Giới thiệu dự án
Nghiên cứu "Công bằng giới trong tiếp cận và quản lý nguồn tài nguyên nước tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang" là chuyên đề tốt nghiệp đại học ngành Phát triển Nông thôn (niên khóa 2017–2021) do sinh viên Lê Nguyễn Hoàng Huy và Nguyễn Quỳnh Bảo Vy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Thái Huỳnh Phương Lan tại Trường Đại học An Giang (Đại học Quốc gia TP.HCM), với sự tài trợ kinh phí từ Viện Môi trường Stockholm (SEI) thông qua Mạng lưới Nghiên cứu Môi trường Bền vững Tiểu vùng sông Mê Kông (SUMERNET).
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| KHUNG DỰ ÁN TỔNG QUAN |
| Đơn vị: Trường Đại học An Giang - Khoa Nông nghiệp & TNTN |
| Tài trợ: Viện Môi trường Stockholm (SEI) / SUMERNET |
| Địa bàn: Xã An Phú, Huyện Tịnh Biên, Tỉnh An Giang (Biên giới Tây Nam - Kênh Vĩnh Tế) |
| Quy mô tự nhiên: 2.156,4 ha diện tích tự nhiên | 1.897,2 ha đất nông nghiệp (87,98%) |
| Dân số nghiên cứu: 8.147 người (4.094 nam - 50,25%; 4.053 nữ - 49,75%) | 193 hộ Khmer Sóc Tà Ngáo|
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
Bối cảnh và Tính cấp thiết
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với những tác động khốc liệt của biến đổi khí hậu (BĐKH) và suy giảm nguồn nước xuyên biên giới. Tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên – một địa bàn miền núi, biên giới Tây Nam giáp Campuchia – quy luật thủy văn tự nhiên đã biến đổi trầm trọng. Nếu như trước năm 2000, thời gian ngập lũ từ kênh Vĩnh Tế duy trì khoảng 4 tháng/năm thì đến năm 2020, lũ chỉ ngập đồng vỏn vẹn 15 ngày, kéo theo sự sụt giảm hơn 90% nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Mặc dù phụ nữ chiếm 49,75% dân số xã An Phú và đảm nhận phần lớn các khâu sản xuất nông nghiệp cũng như công việc tái sản xuất sinh hoạt, tiếng nói của họ trong quản trị tài nguyên nước công cộng gần như bị triệt tiêu do các định kiến xã hội gắn mác "thủy lợi là kỹ thuật của nam giới".
Vấn đề nghiên cứu (Problem Statement)
Sự thiếu hụt nguồn nước mặt và hạn hán kéo dài tại vùng đất đồi cát khô hạn đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản trị tài nguyên nước công bằng. Tuy nhiên, tồn tại khoảng cách giới sâu sắc:
- Thiếu đại diện trong quy hoạch hạ tầng: Phụ nữ hầu như vắng bóng trong ban quản lý các trạm cấp nước, trạm bơm điện và hệ thống cống bửng nội đồng.
- Bất bình đẳng kép: Phụ nữ nông thôn vừa gánh vác trách nhiệm bảo đảm an ninh nước sinh hoạt cho gia đình, vừa chịu tổn thương kinh tế trực tiếp khi nguồn nước cạn kiệt nhưng không có quyền can thiệp vào chính sách phân phối nước.
Mục tiêu dự án
- Khảo sát toàn diện hiện trạng: Đánh giá trữ lượng, hạ tầng cấp thoát nước và biến động sinh kế tại hai tiểu vùng bờ Bắc và bờ Nam kênh Vĩnh Tế.
- Định lượng và định tính mức độ tham gia: Phân tích vai trò thực tế của phụ nữ trong việc ra quyết định liên quan đến tài nguyên nước ở cấp độ hộ gia đình và cấp độ cộng đồng.
- Nhận diện hệ thống rào cản: Xác định các nhân tố cản trở (kinh tế, văn hóa - xã hội, tâm lý chủ quan) làm hạn chế quyền năng của phụ nữ nông thôn và phụ nữ dân tộc thiểu số Khmer.
- Đề xuất giải pháp hành động: Xây dựng khung khuyến nghị chính sách lồng ghép giới có tính khả thi cao cho chính quyền cấp cơ sở.
