Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến việc chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty cổ phần Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân và thực tiễn áp dụng chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty cổ phần Chương 3: Hoàn thiện pháp luật chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty cổ phần. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát chuyển đổi loại hình Doanh nghiệp Trên thế giới, “muốn kinh doanh thương nhân phải chọn lấy một trong số những loại hình mà người làm luật quy định, thường đa dạng, tùy theo pháp luật của từng nước song có thể quy nạp vào ba loại chính: công ty, hợp danh và cá nhân kinh doanh”[27, tr 199]. Tùy vào ý đồ, quy mô, dự tính kinh doanh, nhà đầu tư có quyền lựa chọn cho mình mô hình doanh nghiệp phù hợp, ý tưởng này có thể thực hiện ngay khi thành lập doanh nghiệp hoặc trong quá trình kinh doanh nhà đầu tư có thể thay đổi mô hình doanh nghiệp bằng cách chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
Việc thay đổi loại hình doanh nghiệp đôi khi cũng do pháp luật bắt buộc phải thực hiện. Muốn chuyển đổi doanh nghiệp, trước hết cần hiểu thuật ngữ “doanh nghiệp”. Nhìn từ góc độ ngôn ngữ, từ “enterprise” của Tiếng Anh thường được dịch là sang tiếng Việt là “doanh nghiệp”. Trong cuốn từ điển Deluxe’s Black Law Dictionary, “enterprise” được hiểu là: Bất kỳ cá nhân (individual), hợp danh (partnership), công ty đối vốn (corporation), hội đoàn (association), hoặc pháp nhân nào khác, và bất kỳ hiệp hội hay nhóm các cá nhân nào liên kết lại bởi một sự kiện dù không tạo thành một pháp nhân [50].
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thuật ngữ “Doanh nghiệp” hiện nay được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong lĩnh vực pháp lý từ này thường được dùng để chỉ: (1) một loại hành vi thương mại hoặc (2) các thực thể kinh doanh nói chung; hoặc (3) tập hợp tài sản có của một thương nhân nào đó được khai thác cho mục đích thương mại.Tuy nhiên cần hiểu rõ rằng nhiều đạo luật về doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay thường sử dụng thuật ngữ doanh nghiệp theo nghĩa thứ hai nêu trên [8, tr 29]. Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, trình độ lập pháp, trình độ quản lý xã hội và mức độ đảm bảo quyền công dân…mà quy định những loại hình doanh nghiệp theo đó cá nhân, tổ chức được lựa chọn thành lập. Do vậy, để hiểu vấn đề chuyển đổi doanh nghiệp thì có thể thông qua việc tổng hợp, phân loại các trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp, điều này có ý nghĩa hết sức cần thiết. Hiện nay, dựa trên tiêu chí chế độ trách nhiệm của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp, chúng ta có thể chia ra làm các trường hợp chuyển đổi sau: (1) Chuyển đổi hình thức giữa doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn với nhau.
(2) Chuyển đổi hình thức giữa doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn với nhau. (3) Chuyển đổi hình thức từ doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn thành doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn và ngược lại. Trong số đó, việc chuyển đổi hình thức doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn sang hình thức doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn không ảnh hưởng đến chủ nợ. Nhưng điều đáng quan tâm là nếu chuyển đổi 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngược lại thì có thể ảnh hưởng tới chủ nợ.
Nguyên lý cơ bản có thể áp dụng trong trường hợp này là các thành viên vẫn phải chịu trách nhiệm theo chế độ cũ như trước khi chuyển đổi đối với các khoản nợ phát sinh trong giai đoạn trước đó. Vì lẽ doanh nghiệp được hình thành dựa trên cơ sở tự do ý chí, nên việc chuyển đổi doanh nghiệp được tự do từ bất kể từ hình thức này sang hình thức nào khác. Và nếu pháp luật muốn hạn chế hay ngăn cản thì phải tìm được lý do chính đáng từ phía lợi ích chung của xã hội. Và cần lưu ý rằng việc chuyển đổi doanh nghiệp không tạo ra pháp nhân mới mà chỉ là thay đổi về hình thức.
Nguyên tắc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp Trong hệ thống pháp luật luôn tồn tại những nguyên tắc pháp luật. Montesquieu đã từng viết trong Lời tựa cuốn Bàn về tinh thần pháp luật: Trước tiên, tôi xem xét người đời, và tôi tin rằng trong vô số luật lệ và phong tục rất khác nhau, con người không chỉ tuân theo nó một cách ngẫu hứng. Tôi đã đề ra những nguyên tắc, tôi thấy các trường hợp cá biệt đều theo nguyên tắc. Lịch sử các dân tộc chỉ là những sự nối tiếp và mỗi luật lệ cá biệt đều liên quan đến một luật lệ khác, hoặc là luật lệ thuộc vào một quy luật chung hơn [11] Nhìn tổng quan, nguyên tắc pháp luật là nền tảng của hệ thống pháp luật, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hệ thống pháp luật.
