CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH VẬN TẢI XĂNG DẦU 1.1 Một số vấn đề về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Quan niệm và phân loại chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Quan niệm về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Như đã biết, để phối hợp tốt nhất hoạt động của các chủ thể kinh tế là phải xác định trước mục tiêu, nhiệm vụ thống nhất. Như vậy, xác định mục tiêu là một điều kiện không thể thiếu được của hoạt động hiệp tác. Vấn đề đặt ra là, sẽ lựa chọn biện pháp nào trong số nhiều biện pháp để đạt tới mục tiêu? Việc xác định các biện pháp hành động, từ đó lựa chọn được phương án tối ưu để đạt được mục tiêu gọi là xác định chiến lược. Như vậy, chiến lược là một chương trình hành động tổng quát, dài hạn để đạt được mục tiêu đã xác định.
Trong kinh doanh, xác định chiến lược là xác định những mục tiêu đạt tới của doanh nghiệp; các bước đi giải quyết mục tiêu đó, đồng thời xác định hệ thống những tiền đề đảm bảo thực hiện mục tiêu, phù hợp với mỗi bước đi của quá trình kinh doanh. Thực chất của xác định chiến lược kinh doanh là, trên cơ sở phân tích và dự báo đúng đắn, đưa ra được những định hướng hành động, giải pháp phù hợp để đạt được mục đích của doanh nghiệp. Có nhiều định nghĩa về chiến lược, mỗi định nghĩa có ít nhiều điểm khác nhau tuỳ thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả. Tựu trung lại có thể chia thành 3 nhóm quan điểm về chiến lược kinh doanh như sau: Nhóm thứ nhất coi chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật.
Đại diện cho khuynh hướng này là Michael Porter – giáo sư của Đại học Havard – Hoa kỳ.Porter cho rằng : “ Chiến lược là lợi thế tạo lập lợi thế cạnh tranh ”. Một người khác của trường phái này là Alain Thietart cho rằng “Chiến lược là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để chống lại cạnh tranh dành thắng lợi’’ Nhóm thứ hai coi chiến lược kinh doanh là một dạng đặc biệt của kế hoạch. Bizzel: Chiến lược là một loại kế hoạch tổng quát dẫn dắt sự định hướng doanh nghiệp đi đến mục tiêu mong muốn, là cơ sở để định ra các chính sách và thủ pháp tác nghiệp.Glueck: Chiến lược kinh doanh là một loại kế hoạch mang tính thống nhất, tổng hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp được thực hiện. Các nhà kinh tế Việt Nam cũng coi chiến lược kinh doanh là một loại kế hoạch dài hạn.
Nhóm thứ ba coi chiến lược kinh doanh vừa là một dạng kế hoạch vừa là một nghệ thuật. Trong số các quan điểm về chiến lược kinh doanh thì quan điểm của M. Porter có tính thực tiễn hơn đối với doanh nghiệp.Porter cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt. Cốt lõi của việc thiết lập vị thế chiến lược cho doanh nghiệp là việc lựa chọn các hoạt động khác so với các nhà cạnh tranh.
Chiến lược kinh doanh là sự lựa chọn, đánh đổi trong cạnh tranh. Điểm cốt lõi là lựa chọn những gì phải thực hiện và những gì không thực hiện. Chiến lược kinh doanh là sự tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của doanh nghiệp. Sự thành công của chiến lược phụ thuộc vào việc thực hiện tốt các hoạt động và sự hợp nhất của chúng”.
Tổng hợp những quan điểm khác nhau có thể thấy, chiến lược kinh doanh là vạch đường lối hoạt động và tổ chức phối hợp các nguồn lực của doanh nghiệp, phù hợp với sự biến động của thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn trong kinh doanh của doanh nghiệp.2 Phân loại chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Theo phương pháp tiếp cận hệ thống, chiến lược có thể tiến hành ở 3 cấp cơ bản: cấp doanh nghiệp, cấp kinh doanh và cấp bộ phận chức năng, tiến trình xây dựng, quản trị chiến lược ở mỗi cấp có hình thức giống nhau gồm các giai đoạn cơ bản: phân tích môi trường xác định nhiệm vụ và mục tiêu, phân tích và lựa chọn 8 chiến lược, tổ chức thực hiện và kiểm tra chiến lược, nhưng nội dung từng giai đoạn và ra quyết định phụ thuộc vào nhà quản trị là khác nhau. Chiến lược cấp công ty Chiến lược cấp công ty xác định những định hướng của tổ chức trong dài hạn nhằm hoàn thành nhiệm vụ, đạt được các mục tiêu tăng trưởng, ví dụ: chiến lược tăng trưởng tập trung (thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, phát triển sản phẩm mới), chiến lược tăng trưởng hội nhập (phía trước, phía sau), chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá (đồng tâm, hàng ngang, hỗn hợp), chiến lược liên doanh v. Trên cơ sở chiến lược cấp công ty, các tổ chức s ẽ triển khai các chiến lược riêng của mình. Chiến lược cấp kinh doanh Chiến lược cấp kinh doanh trong một công ty có thể là một ngành kinh doanh hay một chủng loại sản phẩm v.Chiến lược này nhằm định hướng phát triển từng ngành hay từng chủng loại s ản phẩm góp phần hoàn thành chiến lược cấp công ty, phải xác định rõ lợi thế của từng ngành so với đối thủ cạnh tranh để đưa ra chiến lược phù hợp với chiến lược cấp công ty, ví dụ: chiến lược tạo s ự khác biệt, chiến lược chi phí thấp, chiến lược phòng thủ để cũng cố thị trường, chiến lược tấn công để phát triển thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt thì chiến lược marketing được xem là chiến lược cốt lõi của cấp đơn vị kinh doanh, đóng vai trò liên kết với các chiến lược của các bộ phận chức năng khác. Chiến lược cấp chức năng Các công ty đều có các bộ phận chức năng như: marketing, nhân sự, tài chính, sản xuất, nghiên cứu và phát triển v.Các bộ phận này cần có chiến lược để hỗ trợ thực hiện chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và cấp công ty, ví dụ: bộ phận marketing có chiến lược 4Ps , bộ phận nhân sự có chiến lược thu hút người tài giỏi về công ty, bộ phận tài chính có chiến lược giảm thiểu chi phí, chiến lược đầu tư cho sản phẩm mới v.v…Chiến lược cấp chức năng thường có giá trị trong từng thời đoạn của quá trình thực hiện chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và cấp công ty. 9 Như vậy các chiến lược của 3 cấp cơ bản này không độc lập mà có mối quan hệ chặc chẽ với nhau, chiến lược cấp trên là tiền đề cho chiến lược cấp dưới, đồng thời chiến lược cấp dưới phải thích nghi với chiến lược cấp trên thì tiến trình thực hiện chiến lược mới có khả năng thành công và đạt hiệu quả.2 Yêu cầu đối với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Thứ nhất, xác định chiến lược kinh doanh phải phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, đòi hỏi phải xác định rõ các nguồn lực của doanh nghiệp.
Như đã biết, các yếu tố quyết định đến thành bại của doanh nghiệp cơ bản bao gồm: nguồn vốn, nguồn nhân lực và tiềm lực khoa học - công nghệ, trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quyết định nhất. Nguồn nhân lực đó sẽ quyết định phương hướng, nội dung, bước đi và biện pháp kinh doanh của doanh nghiệp; quyết định lựa chọn các yếu tố đầu vào, các nguồn lực khác để thực hiện; quyết định việc tổ chức và thực hiện quá trình kinh doanh, tức là đưa ra các giải pháp, biện pháp hổ trợ hữu hiệu cho chiến lược đã chọn. Chiến lược mà doanh nghiệp chọn thường do Ban giám đốc doanh nghiệp mà cao nhất là giám đốc quyết định. Tuy nhiên những biến động trong thực tế kinh doanh khiến cho các giải pháp, biện pháp đó chọn khó phát huy tác dụng, nếu chúng ta không dự trù các giải pháp, biện pháp thay thế.
Trong quá trình thực hiện, phải kết hợp hai loại chiến lược có chủ định và chiến lược phát khởi. Mô thức đó là một sản phẩm kết hợp giữa chiến lược có chủ định và chiến lược phát khởi ngoài dự kiến ban đầu của nhà hoạch định chiến lược. Đây là quan điểm hiện đại của khái niệm chiến lược. Thứ hai, chiến lược kinh doanh phải tạo được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Việc lập chiến lược phải đảm bảo công ty dành được ưu thế bền vững và ít nhất là cầm cự được lâu dài đối với đối thủ cạnh tranh. Chiến lược kinh doanh phải xác đinh các mục tiêu và khả năng thực hiện mục tiêu: chiến lược công ty nếu không triển khai thành hệ thống các mục tiêu cụ thể sẽ không thể thực hiện được. 10 Thứ ba, chiến lược kinh doanh phải đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Các tác động của môi trường kinh doanh thường mang lại rủi ro đe dọa hơn là tạo cơ hội cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Xây dựng được chiến lược phải đề ra được các biện pháp nhằm hạn chế hay giảm đến mức thấp nhất những bất lợi, giúp doanh nghiệp đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Mặt khác, chiến lược kinh doanh phải dự báo được môi trường kinh doanh sắp tới: Dự báo môi trường kinh doanh giúp doanh nghiệp hoạt động hữu hiệu hơn trong tương lai. Doanh nghiệp phải thu thập, phân tích và xử lý các thông tin thị trường, thông tin về nhà cung cấp về đối thủ và nhất là về nhu cầu của khách hàng để dự báo tình hình của doanh nghiệp một cách cá hiệu quả. Thứ tư, đảm bảo tính kế thừa và liên tục của chiến lược kinh doanh.
Cái mới ra đời không phải từ số không. Khi nghiên cứu quy luật phủ định của phủ định, trường phái triết học Mác - xít cho rằng, phủ định mang tính khách quan, là điều kiện của sự phát triển. Mặt khác, nó mang tính kế thừa, là nhân tố liên hệ giữa cái cũ và cái mới. Đó là phủ định biện chứng.
Như vậy phủ định biện chứng không phải là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái bị phủ định. Trái lại, để dẫn tới sự ra đời của cái mới, quá trình phủ định biện chứng bao hàm trong nó những nội dung, những nhân tố tích cực của cái bị phủ định. Để xác định chiến lược kinh doanh đúng đắn đòi hỏi phải tuân theo quy luật trên. Khi điều kiện của doanh nghiệp, trong nước và quốc tế thay đổi, đòi hỏi chiến lược kinh doanh cũng phải thay đổi theo cho phù hợp với những điều kiện đó.