Phạm vi và Giới hạn nghiên cứu
- Không gian: 4 ấp thuộc xã An Phú, huyện Tịnh Biên (Ấp Phú Tâm, Phú Nhất, Phú Hiệp, Phú Hòa), tập trung đối sánh giữa bờ Bắc (ruộng dưới thâm canh lúa) và bờ Nam (ruộng trên gò cao, Sóc Tà Ngáo).
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2021 đến tháng 05/2021.
Phân tích và thiết kế giải pháp
Phân tích hiện trạng
Địa bàn nghiên cứu bị chia cắt bởi tuyến kênh Vĩnh Tế dài 5,5 km chảy qua xã, tạo ra hai vùng sinh thái - nông nghiệp với đặc điểm cấp nước hoàn toàn trái ngược:
| Tiêu chí phân tích |
Bờ Bắc kênh Vĩnh Tế (Đất ruộng dưới) |
Bờ Nam kênh Vĩnh Tế (Đất ruộng trên / Gò cao) |
| Hệ thống thủy lợi |
15 km kênh mương; 5 hệ thống cống bửng (Ngang ĐT 955A, Năm Tời, Năm Mơn, Năm Tháng, Ba Quế, Tuần Hai). |
Trạm bơm bọng Đình Nghĩa (công suất thiết kế tưới 1.400 ha); hệ thống 15 hầm trữ nước (múc ao 1 ha/ao). |
| Nguồn cấp nước chính |
Nước mặt từ kênh Vĩnh Tế và hệ thống mương tư nhân (Tổ bơm Chú Út N). |
Nước mưa tích trữ, kênh tự chảy vùng đồi, trạm bơm điện liên xã. |
| Cơ cấu sinh kế |
Lúa 2 vụ (Đông Xuân, Hè Thu), chuyển dịch một phần sang hoa màu, cây ăn trái. |
Lúa mùa nổi 1 vụ, trồng cỏ nuôi bò, trồng rẫy (ớt, khoai lang), khai thác đường thốt nốt. |
| Thành phần dân cư |
Chủ yếu là người Kinh. |
Tập trung đồng bào dân tộc thiểu số Khmer (Sóc Tà Ngáo - 193 hộ). |
| Chi phí tiếp cận nước |
7 lít xăng + 1 xị nhớt (đầu vụ) + 20 kg lúa tươi (cuối vụ) hoặc khoán 30 kg lúa/vụ/công. |
Phí vận hành trạm bơm điện nhà nước kết hợp tự chi trả nhiên liệu máy bơm gia đình. |
KÊNH VĨNH TẾ
|
+------------------------------+------------------------------+
| |
[ BỜ BẮC ] [ BỜ NAM ]
- Đất ruộng dưới - Đất ruộng trên / Gò đồi
- Thâm canh lúa 2 vụ - Lúa 1 vụ + Cỏ bò + Rẫy ớt + Thốt nốt
- Hệ thống 5 cống bửng - Trạm bơm bọng Đình Nghĩa (1.400 ha)
- Phụ nữ Kinh: Tham gia thụ động - Phụ nữ Khmer: Quyền quyết định cao hơn
Thiết kế hệ thống: Khung phân tích lý thuyết (Analytical Framework)
Nghiên cứu tích hợp ba nền tảng lý thuyết xã hội học và phát triển nông thôn để xây dựng bộ công cụ đánh giá:
- Khung phân tích vai trò giới Moser (Caroline Moser, 1993): Phân định 3 nhóm chức năng:
- Vai trò sản xuất: Trồng lúa, thu hoạch hoa màu, nấu đường thốt nốt, sưu tầm dược liệu.
- Vai trò tái sản xuất: Lấy nước, nấu ăn, chăm sóc gia đình (chiếm 6–8 giờ/ngày của phụ nữ).
- Vai trò cộng đồng: Tham gia họp dân, quản trị kênh mương, tổ chức sự kiện xã hội.
- Thang đo mức độ tham gia Bina Agarwal (2002):
- Mức 1 (Danh nghĩa): Có tên trong danh sách thành viên nhưng không tham gia.
- Mức 2 (Thụ động): Tham gia họp nhưng chỉ lắng nghe, không phát biểu.
- Mức 3 (Tư vấn): Được lấy ý kiến nhưng không có quyền quyết định kết quả.
