Chuyên đề tốt nghiệp kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững thủy điện và bài học cho việt nam

Tài liệu nghiên cứu Chuyên đề tốt nghiệp kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững thủy điện và bài học cho việt nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Kinh Tế - Quản lí Tài nguyên và Môi trường

Tác giả

Hoàng Sơn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Chuyên đề tốt nghiệp

2020

48
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TÊN VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. Sự cần thiết của nghiên cứu

2. Mục tiêu nghiên cứu

3. Phương pháp nghiên cứu

4. Phạm vi nghiên cứu

5. Kết cấu chuyên đề

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN BỀN VỮNG TẠI NƯỚC TA

1.1. Tổng quan về quá trình phát triển thủy điện tại nước ta

1.2. Những điểm tích cực và hạn chế của thủy điện

1.3. Những đóng góp tích cực của thủy điện

1.4. Các hạn chế của thủy điện

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC HẠN CHẾ CỦA NGÀNH THỦY ĐIỆN VIỆT NAM

2.1. Hạn chế trong quy trình ra quyết định phát triển thủy điện ở Việt Nam

2.2. Quy trình ra quyết định ở nước ta

2.3. Một số vấn đề trong quá trình ra quyết định phát triển thủy điện

2.4. Thủy điện gây nên mất rừng

2.5. Thống kê tình trạng mất rừng do thủy điện tại Việt Nam

2.6. Tác hại của mất rừng do thủy điện

2.7. Tác động đến đa dạng sinh học

2.8. Tác động của thủy điện đến dòng chảy và thủy sinh vật

2.9. Thay đổi dòng chảy của sông

2.10. Tác động đến hệ thực vật

2.11. Tác động của đập thủy điện tới đa dạng động vật (ví dụ đa dạng loài cá)

2.12. Khí ga tại hồ thủy điện

2.13. Xây dựng khu tái định cư

3. CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

3.1. Xu hướng phát triển thủy điện trên thế giới

3.2. Các vấn đề của ngành thủy điện trên thế giới

3.3. Giải pháp cho ngành thủy điện:

3.4. Tương lai của ngành thủy điện

3.5. Áp dụng vào ngành thủy điện Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan Thủy điện bền vững Vai trò Tiềm năng ở VN

Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, thủy điện bền vững đóng vai trò quan trọng. Việt Nam, với vị trí địa lý thuận lợi, có tiềm năng phát triển thủy điện bền vững lớn. Nhiều nghiên cứu ước lượng Việt Nam có thể khai thác thủy điện với công suất 26.000MW và sản xuất khoảng 90-100 tỷ KWH điện năng. Tuy nhiên, với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, con số này trong thực tế chắc chắn lớn hơn nhiều. Theo kinh nghiệm khai thác thủy điện của các nước đi trước, công suất thủy điện lý thuyết ở Việt Nam trong tương lai sẽ nằm trong khoảng 30.000MW và sản xuất 100-110 tỷ KWH điện năng.

Thủy điện không chỉ cung cấp năng lượng mà còn có thể kết hợp các mục đích khác như thủy điện và an ninh năng lượng, thủy điện và phát triển kinh tế. Các công trình thủy điện đã xuất hiện ở Việt Nam từ trước năm 1954 do người Pháp xây dựng để phục vụ mục đích khai thác thuộc địa. Nhà máy thủy điện đầu tiên được xây dựng tại Việt Nam và cả khu vực Đông Dương là Thủy điện Ankroet. Năm 1985, Thủy điện Thác Bà được được nâng cấp công suất phát điện lên 120MW.

Tuy nhiên, việc phát triển thủy điện có trách nhiệm cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt là về tác động môi trường và xã hội. Do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống điện Quốc gia Việt Nam trong thời gian qua đã có những phát triển mạnh mẽ cùng với sự gia tăng công suất của các nguồn phát điện trong hệ thống, trong đó nguồn từ các thủy điện có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tuy nhiên thủy điện không phải là một giải pháp thần kỳ có thể cung cấp năng lượng sạch mà không có mặt hạn chế nào. Quá trình thi công xây dựng, đặc biệt là của các công trình thủy điện lớn đều gây nên nhiều tác động của thủy điện đến môi trường và cuộc sống của người dân xung quanh.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển thủy điện Việt Nam

Các công trình thủy điện đã xuất hiện ở Việt Nam từ trước năm 1954 do người Pháp xây dựng. Tuy nhiên, chúng là những dự án không được nghiên cứu sâu và xây dựng nhanh chóng, chỉ phí thấp. Nhà máy thủy điện đầu tiên được xây dựng tại Việt Nam và cả khu vực Đông Dương là Thủy điện Ankroet, nằm ở phía thượng nguồn sông Da Dung, tỉnh Lâm Đồng. Nhà máy được khởi công xây dựng vào tháng 10/1943 và hoàn thành vào năm 1944,công suất hoạt động 2,3MW. Công trình thủy điện có quy mô lớn đầu tiền do chính Việt Nam xây dựng, cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia từ Liên Xô, Trung Quốc là Thủy điện Thác Bà. Được khởi công vào ngày 19/8 năm 1964, nhà máy thủy điện có công suất ban đầu 108MW.

1.2. Đóng góp của thủy điện vào an ninh năng lượng quốc gia

Thủy điện đóng góp quan trọng vào an ninh năng lượng quốc gia, đặc biệt khi giá nhiên liệu cho nhiệt điện tăng cao. So với nhiệt điện, quá trình sản xuất thủy điện thải ra rất ít khí nhà kính, góp phần làm chậm biến đổi khí hậu. Ngoài ra thủy điện còn là một công trình thủy lợi đem, phục vụ nhiều mục đích thủy lợi khác như trữ nước để sử dụng trong mùa khô. Thủy điện là lựa chọn của nhiều quốc gia vì nó là nguồn năng lượng sạch. Chi phí hoạt động của nhà máy thủy điện thấp hơn nhiều so với nhà máy nhiệt điện vì thủy điện sử dụng lực chảy từ nước, nguồn tài nguyên tái tạo.

II. Thách thức Thủy điện VN Tác động Giải pháp giảm thiểu

Ngành thủy điện Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội. Việc xây dựng thủy điện gây nên mất rừng, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và cuộc sống của cộng đồng địa phương. Quá trình thi công của các dự án thủy điện cũng yêu cầu người dân phải tái định cư, hoàn toàn đảo lộn cuộc sống của họ.

Nhiều nhà máy thủy điện được khởi công xây dựng và đưa vào vận hành, các kỹ sư Việt Nam hoàn toàn có thể tự chủ một dự án công trình thủy điện thay vì phải phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật, chuyên gia nước ngoài. Mục tiêu xây dựng của các dự án này nhằm góp phần chống lũ trong mùa mưa, cấp nước trong mùa khô phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của người dân cũng như cung cấp điện đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Tuy nhiên, các vị trí thuận lợi và có chi phí thấp cho phát tiễn thủy điện đã có dự án được triển khai, về cơ bản nước ta đã khai thác gần hết tiềm năng của thủy điện vừa và lớn.

Để giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của thủy điện, cần có quy trình đánh giá tác động môi trường (ĐTM) nghiêm ngặt, quản lý rủi ro hiệu quả và các giải pháp công nghệ tiên tiến.Ý tưởng phát triển bền vững được nêu lên từ năm 1972 do D.Meadows, đó là “phát triển có thể thay đổi xu thế tăng trưởng và thiết lập điều kiện ổn định về sinh thái và kinh tế lâu bền trong tương lai.” Nói cách khác, phát triển bền vững yêu cầu đảm bảo các mục tiêu về xã hội và môi trường trong khi duy trì phát triển kinh tế.

2.1. Mất rừng và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học từ thủy điện

Để có thể phục vụ cho phát triển thủy điện, đáp ứng nhu cầu năng lượng. Nhiều địa phương phải hi sinh diện tích rừng. Hệ thống rừng đặc dụng tại Việt Nam gồm 164 vườn quốc gia và khu bảo tồn là nơi lưu giữ những giá trị đa dạng sinh học cũng như cung cấp nước cho các hệ thống thủy điện ngày nay. Tuy nhiên những diện tích rừng này đang chịu sức ép của xu hướng phát triển thủy điện. Việc chặt phá rừng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự đa dạng dinh học, hệ sinh thái tại các khu rừng đó.

2.2. Tái định cư và ảnh hưởng đến cộng đồng địa phương

Công tác xây dựng thủy điện, đặc biệt các công trình thủy điện lớn thường liên quan đến việc di dời các cộng đồng dân cư quanh khu vực hồ thủy điện. Tái định cư nhìn chung đã gây nên nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống, sinh kế của các cộng đồng dân cư này. Tái định cư là một sự thay đổi lớn trong cuộc sống của họ. và kéo theo nhiều vấn đề phức tạp khác. Người dân thường có vấn đề chất lượng và diện tích đất sản xuất tại các khu tái định cư.

2.3. Thay đổi dòng chảy và tác động đến hệ sinh thái thủy sinh

Các loài thủy sinh thuộc sông có dự án thủy điện cũng chịu các tác động bởi dự án thủy điện do đập thủy điện thay đổi dòng chảy, ảnh hướng đến các loài cá. Các công trình thủy điện lớn sẽ chia cắt dòng sông và chế độ vận hành tích nước, xả nước của chúng sẽ quyết định chế độ dòng chảy trên dòng chính sông Mekong. Ngay cả mùa lũ - mùa nước nồi đặc trưng của vùng ĐBSCL - cũng không còn, bởi vì nước về nhiều hay ít do các hồ chứa nước ở thượng lưu quyết định.

III. Kinh nghiệm quốc tế Thủy điện Bền vững Bài học cho VN

Nhiều quốc gia trên thế giới đã có kinh nghiệm trong việc phát triển thủy điện thân thiện môi trường. Các quốc gia Châu Âu với địa hình và khí hậu hợp lý như Pháp, Thụy Sĩ vẫn tiếp tục sử dụng thủy điện với các công nghệ hiện đại hơn, kết hợp với các nguồn năng lượng khác để đảm bảo an ninh năng lượng cho quốc gia họ.

Tuy nhiên, tại khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu, nhiều đập thủy điện đang bị dỡ bỏ hơn là xây dựng. Hầu hết những đập thủy điện đó được xây dựng trước năm 1950 và cần được bảo trì để tiếp tục sử dụng. Chi phí để sửa chữa một đập thủy điện nhỏ có thể gấp 3 lần chi phí để dỡ bỏ nó, đây là lý do của xu hướng ưu tiên đỡ bỏ đập thủy điện thay vì sửa chữa nó. Các quốc gia đang phát triển ngược lại đang gia tăng phát triển thủy điện trong nhiều thập kỷ gần đây với các dự án lớn gây lên nhiều vấn đề giống như các dự án thủy điện trước đó tại Mỹ và các quốc gia Châu Âu: ảnh hưởng dòng chảy, mất rừng, ảnh hưởng đa dạng sinh học, tạo ra khí nhà kính, ảnh hưởng đến cuộc song của nhiều người dân quanh dự án.

Hợp tác quốc tế về thủy điện là chìa khóa để chia sẻ kiến thức, công nghệ và giải pháp. Hội đồng Quốc tế về Dap Thủy điện (WCD) được công bồ vào năm 2000 và trở thành một bộ quy tắc mà nhiều dự án thủy điện lớn sử dụng dé định hướng phát triển bền vững về môi trường và xã hội.

3.1. Các mô hình thủy điện bền vững thành công trên thế giới

Các quốc gia Châu Âu với địa hình và khí hậu hợp lý như Pháp, Thụy Sĩ vẫn tiếp tục sử dụng thủy điện với các công nghệ hiện đại hơn, kết hợp với các nguồn năng lượng khác để đảm bảo an ninh năng lượng cho quốc gia họ. Mặc dù vậy, hơn 3.400 đập thủy điện đã bị dỡ bỏ tại nhiều quốc gia Châu Au. Báo cáo của Hội đồng Quốc tế về Dap Thủy điện (WCD) được công bồ vào năm 2000 và trở thành một bộ quy tắc mà nhiều dự án thủy điện lớn sử dụng dé định hướng phát triển bền vững về môi trường và xã hội.

3.2. Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển thủy điện

Chi phí dỡ đập nhìn chung vẫn chưa được dé cập nhiều đến trong các báo cáo của dự án và chưa được tính vào chi phí chung của công trình thủy điện. Cần thực hiện DTM dé đánh giá khả năng xây dựng đập thủy điện tại một địa phương. Các hoạt động đánh giá cần phải thực hiện trước khi dự án được xây dựng và trở thành yếu tố ảnh hưởng tới quyết định thực hiện dự án. Những báo cáo đánh giá trên cần được đưa ra trong budi họp có sự tham gia của cộng đồng dân cư để thông báo đầy đủ về những ngoại ứng của dự án đối với cộng đồng.

