Tổng quan nghiên cứu

Thực hiện bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ hàng đầu được 189 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ năm 2000. Trên phạm vi toàn cầu, gần 180 quốc gia đã tham gia ký kết Công ước Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Tại Việt Nam, chỉ số phát triển giới (GDI) từng bước được cải thiện và xếp hạng 89 trên tổng số 144 quốc gia được khảo sát. Tuy nhiên, tại các tỉnh miền núi vùng cao như Cao Bằng – nơi có 28 dân tộc cùng chung sống trên diện tích tự nhiên 6.690,72 km² và 90% diện tích là đồi núi chia cắt – vấn đề bất bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình vẫn diễn biến hết sức phức tạp.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là khảo sát toàn diện thực trạng bình đẳng giới trong công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình tại địa phương, bóc tách các rào cản xã hội, phong tục tập quán phụ hệ, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm bảo đảm quyền tự quyết sinh sản cho phụ nữ. Phạm vi nghiên cứu tập trung trên địa bàn toàn tỉnh Cao Bằng với mốc thời gian trọng tâm từ năm 2000 đến năm 2010. Nghiên cứu mang ý nghĩa sâu sắc trong việc hỗ trợ hạ tỷ suất giảm sinh hàng năm từ 0,70‰ đến 0,80‰, góp phần kéo giảm tỷ lệ đói nghèo toàn tỉnh từ 21% năm 2009 xuống các ngưỡng mục tiêu mới, đồng thời nâng cao chất lượng dân số cho hơn 522.000 người dân trên địa bàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về gia đình và giải phóng phụ nữ, trọng tâm là tác phẩm kinh điển của Ph.Ăng-ghen về nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước. Học thuyết Mác - Lênin khẳng định sự bất bình đẳng giới xuất phát từ sự xuất hiện của chế độ tư hữu và sự phân công lao động xã hội, trong đó việc đưa phụ nữ tham gia trở lại nền sản xuất xã hội là điều kiện tiên quyết để giải phóng nữ giới. Bên cạnh đó, đề tài kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về "nam nữ bình quyền", khẳng định phụ nữ là một nửa của xã hội và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể thành công trọn vẹn nếu không giải phóng hoàn toàn người phụ nữ.

Khung lý thuyết của luận văn được định hình qua 5 khái niệm cốt lõi: giới (các vai trò, trách nhiệm mang tính xã hội do dạy và học mà có), giới tính (đặc điểm sinh học bẩm sinh, không thay đổi), bình đẳng giới (sự thừa nhận và đối xử ngang nhau về vị thế, cơ hội hưởng thụ nguồn lực), định kiến giới (tập hợp các khuôn mẫu sai lệch áp đặt lên nam hoặc nữ), và lồng ghép giới (chiến lược đưa yếu tố giới vào mọi quy trình chính sách). Khung pháp lý tham chiếu trực tiếp gồm Luật Bình đẳng giới năm 2006 (đặc biệt là Điều 17 về y tế và Điều 18 về gia đình), Điều 10 Pháp lệnh Dân số năm 2003 và Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Cao Bằng năm 2009, hệ thống báo cáo tổng kết giai đoạn 2000-2010 của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Cao Bằng, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh, cùng các văn kiện chỉ đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh.

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu bao phủ diện rộng trên 12 huyện, thị xã với 199 xã, phường, thị trấn; trong đó tập trung khảo sát chuyên sâu tại các địa bàn có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tập trung như Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Nguyên Bình và Trùng Khánh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp chọn mẫu theo cụm dân tộc được áp dụng để bao quát các nhóm cư dân chủ đạo: Tày (chiếm 42,54% với 208.822 người), Nùng (chiếm 32,86% với 161.134 người), Dao (chiếm 9,63% với 47.218 người) và H'Mông (chiếm 8,45% với 41.437 người). Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp logic - lịch sử và điều tra xã hội học được lựa chọn vì giúp phản ánh chân thực các quy luật vận động của mối quan hệ giới trong điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù vùng cao qua dòng thời gian 10 năm từ 2000 đến 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại sự chênh lệch lớn về tỷ suất sinh và nhận thức kế hoạch hóa gia đình giữa các nhóm dân tộc thiểu số. Phụ nữ dân tộc H'Mông (chiếm 8,45% dân số toàn tỉnh) có mức sinh cao nhất với tỷ lệ sinh trung bình từ 10 đến 12 con mỗi gia đình, trong khi nhóm người Kinh (chiếm 4,68%) và người Tày (chiếm 42,54%) tiếp cận biện pháp tránh thai hiện đại đạt tỷ lệ cao hơn rõ rệt.

Thứ hai, gánh nặng thực hiện các biện pháp tránh thai và trách nhiệm sinh sản vẫn đổ dồn lên phụ nữ. Mặc dù toàn tỉnh đã xây dựng mạng lưới y tế với 2.021 cán bộ (bình quân 10,6 cán bộ trên mỗi trung tâm y tế cơ sở) và 100% thôn bản có nhân viên y tế, nhưng hơn 85% các ca sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình là do nữ giới thực hiện; tỷ lệ nam giới tham gia sử dụng bao cao su hoặc triệt sản nam chiếm tỷ trọng rất thấp, ước tính dưới 15%.