- Mức 4 (Năng động): Tự giác đề xuất giải pháp, thảo luận tích cực.
- Mức 5 (Ra quyết định): Trực tiếp biểu quyết, can thiệp vào quy trình quản lý dự án.
- Nguyên tắc Dublin số 3 (1992): Khẳng định vai trò trung tâm của phụ nữ trong việc bảo vệ, cung cấp và quản lý tài nguyên nước bền vững.
Phương pháp luận nghiên cứu (Methodology)
Đề tài sử dụng phương pháp Đánh giá Nông thôn có sự tham gia của người dân (Participatory Rural Appraisal - PRA) phối hợp nghiên cứu định tính chuyên sâu:
[Số liệu thứ cấp: Báo cáo KTXH, Niên giám thống kê huyện Tịnh Biên]
[Phân tích chủ đề (Thematic Analysis) & Phân hạng thang đo Bina Agarwal]
Implementation và kết quả
Quá trình thực địa và Thu thập dữ liệu
Đội ngũ nghiên cứu tiến hành thâm nhập thực địa tại các điểm nóng hạ tầng thủy lợi của xã:
- Khảo sát trạm bơm bọng Đình Nghĩa (Ấp Phú Tâm): Công trình hoàn thành năm 2019 với chiều dài trạm 600m, 2 cánh dẫn 1.500m và 6 nhánh xả (400m/nhánh).
- Khảo sát vùng gò cao ấp Phú Hiệp: Đánh giá các hầm trữ nước tự đào dung tích lớn phục vụ 40 ha đất nông nghiệp chuyển đổi sang trồng ớt và dừa.
- Tiếp cận cộng đồng Sóc Tà Ngáo: Phỏng vấn bán cấu trúc các hộ phụ nữ dân tộc Khmer về tập quán sử dụng nước giếng khoan và nước mưa.
Thuật toán đánh giá mức độ tham gia (Pseudo-code Logic)
Để phân loại chính xác mức độ tham gia của từng nhóm đối tượng, nghiên cứu áp dụng mô hình định lượng hóa các tiêu chí chất lượng:
def evaluate_participation_level(user_profile, activity_context):
"""
Thuật toán phân hạng mức độ tham gia theo Bina Agarwal (2002)
Dữ liệu đầu vào: Hồ sơ giới tính, dân tộc, vị thế hộ, bối cảnh ra quyết định
"""
level = 1 # Mặc định: Tham gia danh nghĩa
if activity_context.type == "DOMESTIC_WATER":
# Cấp hộ gia đình: Sinh hoạt & Nội trợ
if user_profile.gender == "FEMALE":
level = 5 # Toàn quyền quyết định lưu trữ và sử dụng nước
elif activity_context.type == "IRRIGATION_MEETING":
# Cấp cộng đồng: Họp bàn xây dựng trạm bơm/cống thủy lợi
if user_profile.gender == "FEMALE":
if user_profile.is_household_head == True:
level = 3 # Tham gia tư vấn vì bắt buộc đại diện hộ
elif user_profile.ethnicity == "KHMER":
level = 4 # Tự tin phát biểu do văn hóa tôn trọng phụ nữ
else:
level = 2 # Phụ nữ Kinh: Thụ động lắng nghe hoặc vắng mặt
elif activity_context.type == "FARMING_DECISION":
# Cấp sản xuất: Lựa chọn cơ cấu cây trồng & tưới tiêu
if activity_context.crop == "RICE":
level = 2 if user_profile.gender == "FEMALE" else 5
elif activity_context.crop in ["CHILI", "VEGETABLES", "HERBAL"]:
level = 5 if user_profile.gender == "FEMALE" else 3
return level
Kiểm chứng và Xác thực dữ liệu
Dữ liệu định tính được kiểm chứng chéo (triangulation) qua 3 kênh: Lời khai của người dân trong phỏng vấn sâu $\leftrightarrow$ Báo cáo lưu trữ của UBND xã An Phú $\leftrightarrow$ Biên bản quan sát thực tế tại các tuyến kênh nội đồng.