IV. Tiêu chuẩn Thủy điện Bền vững Hướng dẫn Chứng nhận

Để đảm bảo tính bền vững của thủy điện, cần có các tiêu chuẩn thủy điện bền vững rõ ràng và minh bạch. Cần xem xét các lựa chọn năng lượng khác nhau đề phù hợp cho cơ cấu năng lượng quốc gia trước khi lên kế hoạch xây dựng một dự án thủy điện.

Nhiều học giả tại các lĩnh vực khác nhau đều cho rang giải pháp an ninh năng lượng truong tương lai của thế giới sẽ là sự kết hợp giữa các nguồn năng lượng phù hợp với môi trường, xã hội và phục vụ cho phát triển kinh tế.Chi phí của điện mặt trời và điện gió đang giảm dần, đồng thời hiệu suất tăng nhờ tối ưu công nghệ. Thủy điện có thể phát triển bền vững với những dự án vừa và nhỏ, áp dụng công nghệ đặt tua bin trong dòng chảy dé hạn chế ảnh hưởng đến hệ sinh thái, nghề đánh bắt của những người dân quanh khu vực thủy điện. Kết hợp với các nguồn năng lượng khác như điện mặt trời, điện sinh khối và điện gió, thủy điện sẽ trở thành một phần quan trọng của nguồn năng lượng bên vững trong tương lai.

4.1. Các tiêu chí đánh giá tính bền vững của dự án thủy điện

Các tiêu chí đánh giá tính bền vững bao gồm: tác động môi trường, tác động xã hội, hiệu quả kinh tế và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc sử dụng đập thủy điện cần quan tâm nhiều hơn đến các tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất cũng như giảm nhẹ những tác động tiêu cực về xã hội và môi trường.

4.2. Quy trình chứng nhận thủy điện bền vững quốc tế và VN

Quy trình chứng nhận thủy điện bền vững quốc tế và VN cần đảm bảo tính độc lập, khách quan và minh bạch. Cần xem xét các lựa chọn năng lượng khác nhau đề phù hợp cho cơ cấu năng lượng quốc gia trước khi lên kế hoạch xây dựng một dự án thủy điện. Quy trình chứng nhận thủy điện bền vững quốc tế và VN cần đảm bảo tính độc lập, khách quan và minh bạch.

V. Công nghệ Thủy điện Hiện đại Giải pháp giảm tác động

Việc áp dụng công nghệ thủy điện hiện đại là một trong những giải pháp quan trọng để giảm thiểu tác động tiêu cực. Các nhà máy thủy điện không có đường riêng cho các loài cá di chuyền hoặc nếu có thì không hiệu quả. Để giảm thiểu ảnh hưởng của thủy điện tới đa dạng sinh học của các loài thủy sinh, công nghệ thủy điện cần phải phát triển, nghiên cứu công nghệ mới cho phép loài cá vượt qua.

Tại nhiều nhà máy thủy điện không có đường riêng cho các loài cá di chuyền hoặc nếu có thì không hiệu quả. Để giảm thiểu ảnh hưởng của thủy điện tới đa dạng sinh học của các loài thủy sinh, công nghệ thủy điện cần phải phát triển, nghiên cứu công nghệ mới cho phép loài cá vượt qua. Hơn nữa, quá trình xả nước của các công trình thủy điện nên mô phỏng dòng chảy tự nhiên theo mùa của sông. Tại Thủy Điện, những thử nghiệm mô phòng dòng chảy tự nhiên đã thành.

5.1. Tua bin thế hệ mới và công nghệ thân thiện môi trường

Những tua bin thế hệ mới được thiết kế để giảm thiểu tác động đến các loài thủy sinh và cải thiện hiệu suất phát điện. Thay đổi thiết kế của nhà máy thủy điện cho phép các loài thủy sinh bơi qua và mô phỏng dòng chảy của sông qua các mùa. Để giảm thiểu ảnh hưởng của thủy điện tới đa dạng sinh học của các loài thủy sinh, công nghệ thủy điện cần phải phát triển, nghiên cứu công nghệ mới cho phép loài cá vượt qua.

