gồm nguồn nước mưa, nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm: Nguồn nước mưa: Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm với lượng mưa rất cao, chiếm trên 90% tổng lượng mưa của năm. Đối với một huyện miền núi như Tịnh Biên, nguồn nước mưa có ý nghĩa rất quan trọng, là nguồn nước cung cấp chủ yếu cho sinh hoạt hàng ngày của người dân sinh sống ở vùng cao. Đồng thời mùa mưa cũng là thời điểm canh tác của đất ruộng trên và nương rẫy thuộc vùng đồi núi, các vùng không có nguồn nước tưới và là nguồn cung cấp cho các hồ chứa trên địa bàn toàn huyện.

Tuy nhiên nguồn tài nguyên này rất khó kiểm soát, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết hàng năm. Nguồn nước mặt: Tài nguyên nước mặt của huyện được cung cấp từ các kênh cấp I trên địa bàn và các hồ chứa nước trên núi. Chất lượng nguồn nước mặt chưa cao, tuy nhiên có thể phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt (qua xử lý). Vào mùa khô lượng nước ở các tuyến kênh cấp II, cấp III và kênh mương nội đồng xuống thấp (khoảng tháng 3 hàng năm) gây tình trạng thiếu nước, cần quan tâm nạo vét thường xuyên nhằm đảm bảo đủ nước cho sản xuất của người dân khu vực này.

Nguồn nước mặt cung cấp cho nhân dân sống ở khu vực đồi núi chủ yếu từ các hồ chứa nước trên núi. Toàn huyện có 03 hồ chứa nước lớn là hồ Thanh Long, hồ Thủy Liêm, hồ Ô Tức Sa với dung tích ước khoảng 650. Ngoài ý nghĩa cung cấp nước sử dụng cho nhân dân vùng núi, nguồn tài nguyên này còn có tiềm năng phát triển du lịch khá lớn. Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm có ý nghĩa rất quan trọng đối với cư dân sinh sống vùng núi.

Qua kết quả khảo sát chất lượng nước ngầm tại huyện Tịnh Biên theo Báo cáo quan trắc hiện trạng môi trường tỉnh An Giang năm 2010 cho thấy: Đã xuất hiện một vài vị trí có Coliforms vượt đến 31 lần so với giới hạn cho phép. Nồng độ NH4+ cũng vượt giới hạn đến 14 lần. Tuy nhiên, ở các thông số còn lại đều nằm trong giới hạn cho phép theo qui chuẩn và có xu hướng giảm so với các năm trước. Về cơ bản, nguồn nước ngầm có chất lượng khá tốt, có thể phục vụ cho đời sống sinh hoạt.3 Tình hình kinh tế xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang Địa bàn huyện Tịnh Biên có thổ nhưỡng đặc thù phù hợp cho sản xuất nông nghiệp nên Phòng NN & PTNT đã đề ra các kế hoạch để phát triển nông nghiệp của vùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