Thứ ba, sự thiếu hụt hạ tầng giao thông và dịch vụ công cản trở trực tiếp quyền tiếp cận chăm sóc sức khỏe của phụ nữ. Toàn tỉnh có 1.671,57 km đường giao thông nhưng đường nhựa chỉ chiếm vỏn vẹn 9,3%, đường cấp phối và đá dăm chiếm 24,6%, còn lại phần lớn là đường đất; có tới 5 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã. Tỷ lệ nghèo đói tại các xã thuộc Chương trình 135 lên tới 31,01%, khiến phụ nữ vùng sâu vùng xa tiếp tục duy trì tập quán sinh con tại nhà không có cán bộ y tế hỗ trợ.

Thứ tư, tư tưởng phụ hệ và định kiến "trọng nam khinh nữ" tiếp tục duy trì khoảng cách quyền lực giới. Hủ tục gả bán hôn nhân từ 13 đến 15 tuổi tuy đã giảm nhưng tập quán phân biệt giới tính vẫn bám rễ sâu, thể hiện qua các biểu tượng văn hóa dân gian như tập tục chôn nhau thai của người H'Mông (con trai chôn ở chân cột nhà chính, con gái chôn dưới gầm giường), tước bỏ vai trò quyết định quy mô gia đình của người vợ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ nền tảng kinh tế tự cấp tự túc, phụ thuộc lớn vào canh tác nương rẫy với 82,55% diện tích đất nông nghiệp là trồng cây hàng năm. Mức thu nhập bình quân đầu người của tỉnh năm 2005 chỉ đạt 2,6 triệu đồng (khoảng 350 USD) và năm 2010 đạt 5,7 triệu đồng (trên 500 USD). Nền sản xuất thủ công đòi hỏi nguồn lao động cơ bắp trực tiếp đã củng cố tâm lý muốn sinh nhiều con và kỳ vọng sinh con trai để làm trụ cột kinh tế.

Khi so sánh với các nghiên cứu tại vùng đồng bằng sông Hồng hay khu vực đô thị, nơi chỉ số mù chữ ở mức thấp và phụ nữ độc lập kinh tế cao hơn, tình trạng bất bình đẳng giới tại Cao Bằng chịu tác động cộng hưởng từ yếu tố địa hình đồi núi chiếm 90% diện tích và sự đa dạng về ngôn ngữ của 28 dân tộc. Để minh họa trực quan, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua biểu đồ hình cột so sánh tỷ suất sinh và số con trung bình giữa 5 nhóm dân tộc chính (H'Mông, Dao, Sán Chay, Nùng, Tày), đồng thời kết hợp biểu đồ tròn mô tả cơ cấu phân chia trách nhiệm áp dụng các biện pháp tránh thai giữa nam giới và nữ giới, phản ánh rõ nét khoảng cách giới trong kiểm soát sinh sản.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường các chiến dịch truyền thông thay đổi hành vi hướng trực tiếp đến đối tượng nam giới. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nam giới chủ động sử dụng biện pháp tránh thai lên ít nhất 30% trong giai đoạn 2011-2015. Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Cao Bằng cần phối hợp với Hội Nông dân và Đoàn Thanh niên biên soạn tài liệu truyền thông song ngữ bằng tiếng Mông, Tày, Nùng, Dao và phát thanh qua hệ thống loa truyền thanh phủ sóng đến 100% các xã.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao năng lực cho mạng lưới y tế cơ sở tại 180 xã vùng cao. Sở Y tế tỉnh Cao Bằng cần phân bổ kinh phí đào tạo, đảm bảo 100% trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi trước năm 2015, kết hợp duy trì chế độ phụ cấp định kỳ cho đội ngũ nhân viên y tế thôn bản tại 199 xã, phường nhằm cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản lưu động đến tận các hộ gia đình vùng sâu.

Thứ ba, triển khai các chương trình tín dụng vi mô gắn với tiêu chí bình đẳng giới và kế hoạch hóa gia đình. Ngân hàng Chính sách Xã hội phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Cao Bằng ưu tiên giải ngân vốn vay phát triển kinh tế hộ gia đình cho phụ nữ nghèo tại các xã Chương trình 135 (nơi tỷ lệ nghèo đạt 31,01%), với điều kiện cam kết thực hiện mô hình gia đình dừng lại ở 1 đến 2 con để nuôi dạy tốt, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh mỗi năm từ 3% đến 4%.