5.2. Thủy điện tích năng và vai trò trong lưới điện thông minh

Thủy điện tích năng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng lưới điện thông minh và tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo khác. Một trong những giải pháp thay thế cho việc xây dựng đập thủy điện là đặt các “tua bin” trong dòng chảy của sông. Thay vì xây dựng một đập thủy điện lớn, tạo thành hồ chứa rồi cho nước chạy từ trên hồ chứa xuống, tận dụng thế năng làm quay tuabin lớn.

VI. Chính sách Thủy điện VN Cần gì để Bền vững

Việc sửa đổi và ban hành các chính sách phát triển thủy điện phù hợp là yếu tố then chốt để đảm bảo tính bền vững. Nhiều chính quyền có cái nhìn phiếm diện về thủy điện, cho rằng đó là nguồn điện năng sạch và không có mặt tiêu cực, không ảnh hưởng tới môi trường, xã hội. Các công trình thủy điện tại Brazil là một ví dụ điển hình cho vấn đề này.

Hành lang pháp lý liên quan đến thủy điện cũng như quy trình quyết định xây dựng thủy điện cần thay đổi. Ngành thủy điện nước ta nên bắt đầu xem xét tới công nghệ đặt tua bin trong dòng chảy, phù hợp với các sông, suối nhỏ tới đủ tốc độ dòng chảy. Công nghệ mới này hứa hẹn sẽ giảm thiểu ảnh hưởng tới hệ sinh thái cũng như dòng chảy và loại bỏ hoàn toàn chi phí, thời gian cần thiết dé xây dựng đập thủy điện.

6.1. Hoàn thiện quy trình ĐTM và tham vấn cộng đồng

Hiện nay, ngành thủy điện Việt Nam có khuynh hướng nghiên cứu và phát triển các dự án thủy điện nhỏ thay vì dự án lớn. Hoạt động đánh giá tác động môi trường đã trở thành yêu cầu đối với mọi dự án thủy điện xây mới tại Việt Nam, cụ thể nằm trong Mục 27, Phụ lục H, Mục I của Phụ lục thuộc Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/05/2019 của Chính phủ quy định về việc bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường.

6.2. Cơ chế tài chính và đầu tư cho thủy điện bền vững

Các cơ chế tài chính và đầu tư cần khuyến khích các dự án thủy điện thân thiện môi trường và có lợi cho cộng đồng. Việt Nam đã bắt đầu đa dạng hóa nguồn năng lượng quốc gia, giảm sự phụ thuộc lên ngành nhiệt điện trong bối cảnh nhiệt điện đang gặp nhiều khó khăn trong vấn đề sản xuất. Một trong các khó khăn đó là nguy cơ thiếu nguồn than khiến chi phí đầu vào than của ngành nhiệt điện làm giá điện tăng cao.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

11/09/2025
Chuyên đề tốt nghiệp kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững thủy điện và bài học cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN PHÁT TRIEN THỦY ĐIỆN BEN VỮNG TẠI NƯỚC TA 1. Tong quan về quá trình phát triển thủy điện tại nước ta Nhờ vị trí địa lý thuận lợi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng âm và mưa nhiều nên Việt Nam có nguồn tài nguyên thủy năng tương đối lớn. Nhiều nghiên cứu ước lượng Việt Nam có thé khai thác thủy điện với công suất 26.000MW và sản xuất khoảng 90 — 1000 tỷ KWH điện năng, trong đó 60% thuộc khu vực miền Bắc, 27% thuộc miền Trung và 13% thuộc miền Nam. Tuy nhiên với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, con số này trong thực tế chắc chăn lớn hơn nhiều.