Một hệ thống pháp luật từ đơn giản đến phức tạp, đều được thiết lập dựa trên những nguyên tắc nhất định. Hệ thống pháp luật được thiết lập dựa trên hệ thống các nguyên tắc pháp luật, do đó, nguyên tắc pháp luật như hệ thống xương cốt làm giá đỡ cho 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com toàn bộ hệ thống pháp luật. Nhắc đến pháp luật doanh nghiệp, trong vấn đề chuyển đổi loại hình doanh nghiệp được pháp luật điều chỉnh cũng phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đảm bảo tính thống nhất trong xây dựng và thực thi pháp luật. Bản chất của chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là một giao dịch pháp lý, việc chuyển đổi này chỉ làm thay đổi kết cấu hình thức kết cấu của doanh nghiệp do vậy từ đó chúng ta có thể xác định được nguyên tắc quan trọng của việc chuyển đổi đó là: nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người thứ ba (trật tự công, chủ nợ, đối tác và người lao động) và nguyên tắc kế thừa quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp được chuyển đổi.
Một là Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba. Do việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp có thể có tác động đến các chủ thể mà pháp luật cần bảo vệ, đồng thời Hiến pháp Việt Nam cũng định rằng “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.” (khoản 4 Điều 15 Hiến pháp 2013), cho nên pháp luật chuyển đổi doanh nghiệp cần đặt ra nguyên tắc tối thượng này bằng cách quy định các quy định điều kiện, thủ tục chuyển đổi chặt chẽ nhằm bảo vệ các đối tượng, giá trị nhất định, bên cạnh đó cũng cần có cơ chế kiểm tra, kiểm soát việc chuyển đổi. Hai là nguyên tắc kế thừa quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được chuyển đổi. Chuyển đổi doanh nghiệp là trường hợp chấm dứt doanh nghiệp rất đặc biệt, bởi nó không làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ mà nó đã tạo lập ra trong quá trình hoạt động.
Xuất phát từ khái niệm chuyển đổi doanh nghiệp là chuyển đổi hình thức kết cấu của doanh nghiệp trên cơ sở sự lựa chọn hoặc theo quy định của pháp luật mà do đó việc chuyển đổi không làm chấm dứt 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hay thay đổi nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp đó, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được chuyển đổi phải được kế thừa cho doanh nghiệp chuyển đổi đến. Việc đảm bảo nguyên tắc chuyển đổi doanh nghiệp sẽ mang ý nghĩa giải quyết được mọi vấn đề trong quá trình chuyển đổi từng loại hình doanh nghiệp cụ thể. Riêng đối với chuyển đổi doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn sang doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn, do việc chuyển đổi này làm hạn chế nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp chuyển đổi, cho nên nguyên lý cơ bản có thể áp dụng trong trường hợp này là các thành viên vẫn phải chịu trách nhiệm theo chế độ cũ như trước khi chuyển đổi đối với các khoản nợ phát sinh trong giai đoạn trước đó. Trước khi quyết định chuyển đổi, Chủ DNTN phải thanh toán đầy đủ các khoản nợ đã đến hạn, trường hợp còn các khoản nợ chưa đến hạn thì chủ DNTN phải có cam kết trả nợ bằng toàn bộ tài sản cá nhân của mình và cam kết thanh toán khi đến hạn.
Khái niệm, bản chất và đặc điểm pháp lý, vai trò và ý nghĩa của việc chuyển đổi của Doanh nghiệp tƣ nhân thành Công ty cổ phần Xã hội nào cũng có phương thức tổ chức kinh doanh riêng, khi con người chỉ biết đến nghề nông thì những cá nhân đơn lẻ có sự trợ giúp của cộng đồng là hình thức kinh doanh chủ yếu. Khi con người mở rộng thương mại và công nghiệp, có nhu cầu san sẻ rủi ro, huy động vốn và tổ chức kinh doanh lớn, khi đó mới cần tới mô hình các công ty thương mại. Như vậy tổ chức kinh doanh chính là cách thức một xã hội tổ chức các hoạt động kinh tế của mình. Từ xưa đến nay, “muốn kinh doanh thương nhân phải chọn lấy một trong số những loại hình mà người làm luật quy định, thường đa dạng, tùy theo 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp luật của từng nước song có thể quy nạp vào ba loại chính: công ty, hợp danh và cá nhân kinh doanh” [27, tr 199].
Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật để ứng dụng thực tiễn, vấn đề pháp lý chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty cổ phần chúng ta cần xem xét coi đây là chuyển đổi mô hình tổ chức kinh doanh từ loại này sang loại khác, bởi hiện nay trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 Doanh nghiệp tư nhân đang được coi là một doanh nghiệp – tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở, được thành lập hợp pháp nhằm mục đích kinh doanh. Khái niệm chuyển đổi Doanh nghiệp tƣ nhân thành Công ty cổ phần Hiện nay theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, vấn đề chuyển đổi doanh nghiệp đã được ghi nhận tại Chương IX Tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp.