Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A) đã trở thành một xu thế phổ biến trong nền kinh tế thị trường toàn cầu. Theo báo cáo thường niên của Pitchbook (2021), giá trị các thương vụ M&A toàn cầu năm 2021 đã vượt qua mức đỉnh được thiết lập gần 15 năm trước đó. Tại Việt Nam, thị trường M&A phát triển mạnh mẽ từ năm 2007 sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), với sự tham gia của các tập đoàn lớn như Masan, Vingroup, Vinamilk, Gelex, REE, Thaco, PAN Group, Kido Group. Sau giai đoạn chậm lại vào năm 2020 do dịch bệnh Covid-19 và các vướng mắc về thủ tục đất đai, định giá doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, hoạt động mua bán doanh nghiệp phục hồi từ năm 2021 gắn liền với làn sóng dịch chuyển vốn đầu tư quốc tế (chiến lược China Plus One).
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam hiện chưa được quy định trong một văn bản độc lập mà nằm rải rác trong nhiều đạo luật khác nhau (Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Cạnh tranh 2018, Luật Đầu tư 2020). Thực tiễn thực thi bộc lộ nhiều điểm bất cập: quy định mua bán doanh nghiệp thông qua tài sản mâu thuẫn với bản chất quyền kiểm soát và quyền biểu quyết; thiếu thống nhất về khái niệm "doanh nghiệp" giữa các luật; thiếu khung pháp lý chuẩn hóa về hợp đồng mua bán doanh nghiệp; chưa xác định rõ "thời điểm thực hiện" giao dịch để tính thời hạn nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế.
Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu hoạt động mua bán doanh nghiệp dưới góc độ pháp lý theo quy định pháp luật Việt Nam, phân tích thực tiễn thực thi và xây dựng các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu (được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ):
- Trình bày và phân tích cơ sở lý luận của hoạt động mua bán doanh nghiệp, làm rõ các khái niệm, đặc điểm và phân biệt mua lại doanh nghiệp với sáp nhập doanh nghiệp.
- Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp (hình thức, chủ thể, hợp đồng, điều kiện, thủ tục, kiểm soát cạnh tranh, hệ quả pháp lý) và đánh giá thực trạng thực thi.
- Đề xuất các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng (Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh, Luật Đầu tư và các nghị định hướng dẫn).
- Phạm vi không gian: Hệ thống pháp luật và thực tiễn thực thi tại thị trường Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào các quy định pháp luật giai đoạn 2018–2021, có đối chiếu, so sánh với các văn bản pháp luật giai đoạn trước năm 2018 (Luật Doanh nghiệp 2005/2014, Luật Cạnh tranh 2004, Nghị định 116/2005/NĐ-CP).
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khung pháp lý và khái niệm áp dụng:
Khóa luận xây dựng hệ thống phân tích dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu:
- Luật Doanh nghiệp năm 2020 (LDN 2020) và các quy định tiền nhiệm (LDN 2005, LDN 2014).
- Luật Cạnh tranh năm 2018 (LCT 2018) và Luật Cạnh tranh năm 2004 (LCT 2004).
- Luật Đầu tư (LĐT), Bộ luật Dân sự, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng.
- Các nghị định hướng dẫn: Nghị định số 35/2020/NĐ-CP (hướng dẫn LCT 2018), Nghị định số 01/2021/NĐ-CP (đăng ký doanh nghiệp), Nghị định số 128/2014/NĐ-CP và Nghị định số 23/2022/NĐ-CP (bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước), Nghị định số 69/2014/NĐ-CP (tập đoàn kinh tế nhà nước), Nghị định số 116/2005/NĐ-CP (hướng dẫn LCT 2004).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng tại Chương 1 nhằm tổng hợp quan điểm của các học giả, xây dựng cơ sở lý luận về bản chất, đặc điểm, vai trò của mua bán doanh nghiệp và khung pháp luật điều chỉnh theo nghĩa hẹp.
- Phương pháp so sánh luật học và đối chiếu văn bản: Sử dụng tại Chương 2 để so sánh các quy định giữa LCT 2018 với LCT 2004, giữa Nghị định 35/2020/NĐ-CP với Nghị định 116/2005/NĐ-CP và Nghị định 69/2014/NĐ-CP; đối chiếu quy định giữa Luật Cạnh tranh và Luật Doanh nghiệp về chủ thể và quyền kiểm soát.
- Phương pháp diễn giải và quy nạp: Sử dụng tại Chương 3 để từ các bất cập thực tiễn khái quát thành hệ thống yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu nghiên cứu gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, báo cáo thường niên M&A của Pitchbook (2021), thông tin từ Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021), báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI, 2019) và các công trình nghiên cứu chuyên ngành luật học đã công bố.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận của hoạt động mua bán doanh nghiệp và pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp
Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng:
- Khái niệm và bản chất: Mua bán doanh nghiệp là hiện tượng mở rộng quy mô kinh doanh hoặc tăng cường khả năng chi phối quản trị, điều hành doanh nghiệp khác; mục đích cốt lõi là đạt được quyền "kiểm soát và chi phối". Dưới góc độ Luật Doanh nghiệp 2020 (Khoản 1 Điều 192), pháp luật tiếp cận quyền bán doanh nghiệp của chủ Doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Dưới góc độ Luật Cạnh tranh 2018 (Khoản 4 Điều 29), "mua lại doanh nghiệp" được xác định là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề bị mua lại.
- 5 đặc điểm của mua bán doanh nghiệp:
- Đối tượng quan hệ mua bán là quyền kiểm soát, chi phối doanh nghiệp (doanh nghiệp là hàng hóa đặc biệt cấu thành từ tập hợp quyền và tài sản).
- Hệ quả pháp lý là bên mua phải nắm giữ tỷ lệ vốn chi phối để kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu.
- Chủ thể bán phải là chủ sở hữu doanh nghiệp; chủ thể mua là tổ chức, cá nhân có nhu cầu và đủ điều kiện luật định.
- Hình thức pháp lý ghi nhận là hợp đồng (hợp đồng mua bán DNTN, hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp).
- Chịu sự kiểm soát, phê duyệt hoặc thừa nhận của cơ quan nhà nước theo quy định pháp luật cạnh tranh và đăng ký doanh nghiệp.
- Phân biệt mua lại doanh nghiệp với sáp nhập doanh nghiệp:
| Tiêu chí phân biệt |
Mua lại doanh nghiệp (Acquisition) |
Sáp nhập doanh nghiệp (Merger) |
| Bản chất pháp lý |
Chuyển nhượng quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp; không làm chấm dứt tư cách pháp nhân của doanh nghiệp mục tiêu; không phải là hình thức tổ chức lại doanh nghiệp. |
Là hình thức tổ chức lại doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp; chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ sang doanh nghiệp nhận sáp nhập. |
| Tồn tại pháp lý |
Doanh nghiệp bị mua lại vẫn tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh và tư cách pháp nhân độc lập. |
Chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị sáp nhập (Khoản 2 Điều 29 LCT 2018). |
| Hệ quả pháp lý |
Bên mua giành quyền chi phối, tham gia quản trị thông qua tỷ lệ vốn góp hoặc cổ phần biểu quyết sở hữu. |
Doanh nghiệp nhận sáp nhập kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp bị sáp nhập. |
- Pháp luật điều chỉnh (tiếp cận theo nghĩa hẹp): Là hệ thống quy phạm điều chỉnh trực tiếp quan hệ giữa bên mua và bên bán trong xác lập hợp đồng, đăng ký thay đổi chủ sở hữu và kiểm soát của Nhà nước về tập trung kinh tế.
CHƯƠNG 2: Thực trạng quy định pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng văn bản và chỉ ra các mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý:
1. Quy định về các hình thức mua bán doanh nghiệp
- Mua bán toàn bộ doanh nghiệp qua mua cổ phần, phần vốn góp: Chỉ chủ sở hữu mới có quyền bán. Tác giả phân tích điểm hạn chế trong Công ty Cổ phần (CTCP): xuất hiện quan điểm không thống nhất về việc mua toàn bộ CTCP là phải mua tất cả các loại cổ phần hay chỉ cần mua cổ phần có quyền biểu quyết. Tác giả khẳng định chỉ cần mua toàn bộ cổ phần có quyền biểu quyết vì bản chất mua bán doanh nghiệp là thâu tóm quyền kiểm soát.
- Mua lại một phần doanh nghiệp: Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định 35/2020/NĐ-CP, quyền kiểm soát, chi phối phát sinh khi doanh nghiệp mua lại giành được trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% cổ phần có quyền biểu quyết. Quy định này mâu thuẫn với Khoản 5 Điều 3 Nghị định 69/2014/NĐ-CP (vốn không gắn quyền chi phối vào một tỷ lệ sở hữu vốn cố định). Đối với DNTN, theo Khoản 1 Điều 188 LDN 2020, DNTN do một cá nhân làm chủ nên không tồn tại hình thức bán một phần DNTN trừ khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
- Mua bán doanh nghiệp thông qua mua bán tài sản: Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị định 35/2020/NĐ-CP quy định giành quyền sở hữu/sử dụng trên 50% tài sản trong toàn bộ hoặc một ngành nghề là kiểm soát, chi phối. Quy định này đã bỏ mâu thuẫn của Điều 34 Nghị định 116/2005/NĐ-CP (cho rằng sở hữu tài sản đem lại quyền bỏ phiếu tại ĐHĐCĐ). Tuy nhiên, tác giả chỉ ra lỗ hổng mới: việc mua tài sản thuần túy không đem lại quyền biểu quyết hay quyền quản trị trong doanh nghiệp mục tiêu, dẫn đến việc pháp luật cạnh tranh coi đây là mua lại doanh nghiệp nhưng thực tế không có cơ chế thực thi quyền chi phối quản trị.
2. Quy định liên quan đến chủ thể mua bán doanh nghiệp
- Bên bán: Phải là chủ sở hữu hoặc người có quyền biểu quyết. Đối với công ty hợp danh, chỉ thành viên hợp danh mới có quyền bán/chuyển nhượng gắn với quyền biểu quyết quản lý (Điều 181, 187 LDN 2020). Đối với CTCP, cổ đông ưu đãi cổ tức và ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết (Khoản 3 Điều 117, Điều 118 LDN 2020), nên giao dịch chuyển nhượng các loại cổ phần này không tạo ra quyền kiểm soát doanh nghiệp.
- Bên mua và các hạn chế: Bên mua không được thuộc diện bị cấm quản lý (Khoản 2 Điều 17 LDN 2020) và cấm góp vốn/mua cổ phần (Khoản 3 Điều 17 LDN 2020). Tác giả phân tích xung đột giữa LDN 2020 và LCT 2018: Định nghĩa "doanh nghiệp" tại Khoản 4 Điều 29 LCT 2018 gây hiểu nhầm rằng bên mua bắt buộc phải là doanh nghiệp; trong khi Khoản 1 Điều 2 LCT 2018 mở rộng cho cả cá nhân kinh doanh, phù hợp với quyền mua của cá nhân theo pháp luật doanh nghiệp.
3. Quy định về hợp đồng và phương thức thực hiện
- Nội dung hợp đồng: Pháp luật thiếu mẫu hợp đồng và quy định trực tiếp về hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Đối tượng hợp đồng cần được định danh rõ gồm quyền kiểm soát và danh mục tài sản đi kèm.
- Giá mua bán: Tự do thỏa thuận đối với doanh nghiệp tư nhân. Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, thực hiện theo Điều 11, Điều 12 Nghị định 128/2014/NĐ-CP và được thay thế bằng Điều 24 Nghị định 23/2022/NĐ-CP (giá khởi điểm không thấp hơn phần vốn nhà nước xác định).
- Hình thức hợp đồng: Được quy định gián tiếp qua thủ tục hành chính bắt buộc phải có hợp đồng văn bản (Khoản 3 Điều 15 Nghị định 128/2014/NĐ-CP; Điều 53, Điều 54 Nghị định 01/2021/NĐ-CP).
4. Điều kiện, thủ tục và kiểm soát tập trung kinh tế
- Ngưỡng thông báo tập trung kinh tế: Khoản 1 Điều 33 LCT 2018 và Khoản 2 Điều 14 Nghị định 35/2020/NĐ-CP quy định 4 tiêu chí định lượng (tổng tài sản, tổng doanh thu, giá trị giao dịch, thị phần kết hợp).
| Tiêu chí |
Luật Cạnh tranh 2004 (Nghị định 116/2005) |
Luật Cạnh tranh 2018 (Nghị định 35/2020) |
| Căn cứ xác định ngưỡng |
Duy nhất thị phần kết hợp trên thị trường liên quan. |
4 tiêu chí: Tổng tài sản, tổng doanh thu, giá trị giao dịch, thị phần kết hợp. |
| Khả năng kiểm soát |
Bỏ lọt các thương vụ tập trung kinh tế theo chiều dọc và hỗn hợp. |
Kiểm soát toàn diện các mô hình tập trung kinh tế (ngang, dọc, hỗn hợp). |
| Quy trình thẩm định |
Thẩm định một bước, thiếu cơ sở linh hoạt đánh giá tác động. |
Hai giai đoạn rõ ràng: Thẩm định sơ bộ và Thẩm định chính thức; bổ sung cơ chế tập trung kinh tế có điều kiện (Điều 42). |
- Bất cập thực thi kiểm soát cạnh tranh:
- Chưa thành lập Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia theo quy định của LCT 2018 (tại thời điểm viết khóa luận năm 2022, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng vẫn phải tạm thời thụ lý).
- Khoản 1 Điều 33 LCT 2018 quy định nộp hồ sơ "trước khi tiến hành" nhưng không định nghĩa rõ thời điểm tiến hành là thời điểm ký kết hợp đồng, thời điểm chuyển giao tài sản hay thời điểm hoàn thành thanh toán.
- Quy định thủ tục chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp áp dụng theo quy trình đăng ký kinh doanh tại LDN 2020 (Điều 116).
CHƯƠNG 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam trong tương lai
Chương 3 xây dựng các định hướng hoàn thiện dựa trên các nguyên tắc và nhóm giải pháp:
- 3 yêu cầu mang tính nguyên tắc:
- Gắn liền với tình hình thực tiễn kinh tế, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả.
- Bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và triệt tiêu mâu thuẫn giữa các văn bản luật (LDN, LCT, LĐT).
- Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và bảo hộ an toàn dòng vốn đầu tư.
- Nhóm giải pháp chung: Hoàn thiện sự đồng bộ giữa pháp luật doanh nghiệp và pháp luật cạnh tranh; làm rõ định nghĩa và cơ chế xác định quyền kiểm soát, chi phối; hoàn thiện tổ chức bộ máy cơ quan quản lý cạnh tranh.
- Nhóm giải pháp cụ thể:
- Bổ sung cơ chế giải thích rõ việc kiểm soát, chi phối trong trường hợp mua bán tài sản doanh nghiệp tại Nghị định 35/2020/NĐ-CP.
- Thống nhất quy định cá nhân kinh doanh có đầy đủ tư cách chủ thể mua doanh nghiệp theo Luật Cạnh tranh và Luật Doanh nghiệp.
- Ban hành quy định hướng dẫn về hợp đồng mua bán doanh nghiệp, các điều khoản cơ bản (đối tượng, giá cả, thời điểm chuyển giao rủi ro và quyền sở hữu).
- Quy định rõ ràng "thời điểm tiến hành tập trung kinh tế" tại Điều 33 LCT 2018 là thời điểm ký kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
- Nhanh chóng kiện toàn và đưa Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia vào hoạt động thực tế.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ pháp lý: Khóa luận đã phân tích chi tiết các điều khoản then chốt trong LDN 2020 (Điều 17, 53, 116, 117, 118, 120, 181, 187, 188, 192), LCT 2018 (Điều 2, 29, 33, 34, 42) và các văn bản quy định chi tiết (Nghị định 35/2020, Nghị định 01/2021, Nghị định 128/2014, Nghị định 23/2022, Nghị định 69/2014).
- Chỉ ra các xung đột và khoảng trống pháp luật thực tế:
- Mâu thuẫn giữa việc sở hữu trên 50% tài sản (Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị định 35/2020) với khả năng biểu quyết quản trị theo Luật Doanh nghiệp.
- Sự thiếu thống nhất về thuật ngữ "doanh nghiệp" giữa Khoản 4 Điều 29 và Khoản 1 Điều 2 LCT 2018 với LDN 2020.
- Tình trạng thiếu vắng khung pháp lý trực tiếp điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh nghiệp và việc thiếu cơ quan Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trong thực tế năm 2022.
- Đóng góp so với nghiên cứu trước: Tác giả đã cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới nhất có hiệu lực tại thời điểm nghiên cứu (LDN 2020, LCT 2018, Nghị định 35/2020/NĐ-CP, Nghị định 01/2021/NĐ-CP, Nghị định 23/2022/NĐ-CP thay thế Nghị định 128/2014/NĐ-CP từ ngày 01/06/2022); đồng thời đề xuất giải pháp xác định thời điểm nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế gắn với thời điểm giao kết hợp đồng để bảo vệ quyền lợi các bên tham gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế nghiên cứu: Đề tài chỉ tiếp cận mua bán doanh nghiệp dưới góc độ quan hệ đầu tư kinh doanh thương mại thông thường; tác giả chủ động không đi sâu phân tích các thương vụ mua lại doanh nghiệp đặc thù do Chính phủ hoặc các cơ quan tài chính, bảo hiểm thực hiện vì lý do an ninh kinh tế quốc gia.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu mở rộng khi Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia chính thức vận hành; theo dõi tác động thực thi của Nghị định 23/2022/NĐ-CP đối với hoạt động thoái vốn, bán doanh nghiệp nhà nước; đánh giá sâu hơn về cơ chế kiểm soát mua bán doanh nghiệp xuyên biên giới và tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, giảng viên ngành Luật (chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế), ngành Quản trị kinh doanh và Tài chính doanh nghiệp; các chuyên viên tư vấn pháp lý M&A, luật sư và các nhà đầu tư tham gia giao dịch mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Nội dung giá trị nhất:
- Phần phân tích và so sánh pháp lý chi tiết giữa mua lại và sáp nhập doanh nghiệp tại Chương 1.
- Bảng đối chiếu và luận giải sự bất cập giữa tiêu chí sở hữu tài sản và quyền kiểm soát biểu quyết tại Chương 2.
- Các phân tích về 4 tiêu chí xác định ngưỡng thông báo tập trung kinh tế và quy trình thẩm định 2 giai đoạn của cơ quan quản lý cạnh tranh.
Câu hỏi thường gặp
1. Mua lại doanh nghiệp khác sáp nhập doanh nghiệp ở những điểm cốt lõi nào theo pháp luật Việt Nam?
Khác biệt cơ bản nằm ở bản chất tổ chức lại và tư cách pháp nhân. Sáp nhập doanh nghiệp (Khoản 2 Điều 29 LCT 2018) là hình thức tổ chức lại doanh nghiệp, chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập và chuyển toàn bộ tài sản, nghĩa vụ sang doanh nghiệp nhận sáp nhập. Mua lại doanh nghiệp (Khoản 4 Điều 29 LCT 2018) chỉ chuyển giao quyền sở hữu phần vốn hoặc tài sản để giành quyền kiểm soát, chi phối; doanh nghiệp bị mua lại không bị chấm dứt tư cách pháp nhân hay mã số doanh nghiệp.
2. Mua trên 50% tài sản của một doanh nghiệp có đương nhiên mang lại quyền biểu quyết quản trị doanh nghiệp đó không?
Không. Theo phân tích của tác giả tại Chương 2, Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị định 35/2020/NĐ-CP quy định sở hữu trên 50% tài sản được coi là nắm quyền kiểm soát, chi phối. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp quy định quyền biểu quyết và quyền quản trị chỉ phát sinh từ việc sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần có quyền biểu quyết. Mua tài sản thuần túy chỉ mang lại quyền sở hữu tài sản chứ không làm phát sinh quyền tham gia biểu quyết tại Hội đồng thành viên hay Đại hội đồng cổ đông.
3. Cá nhân kinh doanh có được quyền mua lại doanh nghiệp hay không?
Có. Mặc dù Khoản 4 Điều 29 LCT 2018 định nghĩa "mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp...", nhưng Khoản 1 Điều 2 LCT 2018 đã quy định rõ doanh nghiệp bao gồm cả tổ chức và cá nhân kinh doanh. Đồng thời, Luật Doanh nghiệp 2020 không cấm cá nhân mua lại phần vốn góp hay cổ phần (trừ các trường hợp bị cấm theo Khoản 2, 3 Điều 17 LDN 2020).
4. Ngưỡng thông báo tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh 2018 khác Luật Cạnh tranh 2004 như thế nào?
Luật Cạnh tranh 2004 chỉ căn cứ duy nhất vào thị phần kết hợp trên thị trường liên quan, dẫn đến việc bỏ lọt các vụ tập trung kinh tế theo chiều dọc và hỗn hợp. Luật Cạnh tranh 2018 (Điều 33) và Nghị định 35/2020/NĐ-CP quy định 4 tiêu chí xác định ngưỡng thông báo gồm: tổng tài sản tại Việt Nam, tổng doanh thu tại Việt Nam, giá trị giao dịch, và thị phần kết hợp trên thị trường liên quan.
5. Tác giả kiến nghị xác định "thời điểm tiến hành tập trung kinh tế" là thời điểm nào?
Khoản 1 Điều 33 LCT 2018 quy định nộp hồ sơ trước khi "tiến hành tập trung kinh tế" nhưng không chỉ rõ thời điểm cụ thể. Tác giả kiến nghị xác định thời điểm tiến hành là thời điểm các bên ký kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp, nhằm bảo vệ quyền lợi các bên tham gia, tránh lãng phí thời gian và chi phí thực thi nếu thương vụ thuộc diện bị cấm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thu Hà đã làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam trong giai đoạn 2018–2021. Bằng các phương pháp so sánh luật học và phân tích quy phạm, tác giả đã chỉ ra các xung đột giữa Luật Doanh nghiệp 2020 và Luật Cạnh tranh 2018 liên quan đến khái niệm kiểm soát qua mua bán tài sản, tư cách chủ thể và khoảng trống pháp lý về hợp đồng. Công trình mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn quan trọng, đóng góp hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và nâng cao hiệu quả quản lý cạnh tranh tại Việt Nam.