Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tại khu vực nông thôn Việt Nam, phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số và đóng góp hơn 48% lực lượng lao động xã hội, giữ vai trò thiết yếu trong sản xuất nông nghiệp cũng như duy trì sinh hoạt gia đình. Tuy nhiên, quản lý tài nguyên nước từ lâu thường bị xem là lĩnh vực kỹ thuật mang tính chất do nam giới đảm nhiệm và chi phối. Thực tế tại các cấp cơ sở cho thấy tiếng nói và quyền lực của phụ nữ trong việc tham gia thảo luận và ra quyết định đối với các công trình thủy lợi, nguồn nước tưới tiêu vẫn còn bị hạn chế do nhiều rào cản về định kiến xã hội.

Xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang là một địa bàn biên giới, miền núi, có đông đồng bào dân tộc Khmer cùng sinh sống. Mặc dù có tuyến kênh Vĩnh Tế chảy qua, địa phương lại đối mặt với tình trạng thiếu nước canh tác nghiêm trọng trong mùa khô. Biến đổi khí hậu làm mùa lũ về trễ và rút ngắn (thời gian ngập lũ trước năm 2000 kéo dài khoảng 4 tháng, đến năm 2020 chỉ còn hơn 15 ngày), dẫn đến nguồn lợi thủy sản suy giảm đến 90% và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân hai bờ kênh. Trong bối cảnh đó, chuyên đề tốt nghiệp ngành Phát triển nông thôn của nhóm tác giả Lê Nguyễn Hoàng Huy và Nguyễn Quỳnh Bảo Vy (Trường Đại học An Giang) được thực hiện dưới sự tài trợ của Viện Môi trường Stockholm (SEI - Trung tâm Châu Á) và Mạng lưới Nghiên cứu Môi trường Tiểu vùng sông Mê Kông (SUMERNET).

Mục tiêu chung của đề tài là tìm hiểu công bằng giới trong quản lý nguồn tài nguyên nước tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Cụ thể, đề tài giải quyết ba mục tiêu và ba câu hỏi nghiên cứu tương ứng:

  1. Khảo sát hiện trạng tài nguyên nước tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang nhằm trả lời câu hỏi: Các nguồn tài nguyên nước có tại địa bàn xã An Phú là gì?
  2. Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước tại địa bàn nhằm trả lời câu hỏi: Người phụ nữ có vai trò như thế nào trong quá trình ra quyết định đối với nguồn tài nguyên nước?
  3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước nhằm trả lời câu hỏi: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc ra quyết định và quản lý nguồn tài nguyên nước của phụ nữ?

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Khảo sát, phân tích công bằng giới trong tiếp cận, ra quyết định và quản lý nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại địa bàn 4 ấp (Phú Tâm, Phú Nhất, Phú Hiệp, Phú Hòa) thuộc xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, với sự phân chia đặc thù giữa bờ Bắc và bờ Nam kênh Vĩnh Tế.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý dữ liệu từ tháng 01/2021 đến tháng 05/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề tài vận dụng hệ thống lý luận và các khung phân tích giới chuẩn mực trong phát triển nông thôn:

  • Khái niệm Giới, Định kiến giới, Bình đẳng giới theo Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006. Khái niệm Công bằng giới được xác định là phương tiện đối xử hợp lý nhằm đạt được kết quả bình đẳng cuối cùng.
  • Khung phân tích ba vai trò giới của Caroline Moser (1993): Vai trò sản xuất (tạo thu nhập), vai trò tái sản xuất (chăm sóc gia đình, bảo đảm nước sinh hoạt) và vai trò cộng đồng (tham gia sinh hoạt xã hội, quản lý dịch vụ công).
  • Thang đo 5 mức độ tham gia của Bina Agarwal (2002): (1) Tham gia danh nghĩa; (2) Tham gia thụ động; (3) Tham gia tư vấn; (4) Tham gia năng động; (5) Tham gia quyết định.
  • Nguyên tắc 3 của Tuyên bố Dublin (1992): Khẳng định phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong cung cấp, quản lý và bảo vệ nguồn nước.

Phương pháp nghiên cứu thực địa áp dụng phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) định tính:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo phát triển nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2020 của UBND xã An Phú, Niên giám Thống kê huyện Tịnh Biên năm 2019.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp qua 4 công cụ:
    • Phỏng vấn người am hiểu (Key Informant Panels - KIP): Thực hiện với 07 người (cán bộ Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Tịnh Biên, cán bộ Nông thôn mới, cán bộ Hội Phụ nữ xã, cán bộ Giao thông - Thủy lợi, Trưởng ấp Phú Hiệp, Trưởng ấp Phú Tâm và chủ đường nước tư nhân ấp Phú Nhất).
    • Thảo luận nhóm tập trung (FGD): Thực hiện với 04 người dân sản xuất nông nghiệp (2 nam, 2 nữ).
    • Phỏng vấn sâu (In-depth Interview): Thực hiện với 09 người dân (5 nam, 4 nữ) đại diện cho các nhóm hộ trồng lúa, trồng màu, làm đường thốt nốt, thành viên Chi hội thuốc nam.
    • Quan sát trực tiếp: Theo dõi hoạt động sinh hoạt, canh tác ngoài đồng ruộng, trạm bơm bọng Đình Nghĩa, các ô đường nước và ao trữ nước.
  • Xử lý dữ liệu: Phương pháp phân tích theo chủ đề (Thematic Analysis) kết hợp phân tầng dữ liệu theo 5 mức độ tham gia của Agarwal.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương này xác lập cơ sở khoa học và tính cấp thiết của nghiên cứu trong bối cảnh phụ nữ nông thôn vẫn gánh chịu nhiều bất bình đẳng ngoài phạm vi gia đình dù đóng góp lớn cho kinh tế nông nghiệp. Tác giả trình bày hệ thống mục tiêu nghiên cứu, 3 câu hỏi định hướng và xác định giới hạn nội dung, không gian tại xã An Phú và thời gian khảo sát thực địa từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2021.

Chương 2: Lược khảo tài liệu

Tác giả tổng quan điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã An Phú: diện tích tự nhiên 2.156,4 ha, dân số 8.147 người (nam chiếm 50,25%, nữ chiếm 49,75%). Tài nguyên nước gồm nước mưa (chiếm 90% lượng mưa vào tháng 5 - 11), nước mặt từ hệ thống kênh mương và 3 hồ chứa lớn trên núi của huyện (hồ Thanh Long, hồ Thủy Liêm, hồ Ô Tức Sa với dung tích khoảng 650.000 m³), và nước ngầm (có điểm xuất hiện Coliforms vượt 31 lần và NH4+ vượt 14 lần quy chuẩn). Chương này cũng tổng thuật các cơ sở lý luận về giới (Luật Bình đẳng giới 2006, Moser 1993, Bina Agarwal 2002) và các công trình nghiên cứu tiền nhiệm về sự tham gia của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp và quản lý nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết khung phương pháp nghiên cứu định tính, làm rõ các tiêu chí lựa chọn đối tượng và nội dung thông tin thu thập qua 4 công cụ PRA. Các bảng danh mục câu hỏi được thiết kế tương ứng cho 07 cán bộ KIP (Bảng 1), 04 thành viên thảo luận nhóm tập trung (Bảng 2) và 09 đối tượng phỏng vấn sâu (Bảng 3), đồng thời quy định quy trình xử lý dữ liệu và kiểm tra chéo thông tin bằng quan sát thực địa.

Chương 4: Kết quả thảo luận

Chương này phân tích toàn diện hiện trạng tài nguyên nước, vai trò giới và các yếu tố ảnh hưởng tại địa bàn nghiên cứu:

  • Hiện trạng tài nguyên nước và phân hóa sinh kế:
    • Bờ Bắc kênh Vĩnh Tế (đất ruộng dưới): Canh tác lúa 2 vụ, hệ thống thủy lợi gồm khoảng 15 km kênh mương tạo nguồn và 5 hệ thống cống bửng điều tiết (cống đường tỉnh 955A, Năm Tời, Năm Mơn, Năm Tháng, Ba Quế, Tuần Hai; chiều dài 1.000 - 2.000 m, chiều rộng 7 - 10 m). Do ngập lũ ngắn lại và dịch hại, nông dân dần chuyển dịch sang trồng rau màu, cây ăn trái. Hệ thống bơm nước tư nhân của chú Út N phục vụ 17 ha, thu phí đầu vụ tương đương 7 lít xăng + 1 xị nhớt và cuối vụ là 20 kg lúa tươi (hoặc thu trọn gói 30 kg lúa tươi/vụ).
    • Bờ Nam kênh Vĩnh Tế (đất ruộng trên): Nguồn nước tự nhiên từ cống Ô Mai và bọng Tám Lành đã cạn kiệt; các đường nước từ núi trước đây phục vụ 100 ha nay chỉ còn đáp ứng khoảng 20 ha. Sinh kế chủ yếu là lúa 1 vụ mùa mưa (tháng 8 - 12), sau đó để đất trống trồng cỏ nuôi bò hoặc trồng ớt, khoai lang, dừa, mít. Toàn ấp Phú Hiệp có khoảng 15 ao trữ nước tự đào trên diện tích 40 ha (1 ao/1 ha). Năm 2018 - 2019, Trạm bơm bọng Đình Nghĩa được đầu tư xây dựng (chiều dài trạm 600 m, 2 cánh phân phối nước 1.500 m, mỗi bên 3 nhánh xả 400 m, tổng cộng 6 đường xả) cấp nước phục vụ khoảng 1.400 ha đất sản xuất. Tại Sóc Tà Ngáo có 193 hộ đồng bào Khmer sinh sống và canh tác chủ yếu ở bờ Nam.
  • Vai trò và mức độ tham gia của phụ nữ trong quá trình ra quyết định:
    • Trong sản xuất: Có sự phân công lao động rõ nét. Đối với lúa, nam giới đảm nhận việc nặng (gieo sạ, bơm xịt, vác lúa, ra quyết định chọn giống và thuê máy móc sau khi bàn bạc với vợ), nữ giới làm cỏ, cấy, cân lúa. Đối với trồng màu (ớt), phụ nữ giữ vai trò chủ đạo từ ươm giống, tưới nước đến thu hoạch. Đối với nghề làm đường thốt nốt, nam giới trèo lấy nước còn phụ nữ nấu và bó đường.
    • Mức độ tham gia theo Bina Agarwal: Trong sinh hoạt gia đình, phụ nữ đạt Mức độ 5 (Tham gia quyết định). Trong sản xuất lúa, phụ nữ ở Mức độ 2 (Tham gia thụ động - chỉ hỗ trợ mua nhiên liệu, trông máy bơm). Trong sản xuất rẫy, phụ nữ đạt Mức độ 5. Tại các cuộc họp tham vấn cộng đồng về công trình thủy lợi, phụ nữ người Kinh chỉ tham gia khoảng 20% (Mức độ 3 - Tham gia tư vấn), trong khi phụ nữ Khmer tham gia đạt 50% (Mức độ 3) do ảnh hưởng của yếu tố văn hóa truyền thống đề cao uy tín người phụ nữ. Đối với các hộ khuyết nam (phụ nữ làm chủ hộ), người phụ nữ bắt buộc tham gia họp và đưa ra ý kiến ở Mức độ 3.
  • Ba nhóm yếu tố cản trở sự tham gia của phụ nữ:
    • Yếu tố kinh tế: Thu nhập phụ thuộc khiến phụ nữ tự ti, ưu tiên dành thời gian làm thuê kiếm tiền (như làm cỏ mướn) hơn đi họp; quyền quyết định lớn thuộc về người tạo thu nhập chính.
    • Yếu tố văn hóa - xã hội: Định kiến “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” cùng gánh nặng vai trò tái sản xuất (80% phụ nữ nêu lý do không tham gia tập huấn/họp vì bận việc nhà, chăm sóc con cái).
    • Yếu tố chủ quan: Mặc cảm thiếu kiến thức kỹ thuật, tâm lý xem quản lý nước là trách nhiệm của nam giới hoặc cơ quan nhà nước, chỉ đi họp khi có phát quà tặng sinh hoạt gia đình.
Không gian / Hoạt động Đối tượng chính Nguồn cấp nước / Loại hình canh tác Mức độ tham gia của phụ nữ (Thang Agarwal)
Bờ Bắc kênh Vĩnh Tế Đa số người Kinh Kênh Vĩnh Tế, cống bửng, đường nước tư nhân; lúa 2 vụ, rau màu - Quản lý nước lúa: Mức độ 2 (Thụ động)
- Họp dân công trình: Mức độ 3 (Chiếm ~20%)
Bờ Nam kênh Vĩnh Tế Nhiều người Khmer (Sóc Tà Ngáo) Trạm bơm bọng Đình Nghĩa, ao trữ nước; lúa 1 vụ, rẫy (ớt), cỏ nuôi bò - Quản lý nước rẫy: Mức độ 5 (Quyết định)
- Họp dân công trình: Mức độ 3 (Chiếm ~50%)
Nội trợ gia đình Phụ nữ cả hai bờ Nước sinh hoạt gia đình, tích trữ nước mùa khô - Quản lý nước sinh hoạt: Mức độ 5 (Quyết định)

Chương 5: Kết luận và Khuyến nghị

Tổng kết các phát hiện về sự bất cân xứng trong tham gia quản lý tài nguyên nước giữa cấp hộ gia đình và cấp cộng đồng, xác định rào cản văn hóa - xã hội là nút thắt lớn nhất. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 3 nhóm khuyến nghị tương ứng: (1) Tự thay đổi suy nghĩ, nâng cao nhận thức nội tại của phụ nữ; (2) Nam giới chủ động san sẻ công việc tái sản xuất gia đình; (3) Chính quyền địa phương đổi mới công tác tham vấn cộng đồng, lồng ghép giới và thu thập ý kiến bình đẳng từ cả hai giới.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã cung cấp bức tranh thực địa chi tiết về hiện trạng tài nguyên nước và sự bất bình đẳng giới tại một địa bàn nông thôn miền núi biên giới Tây Nam:

  • Làm rõ cấu trúc phân hóa thủy lợi - sinh kế giữa bờ Bắc (hệ thống 5 cống bửng, kênh Vĩnh Tế dài 5 km, phục vụ lúa 2 vụ) và bờ Nam (trạm bơm Đình Nghĩa công suất 1.400 ha với 6 đường xả, hệ thống 15 ao trữ nước/40 ha, lúa 1 vụ luân canh cây màu).
  • Đánh giá định lượng hóa sự tham gia của phụ nữ tại các cuộc họp thủy lợi cộng đồng: Tỷ lệ tham gia của phụ nữ Kinh chỉ đạt 20%, trong khi phụ nữ Khmer đạt 50% nhờ đặc trưng văn hóa cộng đồng.
  • Định vị cụ thể mức độ tham gia của phụ nữ theo thang đo Agarwal: Đạt mức cao nhất (Mức độ 5 - Quyết định) trong phạm vi sinh hoạt gia đình và canh tác hoa màu; nhưng dừng lại ở mức thấp (Mức độ 2 - Thụ động và Mức độ 3 - Tư vấn) trong quản lý công trình cấp nước nông nghiệp và các cuộc họp cộng đồng.
  • Xác lập mô hình 3 nhóm yếu tố cản trở (Kinh tế, Văn hóa - xã hội, Chủ quan), chỉ rõ vai trò tái sản xuất không tên là nguyên nhân trực tiếp tước đoạt thời gian tham gia xã hội của phụ nữ nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu tiếp cận theo phương pháp định tính với quy mô mẫu nhỏ (07 KIP, 04 thành viên thảo luận nhóm, 09 phỏng vấn sâu), chỉ giới hạn không gian khảo sát tại một xã An Phú trong thời gian 5 tháng (01/2021 - 05/2021).
  • Hướng mở rộng: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát định lượng với cỡ mẫu lớn trên toàn địa bàn huyện Tịnh Biên hoặc vùng Tứ giác Long Xuyên; đồng thời đánh giá tác động dài hạn của Trạm bơm bọng Đình Nghĩa đến sự chuyển dịch vai trò giới và khả năng thích ứng biến đổi khí hậu của cộng đồng dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Phát triển nông thôn, Xã hội học, Giới và Phát triển, Quản lý tài nguyên môi trường. Đề tài cung cấp khung phân tích kết hợp giữa lý thuyết vai trò giới của Caroline Moser và thang mức độ tham gia của Bina Agarwal, cùng hệ thống câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc PRA (Phụ lục 1, 2, 3) có giá trị áp dụng trực tiếp cho các nghiên cứu thực địa tương tự.

Câu hỏi thường gặp

1. Trạm bơm bọng Đình Nghĩa tại bờ Nam xã An Phú có quy mô và phạm vi cấp nước như thế nào? Trạm bơm bọng Đình Nghĩa được xây dựng năm 2018 và đưa vào vận hành năm 2019 do Phòng Nông nghiệp & PTNT kết hợp UBND huyện Tịnh Biên quản lý. Trạm có chiều dài khoảng 600 m, 2 cánh phân phối nước dài 1.500 m, mỗi bên gồm 3 nhánh xả dài khoảng 400 m (tổng cộng 6 đường xả), cung cấp nước tưới chống hạn và hỗ trợ chuyển đổi cây trồng cho khoảng 1.400 ha đất sản xuất lúa - màu.

2. Mức độ tham gia của phụ nữ trong quản lý nước sinh hoạt và nước sản xuất nông nghiệp khác nhau ra sao? Theo thang đo Bina Agarwal, trong nước sinh hoạt gia đình và nước tưới cây màu (rẫy), phụ nữ đạt Mức độ 5 (Tham gia quyết định). Ngược lại, đối với nước sản xuất lúa, phụ nữ chỉ đạt Mức độ 2 (Tham gia thụ động - phụ giúp mua nhiên liệu, trông coi máy bơm); tại các cuộc họp tham vấn công trình thủy lợi cộng đồng, phụ nữ chỉ đạt Mức độ 3 (Tham gia tư vấn).

3. Vì sao tỷ lệ tham gia cuộc họp công trình thủy lợi của phụ nữ Khmer (50%) lại cao hơn phụ nữ Kinh (20%)? Do đặc thù văn hóa truyền thống của người Khmer, phụ nữ có uy tín và vị thế tiếng nói cao hơn trong các quyết định chung của gia đình và cộng đồng so với quan niệm truyền thống phụ hệ của người Kinh, giúp họ chủ động và tự tin hơn khi tham gia các buổi họp dân tại Sóc Tà Ngáo.

4. Hệ thống đường nước tư nhân tại bờ Bắc kênh Vĩnh Tế thu phí vận hành như thế nào? Chủ đường nước tư nhân (chú Út N tại ấp Phú Nhất) đầu tư tưới cho 17 ha và thu phí của các hộ lân cận theo hai hình thức thỏa thuận qua UBND xã: (1) Thu theo thời vụ gồm tiền mua 7 lít xăng + 1 xị nhớt ở đầu vụ và 20 kg lúa tươi ở cuối vụ; hoặc (2) Đóng trọn gói 30 kg lúa tươi/vụ vào thời điểm thu hoạch.

5. Yếu tố nào được xác định là rào cản lớn nhất đối với sự tham gia của phụ nữ vào quản lý tài nguyên nước? Yếu tố văn hóa - xã hội (các định kiến giới truyền thống coi quản lý nước là công việc kỹ thuật của nam giới, cùng gánh nặng công việc tái sản xuất gia đình chiếm hết quỹ thời gian) được tác giả kết luận là nút thắt cản trở lớn nhất đối với phụ nữ xã An Phú.

Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp đã phản ánh chân thực thực trạng quản trị tài nguyên nước tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên dưới lăng kính công bằng giới. Kết quả nghiên cứu chứng minh sự bất cân xứng rõ rệt khi phụ nữ nắm quyền quyết định nguồn nước trong gia đình nhưng lại mờ nhạt ở cấp độ quản lý công trình thủy lợi cộng đồng. Ba nhóm rào cản về kinh tế, văn hóa - xã hội và nhận thức chủ quan đã được định danh rõ ràng, làm cơ sở thực tiễn cho các giải pháp lồng ghép giới và nâng cao quyền năng cho phụ nữ nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.