CHƯƠNG 1 1. Mua bán doanh nghiệp không chỉ làm thay đổi tình trạng sở hữu doanh nghiệp mà mua bán doanh nghiệp phải dẫn đến hệ quả bên mua doanh nghiệp sẽ kiểm soát được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được mua lại. Để kiểm soát được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì bên mua doanh nghiệp tối thiểu phải sở hữu tỷ lệ vốn nhất định (gọi là tỷ lệ vốn chi phối) của chủ sở hữu doanh nghiệp mục tiêu. Tỷ lệ vốn chi phối để kiểm soát được hoạt động của doanh nghiệp được quy định tại các văn bản pháp luật hoặc quy định tại Điều lệ doanh nghiệp được mua lại.
Vì vậy, mua bán doanh nghiệp có những đặc điểm khác với mua bán tài sản, mua bán nợ của doanh nghiệp và các hình thức đầu tư tài chính chưa hình thành quyền kiểm soát, chi phối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mua bán doanh nghiệp có bản chất của mua bán tài sản nhưng “doanh nghiệp”- đối tượng của thương vụ mua bán doanh nghiệp là một tài sản “đặc biệt” và mua bán doanh nghiệp có những đặc thù riêng trong mối tương quan so sánh với một số quan hệ pháp luật có nhiều điểm gần với mua bán doanh nghiệp. Mua bán doanh nghiệp có ảnh hưởng khác nhau tới các bên mua bán doanh nghiệp và nền kinh tế- xã hội. Do vậy, yêu cầu của việc xây dựng khung pháp lý về mua bán doanh nghiệp vừa phải dựa trên nền tảng về tự do giao kết hợp đồng mua bán tài sản theo những nguyên tắc của dân luật đồng thời phải được thiết kế để phù hợp với những đặc điểm riêng của mua bán doanh nghiệp.
Khung pháp lý về mua bán doanh nghiệp phải ghi nhận các hình thức mua bán doanh nghiệp; điều kiện chủ thể mua bán doanh nghiệp; điều kiện khác để thương vụ mua bán doanh nghiệp có giá trị pháp lý; thủ tục mua bán doanh nghiệp. Đặc biệt, việc xác định thị trường liên quan và các tiêu chí kiểm soát mua bán doanh nghiệp (với tính chất là một trong những hành vi tập trung kinh tế) để hạn chế những tác hại đến cạnh tranh trên thị trường từ các thương vụ mua bán doanh nghiệp là yêu cầu bắt buộc khi xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp ở tất cả các quốc gia. Khoá luận này đặt ra giới hạn khi nghiên cứu các quy định của pháp luật về mua bán doanh nghiệp. Theo đó thì pháp luật về mua bán doanh nghiệp là hệ thống các 17 quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hội phát sinh giữa bên mua, bên bán doanh nghiệp trong việc ký kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp và quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với doanh nghiệp trong việc đăng ký thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc thực hiện kiểm soát Nhà nước về tập trung kinh tế.
Nội dung cụ thể của pháp luật về mua bán doanh nghiệp bao gồm: quy định về các hình thức mua bán doanh nghiệp; quy định về chủ thể với vai trò là bên bán, bên mua doanh nghiệp; quy định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp; quy định về thủ tục mua bán doanh nghiệp; quy định về kiểm soát doanh nghiệp dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh. 18 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định riêng biệt về hoạt động mua bán doanh nghiệp mà pháp luật về mua bán doanh nghiệp lại là một chế định pháp luật được quy định rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như LDN, LCT,.Vì vậy, để có thể nghiên cứu được các quy định pháp luật về mua bán doanh nghiệp đòi hỏi phải tiếp cận ở nhiều văn bản khác nhau để đạt được hiệu quả nghiên cứu cao nhất. Nội dung cơ bản về quy định pháp luật về mua bán doanh nghiệp mà khoá luận này sẽ tập trung nghiên cứu bao gồm: quy định về các hình thức mua bán doanh nghiệp; quy định về chủ thể mua bán doanh nghiệp; quy định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp, kiểm soát mua bán doanh nghiệp dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh ; quy định về thủ tục mua bán doanh nghiệp và hệ quả pháp lý của giao dịch mua bán doanh nghiệp. Quy định pháp luật liên quan đến hình thức mua bán doanh nghiệp Pháp luật Việt Nam quy định tại khoản 4 điêu 29 LCT 2018 “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại.
Như vậy, có thể thấy, mua bán hay mua lại doanh nghiệp có hai hình thức là mua bán toàn bộ doanh nghiệp hoặc mua bán một phần doanh nghiệp, việc mua bán có thể tiến hành thông qua mua bán cổ phần, phần vốn góp và tài sản. Hình thức mua bán toàn bộ doanh nghiệp thông qua việc mua cổ phần, phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp Căn cứ khái niệm mua bắn doanh nghiệp, có thể hiểu: “Mua bán toàn bộ doanh nghiệp là trường hợp mua bán doanh nghiệp mà trong đó tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp của các cổ đông, thành viên, chủ sở hữu của 19 doanh nghiệp để kiểm soát, chi phối việc ra quyết định của doanh nghiệp hoặc thâu tóm hoàn toàn doanh nghiệp”. Đặc điểm của mua bán toàn bộ doanh nghiệp thông qua mua cổ phần, vốn góp Từ các quy định pháp luật đã nghiên cức, tác giả cho rằng hình thức mua bán toàn bộ doanh nghiệp thông qua việc mua cổ phần, phần vốn góp của các cổ đông, thành viên có các đặc điểm như sau: (i) LDN 2020 quy định chỉ có chủ thể sở hữu doanh nghiệp mới có quyền bán doanh nghiệp. Chủ sở hữu doanh nghiệp có thể bao gồm: chủ sở hữu DNTN, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, cổ đông CTCP, các thành viên của CTTNHHHTV trở lên; trong khi đó, bên mua doanh nghiệp là tổ chức, cá nhận nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp, vốn điều lệ, toàn bộ cổ phần có quyền biểu quyết hoặc mua toàn bộ vốn đầu tư của chủ DNTN.
(ii) Mua bán doanh nghiệp có thể xác lập dưới nhiều phương thức: chuyển nhượng cổ phần, vốn góp, mua bán doanh nghiệp tư nhân, tương ứng với đó là các hình thức hợp đồng, cụ thể là hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hay là hợp đồng mua bán DNTN. (iii) Đối tượng của giao dịch mua bán doanh nghiệp cũng chính là quyền kiểm soát, chi phối các doanh nghiệp. Việc bán doanh nghiệp chỉ làm thay đổi chủ sở hữu và hệ thống cơ cấu quản lý doanh nghiệp bởi vậy nên các doanh nghiệp vẫn tồn tại liên tục, tư cách pháp lý và mã số doanh nghiệp không thay đổi sau khi bị mua lại. (iv) Sau khi nhận chuyển nhượng cổ phần, vốn góp, bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ phải làm thủ tục đăng ký thay đổi nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp với nội dung thay đổi thành viên, thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp theo quy định của pháp LDN hiện hành.
Đánh giá quy định pháp luật a) Ưu điểm (i) Các quy định liên quan đến hình thức này đã kế thừa và tiếp tục các quy định phù hợp của LDN 2014, LCT 2004 và các văn bản pháp lý khác về xác định quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp, các hạn chế liên quan đến việc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp,…tạo sơ cơ pháp lý để các chủ thể mua bán áp dụng và cơ quan nhà nước có cơ sở để xem xét, quản lý. (ii) Xuất phát từ đặc điểm pháp lý khác nhau, phương thức mua bán từng loại hình doanh nghiệp cũng có các đặc điểm khác nhau, ví dụ: LDN quy định đối với CTTNHHHTV trở lên thì trước khi chuyển nhượng cho cá nhân, tổ chức khác thì thành viên công ty phải “Chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện chào bán”, trong khi với CTCP thì cổ đông có thể tự do chuyển nhượng cho bất cứ cá nhân, tổ chức nào; song, với từng loại hình doanh nghiệp, pháp luật cũng có đã các quy định định hướng cụ thể. b) Hạn chế (i) Các quy định pháp luật liên quan đến hình thức mua bán này có sự khác biệt đối với từng loại hình doanh nghiệp, mà mỗi doanh nghiệp lại có đặc điểm pháp lý khác nhau, điều này đòi hỏi các bên mua bán phải tìm hiểu kỹ, nếu không sẽ dễ bị nhầm lẫn, sai sót trong quá trình áp dụng. Ví dụ, Khoản 1 Điều 53 LDN 2020 quy định: “thành viên Công ty TNHH phải ưu tiên chuyển nhượng cho các thành viên khác trong Công ty TNHH trước khi có quyền chào bán cho bên thứ ba”.
Khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Đối với CTCP, hạn chế chuyển nhượng cổ phần chủ yếu áp dụng đối với cổ đông sáng lập và cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ đông sáng lập không được phép chuyển nhượng cổ phần phổ thông cho người không phải là cổ đông sáng lập trong vòng 3 năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trừ khi được sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông”. Như vậy, việc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp có một số lưu ý đòi hỏi các bên phải tìm hiểu 21 trước khi thực hiện mua bán doanh nghiệp. Do vậy, các bên cần nghiên cứu kỹ các quy định này khi thực hiện mua bán doanh nghiệp, tránh tình trạng áp dụng trái với các quy định pháp luật về chuyển nhượng với từng loại hình doanh nghiệp. (ii) Riêng đối với loại hình doanh nghiệp là CTCP, có nhiều quan điểm cho rằng việc mua bán toàn bộ doanh nghiệp là mua lại toàn bộ cổ phần có quyền biểu quyết hay phải mua toàn bộ cổ phần của công ty (bao gồm cả cổ phần có quyền biểu quyết và các cổ phần khác)?