Theo kinh nghiệm khai thác thủy điện của các nước đi trước, công suất thủy điện lý thuyết ở Việt Nam trong tương lai sẽ nằm trong khoảng 30.000MW và sản xuất 100 — 110 ty KWH điện năng. Tiềm năng phát triển thủy điện ở Việt Nam Diện tích Số công Tổng công suất Lượng (km2) trình (MW) dién(GWh) Sông Da 17.700 Sông Lô-Gâm-Chảy 52.800 2 234 99 Sông Vu Gia- Thu Bén 10.500 Song Sé San 14.400 Sông Đồng Nai 17.000 Thủy điện nhỏ 1.000 Nguồn: Công ty CP. Chứng khoán Phú Gia, 2010 Các công trình thủy điện đã xuất hiện ở Việt Nam từ trước năm 1954 do người Pháp xây dựng dé phục vụ mục địch khai thác thuộc dia, tuy nhiên chúng là những dự án không được nghiên cứu sâu và xây dựng nhanh chóng, chỉ phí thấp. Nhà máy thủy điện đầu tiên được xây dựng tại Việt Nam và cả khu vực Đông Dương là Thủy điện Ankroet, nằm ở phía thượng nguồn sông Da Dung, tỉnh Lâm Đồng.

Nhà máy được khởi công xây dựng vào tháng 10/1943 và hoàn thành vào năm 1944,công suất hoạt động 2,3MW. Công trình thủy điện có quy mô lớn đầu tiền do chính Việt Nam xây dựng, cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia từ Liên Xô, Trung Quốc là Thủy điện Thác Bà. Được khởi công vào ngày 19/8 năm 1964, nhà máy thủy điện có công suất ban đầu 108MW. Nha máy có ý nghĩa rất quan trọng, cung cấp điện phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế của miền Bắc sau khi giành được độc lập và là nơi đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên tương lai trong lĩnh vực thủy điện.

Năm 1985, Thủy điện Thác Bà được được nâng cấp công suất phát điện lên 120MW. Tại miền Nam, nhờ sự tài trợ của nước Nhật theo chương trình đền bù chiến phí của Thế chiến II, nước ta đã xây dựng Thủy điện Đa Nhim, công suất 160MW. Do ly do chiến tranh nên nguồn điện sản xuất hầu hết được cung cấp cho khu vực miền Trung mà không được sử dụng cho các Trung tâm Công nghiệp lớn tại Biên Hòa và Sài Gòn Sau khi thống nhất đất nước, với sự giúp đỡ cả về mặt tài chính và kỹ thuật từ Liên Xô, nước ta đã xây dung duoc Thủy điện Hòa Bình trên sông Da với công suất 240MW và là nhà máy thủy điện lớn nhất tại Việt Nam trong gần 20 năm, và cũng là nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ. Đây là một trong những công trình quan trọng nhất của miền Bắc và đóng góp một phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển nền kinh tế miền Bắc.

Nhà máy Thủy điện Hòa Bình đánh một dấu mốc quan trọng trong cuộc cuộc khai thác nguồn thủy năng đây tiêm năng của nước ta. Trong khoảng thời gian xây dựng Thủy điện Hòa Bình, các dự án thủy điện nhỏ và vừa tại miền Trung được các đơn vị bắt đầu khảo sát và thiết kế, ví dụ như Thủy điện Dray H’linh (12MW), Thủy điện Vĩnh Sơn (66MW). Công trình nỗi bật thứ 2 trong thời kỳ này là Thủy Điện Yaly với công suất 720 MW, là công trình thủy điện lớn thứ hai tại nước ta. Dự án Thủy điện Yaly cũng là dự án thủy điện cuối cùng trước khi việc thực thi DTM trở thành một yêu cau bắt buộc đối với mọi dự án phát triên nói chung, dự án thủy điện nói riêng.

TD Ankroet TD Hòa Binh 4— Tên thuỷ điện (Lâm Đồng ) (Hòa Bình ) + Tinh đặt nhà máy 2,3MW 1.920 MW Công suất ban đầu TD Bàn Thạch TD Yaly (Kon (ThanhHóa ) Tum/Gia Lai) 0,96MW 720 MW Nam khởi công xây dựng Bắt buộc thực TD Thác Bà hiện DTM các ‘pave ) dự án thuỷ điện TD Da Nhim 1D tr An (Lâm Đồng) (Đông Nai) 160 MW 400 MW Hình 1. Các nhà máy thủy điện trước khi có yêu cầu thực hiện DTM Nguồn: “Phát triển thủy điện ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp ”, 2016 Giai đoạn 1995 — 2005 được là một giai đoạn phát triển nồi bật trong quá trình phát triển thủy điện của Việt Nam. Quy trình lên kế hoạch xây dựng được đơn giản hóa, việc nghiên cứu bi rút ngăn tạo điều kiện cho ngành thủy điện ở Việt Nam phát triển “nóng” gây nên nhiều hệ lụy về xã hội và môi trường. Nhiều nhà máy thủy điện được khởi công xây dựng và đưa vao vận hành, các kỹ sư Việt Nam hoàn toàn có thé tự chủ một dự án công trình thủy điện thay vì phải phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật, chuyên gia nước ngoài.

