CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN PHÁT TRIEN THỦY ĐIỆN BEN VỮNG TẠI NƯỚC TA 1. Tong quan về quá trình phát triển thủy điện tại nước ta Nhờ vị trí địa lý thuận lợi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng âm và mưa nhiều nên Việt Nam có nguồn tài nguyên thủy năng tương đối lớn. Nhiều nghiên cứu ước lượng Việt Nam có thé khai thác thủy điện với công suất 26.000MW và sản xuất khoảng 90 — 1000 tỷ KWH điện năng, trong đó 60% thuộc khu vực miền Bắc, 27% thuộc miền Trung và 13% thuộc miền Nam. Tuy nhiên với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, con số này trong thực tế chắc chăn lớn hơn nhiều.
Theo kinh nghiệm khai thác thủy điện của các nước đi trước, công suất thủy điện lý thuyết ở Việt Nam trong tương lai sẽ nằm trong khoảng 30.000MW và sản xuất 100 — 110 ty KWH điện năng. Tiềm năng phát triển thủy điện ở Việt Nam Diện tích Số công Tổng công suất Lượng (km2) trình (MW) dién(GWh) Sông Da 17.700 Sông Lô-Gâm-Chảy 52.800 2 234 99 Sông Vu Gia- Thu Bén 10.500 Song Sé San 14.400 Sông Đồng Nai 17.000 Thủy điện nhỏ 1.000 Nguồn: Công ty CP. Chứng khoán Phú Gia, 2010 Các công trình thủy điện đã xuất hiện ở Việt Nam từ trước năm 1954 do người Pháp xây dựng dé phục vụ mục địch khai thác thuộc dia, tuy nhiên chúng là những dự án không được nghiên cứu sâu và xây dựng nhanh chóng, chỉ phí thấp. Nhà máy thủy điện đầu tiên được xây dựng tại Việt Nam và cả khu vực Đông Dương là Thủy điện Ankroet, nằm ở phía thượng nguồn sông Da Dung, tỉnh Lâm Đồng.
Nhà máy được khởi công xây dựng vào tháng 10/1943 và hoàn thành vào năm 1944,công suất hoạt động 2,3MW. Công trình thủy điện có quy mô lớn đầu tiền do chính Việt Nam xây dựng, cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia từ Liên Xô, Trung Quốc là Thủy điện Thác Bà. Được khởi công vào ngày 19/8 năm 1964, nhà máy thủy điện có công suất ban đầu 108MW. Nha máy có ý nghĩa rất quan trọng, cung cấp điện phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế của miền Bắc sau khi giành được độc lập và là nơi đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên tương lai trong lĩnh vực thủy điện.
Năm 1985, Thủy điện Thác Bà được được nâng cấp công suất phát điện lên 120MW. Tại miền Nam, nhờ sự tài trợ của nước Nhật theo chương trình đền bù chiến phí của Thế chiến II, nước ta đã xây dựng Thủy điện Đa Nhim, công suất 160MW. Do ly do chiến tranh nên nguồn điện sản xuất hầu hết được cung cấp cho khu vực miền Trung mà không được sử dụng cho các Trung tâm Công nghiệp lớn tại Biên Hòa và Sài Gòn Sau khi thống nhất đất nước, với sự giúp đỡ cả về mặt tài chính và kỹ thuật từ Liên Xô, nước ta đã xây dung duoc Thủy điện Hòa Bình trên sông Da với công suất 240MW và là nhà máy thủy điện lớn nhất tại Việt Nam trong gần 20 năm, và cũng là nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ. Đây là một trong những công trình quan trọng nhất của miền Bắc và đóng góp một phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển nền kinh tế miền Bắc.
Nhà máy Thủy điện Hòa Bình đánh một dấu mốc quan trọng trong cuộc cuộc khai thác nguồn thủy năng đây tiêm năng của nước ta. Trong khoảng thời gian xây dựng Thủy điện Hòa Bình, các dự án thủy điện nhỏ và vừa tại miền Trung được các đơn vị bắt đầu khảo sát và thiết kế, ví dụ như Thủy điện Dray H’linh (12MW), Thủy điện Vĩnh Sơn (66MW). Công trình nỗi bật thứ 2 trong thời kỳ này là Thủy Điện Yaly với công suất 720 MW, là công trình thủy điện lớn thứ hai tại nước ta. Dự án Thủy điện Yaly cũng là dự án thủy điện cuối cùng trước khi việc thực thi DTM trở thành một yêu cau bắt buộc đối với mọi dự án phát triên nói chung, dự án thủy điện nói riêng.
TD Ankroet TD Hòa Binh 4— Tên thuỷ điện (Lâm Đồng ) (Hòa Bình ) + Tinh đặt nhà máy 2,3MW 1.920 MW Công suất ban đầu TD Bàn Thạch TD Yaly (Kon (ThanhHóa ) Tum/Gia Lai) 0,96MW 720 MW Nam khởi công xây dựng Bắt buộc thực TD Thác Bà hiện DTM các ‘pave ) dự án thuỷ điện TD Da Nhim 1D tr An (Lâm Đồng) (Đông Nai) 160 MW 400 MW Hình 1. Các nhà máy thủy điện trước khi có yêu cầu thực hiện DTM Nguồn: “Phát triển thủy điện ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp ”, 2016 Giai đoạn 1995 — 2005 được là một giai đoạn phát triển nồi bật trong quá trình phát triển thủy điện của Việt Nam. Quy trình lên kế hoạch xây dựng được đơn giản hóa, việc nghiên cứu bi rút ngăn tạo điều kiện cho ngành thủy điện ở Việt Nam phát triển “nóng” gây nên nhiều hệ lụy về xã hội và môi trường. Nhiều nhà máy thủy điện được khởi công xây dựng và đưa vao vận hành, các kỹ sư Việt Nam hoàn toàn có thé tự chủ một dự án công trình thủy điện thay vì phải phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật, chuyên gia nước ngoài.
Hầu hết các thiết bị cơ khí sử dụng trong nhà máy thủy điện đều do các nhà máy cơ khí trong nước sản xuất. Báo cáo của Bộ Công thương (2012) cho thấy hơn 1000 dự án được quy hoạch với quy mô lớn nhỏ khác nhau, tổng công suất lên tới 24.00MW đã được phê duyệt. Mục tiêu xây dựng của các dự án này nhằm góp phần chống lũ trong mùa mưa, cấp nước trong mùa khô phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của người dân cũng như cung cap điện dap ứng nhu câu phát triên kinh tê - xã hội của nước ta. Tính đến năm 2018, trên Việt Nam có 80 nhà máy thủy điện lớn và vừa đã hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành với tổng công suất 15.
Một số dự án thủy điện nồi bật bao gồm: Thủy điện Sơn La (2400MW), Thủy điện Lai Châu (1200MW), Thủy điện Huội Quảng (S60MW),. Tuy nhiên, các vi trí thuận lợi và có chi phí thấp cho phát tiễn thủy điện đã có dự án được triển khai, về cơ bản nước ta đã khai thác gần hết tiềm năng của thủy điện vừa và lớn. Thủy điện chuyền sang phát triển theo chiều sâu, xây dựng các nhà máy thủy điện nhỏ. Các dự án thủy điện nhỏ với công suất dưới 30MW sử dụng hình thức đầu tư BOT và BOO để huy động vốn xây dựng.
Hiện nay, Việt Nam có 310 dự án thủy điện nhỏ tại 31 tỉnh thành với tổng công suất lắp đặt 3. Trong giai đoạn phát tiên “nóng” của thủy điện, hàng loạt dự án được cấp phép trong một thời gian ngắn, một số trường hợp trước khi chính quyền và người dan tại địa phương nhận thông tin về các ngoại ứng tiêu cực của dự án. Các chính sách đưa ra vào thời kỳ này như Công văn số 797/CP-CN ban hành ngày 17/6 năm 2003 đã cho phép áp dụng hình thức Tổng thầu xây lắp cho các dự án thủy điện khởi công trong năm 2003 và 2004. Nhờ đó các thời gian xây dựng của các dự án thủy điện được rút ngắn.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các cơ quan nhà nước chỉ cần nắm bắt được hồ sơ thiết kế cơ sở và các khâu còn lại trong qua trình thi công của công trình sẽ do chủ đầu tư tự quyết định và chịu trách nhiệm với những quyết định này. Việc trao nhiều quyền hơn cho các chủ dự án đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tình và một số vấn đề xã hội, môi trường khác như không đảm bảo tái định cư cho người dân địa phương. Ý tưởng phát triển bền vững được nêu lên từ năm 1972 do D.Meadows, đó là “phát triển có thé thay đổi xu thé tăng trưởng và thiết lập điều kiện 6n định về sinh thái và kinh tế lâu bền trong tương lai.” Nói cách khác, phát triền bền vững yêu cầu đảm bảo các mục tiêu về xã hội và môi trường trong khi duy trì phát triển kinh tế. Các hoạt động phát triển bền vững phải đảm bảo cân bằng giữa 3 khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường.
Nhìn chung các dự án thủy điện ở nước ta, đặc biệt các dự án trong thời kỳ “nóng” mới chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của nước ta để lại nhiều tác động tiêu cực tới xã hội và môi trường. Những điểm tích cực và hạn chế của thủy điện 1. Những đóng góp tích cực của thủy điện a) Nang lượng cho sản xuất và tiêu dùng Hiện tại, thủy điện chiếm tỉ trọng lớn nhất trong nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam, đồng thời cũng giữ vai trò quan trọng trong nguồn cung điện năng nói chung ở Việt Nam. Đóng góp của thủy điện vào nguồn năng lượng tại nước ta, tính đến năm 2018 chiếm 41%.
Nhờ có sự đóng góp này, nước ta đảm bảo an ninh năng lượng dé phục vụ phát triển nền kinh tế trong bối cảnh nhu cầu sản xuất và tiêu dùng vấn tiếp tục gia tăng. Đối với nhiều doanh nghiệp, đầu tư thủy điện đặt hiểu quả cao và thu hồi vốn nhanh. Theo tính toán của Tap đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), những dự án với công suất đầu tư khoảng 25 tỉ đồng/MW chi mắt 8- 10 dé thu hồi vốn. b) Điều tiết nguồn nước (chống lũ, cấp nước) Mặc dù không được chú trọng bồi các chủ đầu tư nhưng về lý thuyết, tat cả các dự án thủy điện đều có khả năng điều tiết nguồn nước (tích trữ nước, chống lụt trong mùa mưa và cung cấp nước trong mua khô).
Theo EVN (2012), hầu hết các dự án thủy điện đều đảm bảo nguồn cung nước tưới cho các khu vực theo nhu cầu của người dân. Các dự án không có hệ thông tưới trực tiếp như Thủy điện Hòa Bình, Trị An và Thác Bà,. vẫn có khả năng cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của người dân ở khu vực hạ lưu. Hơn nữa trong mùa mưa, công trình thủy điện đóng vai trò chống lũ lụt.
Tuy nhiên trên thực tế, nhiều công trình thủy điện, điển hình là các công trình của tư nhân, mục tiêu sản xuất do đem lại lợi nhuận nên được ưu tiên hơn. Chức năng điều tiết nguồn nước không được chú trọng đến trong khâu lên kế hoạch, xây dựng cũng như vận hành và gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tới người dân dưới hạ lưu. c) Là nguồn năng lượng tái tạo Nhờ vòng tuân hoàn, nước có thê coi là nguôn tài nguyên tái tạo.