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THEO CÁC NHÓM YẾU TỐ CẢN TRỞ SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| 1. RÀO CẢN VĂN HÓA - XÃ HỘI (Nút thắt nghiêm trọng nhất): |
| - 80% phụ nữ tham gia FGD nêu lý do vắng mặt tại các cuộc họp thủy lợi là do "bận việc nhà". |
| - Định kiến "Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm" giới hạn phụ nữ trong không gian bếp. |
| - Quan niệm quản lý nước, vận hành máy bơm là lĩnh vực kỹ thuật chuyên biệt của nam giới. |
| |
| 2. RÀO CẢN KINH TẾ: |
| - Phụ nữ ưu tiên làm thuê thời vụ (nhổ cỏ, hái ớt: 120.000 - 150.000 VNĐ/ngày) hơn đi họp. |
| - Phụ nữ không có quyền sở hữu đất đai đứng tên riêng làm suy giảm vị thế biểu quyết. |
| |
| 3. RÀO CẢN CHỦ QUAN TỪ BẢN THÂN PHỤ NỮ: |
| - Tâm lý tự ti về trình độ kỹ thuật nông nghiệp, e ngại phát biểu trước đám đông có nam giới. |
| - Động lực đi họp bị chi phối: chỉ tham gia đông khi có quà tặng vật chất (gia vị, đồ bếp). |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
Kết quả đo lường cụ thể
-
Sự khác biệt tộc người trong tham chính:
- Tại các cuộc họp tham vấn xây dựng Trạm bơm bọng Đình Nghĩa, tỷ lệ phụ nữ người Kinh tham dự chỉ đạt 20%, hầu hết là những người phụ nữ đơn thân hoặc có chồng đi làm ăn xa.
- Ngược lại, tỷ lệ phụ nữ dân tộc Khmer tại Sóc Tà Ngáo tham dự đạt 50%. Nhờ truyền thống tôn trọng ý kiến người phụ nữ trong gia đình, phụ nữ Khmer tự tin đề xuất ý kiến, thậm chí quyết định việc hiến đất và đốn bỏ cây thốt nốt lâu năm để phục vụ dự án công cộng (minh chứng điển hình: Hộp thông tin 11).
-
Phân hóa vai trò theo loại hình cây trồng:
- Canh tác lúa nước: Nam giới nắm quyền quyết định giống, điều tiết nước và kỹ thuật máy móc (Mức 5). Phụ nữ dừng lại ở vai trò hỗ trợ hậu cần, mua nhiên liệu (Mức 2).
- Canh tác rau màu (ớt, khoai lang, thảo dược): Phụ nữ trực tiếp quản lý vi khí hậu, xác định chu kỳ tưới và kỹ thuật thu hoạch, đạt mức độ quyết định (Mức 5).
Đổi mới và đóng góp
Đổi mới về phương pháp luận và góc nhìn khoa học
Nghiên cứu mang lại những phát hiện đột phá khi lồng ghép lăng kính dân tộc học vào bài toán thủy lợi đồng bằng:
- Phát hiện tính tương phản sắc tộc trong bình đẳng giới: Nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt sâu sắc giữa văn hóa gia đình phụ quyền truyền thống của người Kinh và yếu tố bình đẳng/mẫu hệ tương đối trong đời sống của phụ nữ Khmer tại vùng Bảy Núi. Điều này bác bỏ giả định cho rằng phụ nữ dân tộc thiểu số luôn là nhóm yếu thế nhất trong tiếp cận tài nguyên.
- Lượng hóa chi phí cơ hội của phụ nữ nông thôn: Đề tài chứng minh rằng việc không tham gia quản lý nguồn nước không thuần túy là do sự thờ ơ, mà là một phép tính kinh tế hợp lý của người phụ nữ khi phải đánh đổi giờ công lao động trực tiếp lấy các cuộc họp hành mang tính hình thức.