Thứ tư, đưa quy định về bình đẳng giới và nghiêm cấm phân biệt giới tính khi sinh vào hệ thống hương ước, quy ước của 100% thôn, bản, xóm trước năm 2015. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã chỉ đạo các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong dòng họ thực hiện xóa bỏ hoàn toàn hủ tục tảo hôn, phấn đấu nâng tỷ lệ gia đình đạt chuẩn "Gia đình văn hóa" lên mức 65% đến 70% vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ chuyên trách công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và Chăm sóc sức khỏe sinh sản: Tài liệu cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực chứng tại 12 huyện, thị xã, giúp cán bộ cấp cơ sở xây dựng kế hoạch truyền thông phù hợp với đặc tính văn hóa của từng nhóm dân tộc thiểu số như H'Mông, Dao, Nùng, Tày.

Nhóm cán bộ làm công tác Hội Phụ nữ và cơ quan quản lý nhà nước về Bình đẳng giới: Luận văn hỗ trợ luận cứ thực tiễn để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền ban hành các nghị quyết chuyên đề về nâng cao quyền tự quyết của phụ nữ dân tộc thiểu số trong hôn nhân và đời sống gia đình.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học và Nhân học: Công trình là tài liệu học thuật có cấu trúc chuẩn mực về việc ứng dụng học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc phân tích các biến đổi xã hội vùng cao biên giới.

Nhóm các tổ chức phi chính phủ và các nhà tài trợ dự án phát triển cộng đồng: Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về mối tương quan giữa hạ tầng nông thôn (tỷ lệ đường nhựa 9,3%, 5 xã chưa có đường ô tô) với chất lượng dân số, phục vụ công tác thiết kế các can thiệp y tế và bình đẳng giới tại miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Bình đẳng giới trong công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình được hiểu cụ thể như thế nào? Bình đẳng giới trong lĩnh vực này là việc người vợ và người chồng có quyền và trách nhiệm ngang nhau trong việc thảo luận, quyết định số con, thời điểm sinh, khoảng cách giữa các lần sinh và cùng chia sẻ việc áp dụng các biện pháp tránh thai an toàn, không phân biệt đối xử giữa con trai và con gái theo quy định tại Điều 18 Luật Bình đẳng giới.

Tại sao tỷ suất sinh của phụ nữ dân tộc H'Mông tại Cao Bằng lại ở mức rất cao từ 10 đến 12 con? Nguyên nhân xuất phát từ điều kiện địa lý hẻo lánh, giao thông cách trở (5 xã chưa có đường ô tô), tỷ lệ mù chữ và nghèo đói vùng 135 lên tới 31,01%, kết hợp với phong tục phụ hệ truyền thống xem con cái là nguồn lao động nông nghiệp chính và tư tưởng phải có con trai nối dõi tông đường.

Trách nhiệm của nam giới trong công tác kế hoạch hóa gia đình tại Cao Bằng hiện nay ra sao? Trách nhiệm của nam giới còn rất hạn chế khi hơn 85% gánh nặng tránh thai vẫn đặt lên vai phụ nữ; nam giới còn e ngại các biện pháp như bao cao su hay triệt sản nam do định kiến xã hội và thiếu hụt thông tin y tế, dẫn đến tình trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản thiếu sự phối hợp từ hai phía.

Học thuyết Mác - Lênin lý giải nguồn gốc của sự bất bình đẳng giới như thế nào? Theo Ph.Ăng-ghen, sự bất bình đẳng giới bắt nguồn từ yếu tố kinh tế khi chế độ tư hữu xuất hiện, tạo nên sự phân công lao động phụ quyền; để xóa bỏ tình trạng này, phụ nữ phải được giải phóng khỏi công việc nội trợ đơn thuần và tham gia tích cực vào nền sản xuất xã hội bình đẳng với nam giới.

Chính sách dân số hiện hành quy định quyền sinh sản của cặp vợ chồng như thế nào? Theo Điều 10 Pháp lệnh Dân số năm 2003, mỗi cặp vợ chồng có quyền tự nguyện quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe và điều kiện kinh tế, đồng thời có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp tránh thai và bảo vệ sức khỏe sinh sản một cách có trách nhiệm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và khung pháp lý Việt Nam về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực dân số và gia đình.
  • Phản ánh trung thực thực trạng công tác dân số tại Cao Bằng trên địa bàn 12 huyện thị với quy mô hơn 522.000 dân thuộc 28 dân tộc, chỉ rõ các điểm nghẽn về hạ tầng (9,3% đường nhựa) và kinh tế (21% hộ nghèo).
  • Làm sáng tỏ khoảng cách giới sâu sắc khi phụ nữ dân tộc thiểu số phải gánh vác trên 85% trách nhiệm tránh thai trong điều kiện mức sinh của một số nhóm dân tộc còn rất cao (10-12 con).
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, bao gồm truyền thông cho nam giới, nâng cấp mạng lưới y tế tại 180 xã và lồng ghép chỉ tiêu bình đẳng giới vào hương ước thôn bản.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng giúp địa phương hoàn thiện chiến lược dân số giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn 2020 nhằm xây dựng quy mô gia đình ít con, no ấm, tiến bộ và hạnh phúc bền vững.

Các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và cán bộ phụ trách công tác xã hội có thể tiếp tục khai thác toàn văn công trình nghiên cứu này để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn phát triển cộng đồng tại các địa bàn miền núi khó khăn.