So sánh với các công trình nghiên cứu tiền nhiệm
| Tiêu chuẩn nghiên cứu |
Nghiên cứu của Lê Xuân Định & CS (2015) |
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Duyên & CS (2017) |
Đề tài Huy & Vy - ĐH An Giang (2021) |
| Địa bàn khảo sát |
Quy mô vùng ĐBSCL |
Xã Ô Lâm, Tri Tôn (Vùng đồng bào Khmer) |
Xã An Phú, Tịnh Biên (Biên giới, đa dạng sinh thái & sắc tộc) |
| Phạm vi hạ tầng |
Đánh giá chính sách vĩ mô |
Nước sạch sinh hoạt nông thôn |
Tích hợp trạm bơm điện 1.400 ha, cống bửng, mương múc và kênh Vĩnh Tế |
| Khung phân tích |
Lý thuyết giới tổng quan |
Khảo sát mô tả thống kê |
Tích hợp ma trận Moser + Thang 5 mức Agarwal + Nguyên tắc Dublin |
| Phát hiện mới |
Nhấn mạnh rào cản thể chế |
Phụ nữ mất thời gian đi gánh nước mùa khô |
Nhận diện xung đột chi phí cơ hội kinh tế và văn hóa tộc người |
Ứng dụng thực tế và triển khai
Bộ công cụ lồng ghép giới (Gender Mainstreaming Toolkit)
Kết quả nghiên cứu được bàn giao trực tiếp cho UBND xã An Phú và Phòng NN & PTNT huyện Tịnh Biên để áp dụng vào quy trình vận hành các tổ hợp tác dùng nước:
QUY TRÌNH HỌP DÂN LỒNG GHÉP GIỚI (4 BƯỚC)
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| LỘ TRÌNH 4 GIAI ĐOẠN NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ NƯỚC CƠ SỞ |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| Giai đoạn 1 (Tháng 1-3): Nâng cao nhận thức nội bộ cán bộ thủy lợi & Hội Phụ nữ cấp xã. |
| Giai đoạn 2 (Tháng 4-6): Thí điểm mô hình "Tổ phụ nữ quản lý đường nước nội đồng" tại Ấp Phú Hiệp.|
| Giai đoạn 3 (Tháng 7-9): Đào tạo kỹ thuật sửa chữa máy bơm và đo độ mặn/phèn cho nữ nông dân. |
| Giai đoạn 4 (Tháng 10-12): Đánh giá SROI và nhân rộng ra toàn huyện Tịnh Biên. |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội (SROI Analysis)
- Tối ưu hóa nguồn nước: Việc phụ nữ tham gia giám sát lịch đóng mở cống giúp giảm 15–20% thất thoát nước cục bộ trong các khu vực trồng rau màu xen canh.
- Tiết kiệm thời gian tái sản xuất: Dự án cải thiện hệ thống cấp nước giúp rút ngắn 1,5–2 giờ thu gom nước mỗi ngày của phụ nữ, giải phóng quỹ thời gian để họ tham gia các mô hình kinh tế phụ nữ khởi nghiệp (đan lát, làm mắm, trồng nấm).
Hạn chế và hướng phát triển
Hạn chế kỹ thuật
- Cỡ mẫu định tính: Khảo sát tập trung tại 1 xã biên giới với 9 phỏng vấn sâu và 7 KIP; dữ liệu cần được mở rộng với cỡ mẫu định lượng ngẫu nhiên trên toàn vùng Tứ giác Long Xuyên.
- Tính thời điểm thủy văn: Nghiên cứu thực hiện chủ yếu trong các tháng mùa khô (tháng 1 – tháng 5), chưa ghi nhận trọn vẹn sự biến thiên hành vi vào đỉnh lũ tháng 10.
Hướng phát triển tiếp theo
- Mở rộng sang Quản trị nước xuyên biên giới: Kết nối dữ liệu với các xã giáp ranh thuộc tỉnh Takeo (Vương quốc Campuchia) để đánh giá tác động của các đập thủy điện và đê bao thượng nguồn.
- Xây dựng ứng dụng di động (Smart Water App): Phát triển nền tảng thông báo lịch bơm nước và chất lượng nước (độ pH, phèn) qua tin nhắn Zalo/SMS thiết kế riêng cho phụ nữ nông thôn dễ tiếp cận.
Đối tượng hưởng lợi
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| MA TRẬN GIÁ TRỊ DÀNH CHO CÁC NHÓM ĐỐI TƯỢNG |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| [Sinh viên & Học viên]: Cung cấp bộ công cụ phỏng vấn mẫu (KIP, FGD, IDI) và cách ứng dụng khung |
| lý thuyết Moser và Agarwal vào luận văn phát triển nông thôn. |
| |
| [Kỹ sư & Quản lý Thủy lợi]: Phương pháp tiếp cận xã hội học trong thiết kế trạm bơm và kênh nội |
| đồng, giảm thiểu khiếu nại và xung đột chia sẻ nguồn nước. |
| |
| [Phụ nữ Nông thôn & Khmer]: Nâng cao nhận thức về quyền tiếp cận tài nguyên công, xóa bỏ tâm lý |
| tự ti, mở rộng sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH. |
| |
| [Nhà hoạch định Chính sách]: Luận cứ khoa học chuẩn xác để phân bổ ngân sách các chương trình mục |
| tiêu quốc gia về Bình đẳng giới và Nông thôn mới nâng cao. |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao nghiên cứu lại chọn xã An Phú, huyện Tịnh Biên làm địa bàn điển hình?
Xã An Phú hội tụ đầy đủ các đặc trưng phức tạp nhất của vùng Tây Nam Bộ: vừa là xã biên giới giáp Campuchia, có vùng đồi núi xen kẽ đồng bằng, có sự giao thoa văn hóa sâu sắc giữa người Kinh và người Khmer (Sóc Tà Ngáo), đồng thời chịu tác động kép của lũ suy kiệt và hạn hán khắc nghiệt.
2. Sự tham gia của phụ nữ trong quản lý nước có thực sự giúp tăng năng suất nông nghiệp?
Hoàn toàn có. Phụ nữ là người trực tiếp điều tiết nước tưới cho các loại cây trồng nhạy cảm với độ ẩm (hoa màu, cây ăn trái, dược liệu). Khi phụ nữ được chủ động nguồn nước và nắm vững kỹ thuật, rủi ro sâu bệnh và chi phí xăng dầu chạy máy bơm giảm đáng kể, giúp tăng biên lợi nhuận canh tác từ 10% đến 25%.
3. Làm thế nào để khuyến khích phụ nữ người Kinh đi họp bàn về thủy lợi?
Cần chuyển đổi hình thức sinh hoạt: Lồng ghép nội dung kỹ thuật nước vào các buổi sinh hoạt thường kỳ của Chi hội Phụ nữ; mời đích danh cả hai vợ chồng; tổ chức họp theo nhóm nhỏ xóm ấp vào ban đêm hoặc chiều muộn; đồng thời cung cấp tài liệu truyền thông bằng hình ảnh sinh động thay vì văn bản thuần túy.
4. Rào cản lớn nhất giữa phụ nữ Kinh và phụ nữ Khmer trong việc ra quyết định là gì?
Phụ nữ Kinh chịu áp lực nặng nề từ chuẩn mực gia đình Nho giáo truyền thống ("chồng là trụ cột"), trong khi phụ nữ Khmer có vị thế cao hơn trong đời sống gia đình nhờ truyền thống văn hóa bản địa nhưng lại gặp rào cản về khả năng giao tiếp tiếng Việt chuẩn và tiếp cận tài liệu kỹ thuật bằng văn bản.
5. Dự án SUMERNET đóng vai trò gì trong công trình nghiên cứu này?
SUMERNET (được tài trợ bởi Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển - Sida thông qua SEI) đã tài trợ kinh phí, định hướng khung lý thuyết về công bằng xã hội và giới (Gender and Social Equity - GSE) trong quản trị vùng đất ngập nước xuyên biên giới, giúp nâng cao tính chuẩn mực quốc tế của đề tài.
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp "Công bằng giới trong tiếp cận và quản lý nguồn tài nguyên nước tại xã An Phú, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang" của nhóm tác giả Lê Nguyễn Hoàng Huy và Nguyễn Quỳnh Bảo Vy đã giải quyết thấu đáo khoảng trống nghiên cứu giữa kỹ thuật thủy lợi và bình đẳng giới tại vùng biên giới Tây Nam. Công trình khẳng định: Công bằng giới không chỉ là mục tiêu đạo đức xã hội mà là một giải pháp kinh tế - kỹ thuật mang tính chiến lược nhằm bảo đảm an ninh tài nguyên nước trong kỷ nguyên biến đổi khí hậu.
Chính quyền địa phương, các tổ chức phát triển và cộng đồng học thuật cần chung tay hiện thực hóa các khuyến nghị của đề tài, đưa tiếng nói của người phụ nữ nông thôn từ "không gian bếp" ra "trung tâm các quyết định cộng đồng".