Hầu hết các thiết bị cơ khí sử dụng trong nhà máy thủy điện đều do các nhà máy cơ khí trong nước sản xuất. Báo cáo của Bộ Công thương (2012) cho thấy hơn 1000 dự án được quy hoạch với quy mô lớn nhỏ khác nhau, tổng công suất lên tới 24.00MW đã được phê duyệt. Mục tiêu xây dựng của các dự án này nhằm góp phần chống lũ trong mùa mưa, cấp nước trong mùa khô phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của người dân cũng như cung cap điện dap ứng nhu câu phát triên kinh tê - xã hội của nước ta. Tính đến năm 2018, trên Việt Nam có 80 nhà máy thủy điện lớn và vừa đã hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành với tổng công suất 15.

Một số dự án thủy điện nồi bật bao gồm: Thủy điện Sơn La (2400MW), Thủy điện Lai Châu (1200MW), Thủy điện Huội Quảng (S60MW),. Tuy nhiên, các vi trí thuận lợi và có chi phí thấp cho phát tiễn thủy điện đã có dự án được triển khai, về cơ bản nước ta đã khai thác gần hết tiềm năng của thủy điện vừa và lớn. Thủy điện chuyền sang phát triển theo chiều sâu, xây dựng các nhà máy thủy điện nhỏ. Các dự án thủy điện nhỏ với công suất dưới 30MW sử dụng hình thức đầu tư BOT và BOO để huy động vốn xây dựng.

Hiện nay, Việt Nam có 310 dự án thủy điện nhỏ tại 31 tỉnh thành với tổng công suất lắp đặt 3. Trong giai đoạn phát tiên “nóng” của thủy điện, hàng loạt dự án được cấp phép trong một thời gian ngắn, một số trường hợp trước khi chính quyền và người dan tại địa phương nhận thông tin về các ngoại ứng tiêu cực của dự án. Các chính sách đưa ra vào thời kỳ này như Công văn số 797/CP-CN ban hành ngày 17/6 năm 2003 đã cho phép áp dụng hình thức Tổng thầu xây lắp cho các dự án thủy điện khởi công trong năm 2003 và 2004. Nhờ đó các thời gian xây dựng của các dự án thủy điện được rút ngắn.

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các cơ quan nhà nước chỉ cần nắm bắt được hồ sơ thiết kế cơ sở và các khâu còn lại trong qua trình thi công của công trình sẽ do chủ đầu tư tự quyết định và chịu trách nhiệm với những quyết định này. Việc trao nhiều quyền hơn cho các chủ dự án đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tình và một số vấn đề xã hội, môi trường khác như không đảm bảo tái định cư cho người dân địa phương. Ý tưởng phát triển bền vững được nêu lên từ năm 1972 do D.Meadows, đó là “phát triển có thé thay đổi xu thé tăng trưởng và thiết lập điều kiện 6n định về sinh thái và kinh tế lâu bền trong tương lai.” Nói cách khác, phát triền bền vững yêu cầu đảm bảo các mục tiêu về xã hội và môi trường trong khi duy trì phát triển kinh tế. Các hoạt động phát triển bền vững phải đảm bảo cân bằng giữa 3 khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường.

Nhìn chung các dự án thủy điện ở nước ta, đặc biệt các dự án trong thời kỳ “nóng” mới chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của nước ta để lại nhiều tác động tiêu cực tới xã hội và môi trường. Những điểm tích cực và hạn chế của thủy điện 1. Những đóng góp tích cực của thủy điện a) Nang lượng cho sản xuất và tiêu dùng Hiện tại, thủy điện chiếm tỉ trọng lớn nhất trong nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam, đồng thời cũng giữ vai trò quan trọng trong nguồn cung điện năng nói chung ở Việt Nam. Đóng góp của thủy điện vào nguồn năng lượng tại nước ta, tính đến năm 2018 chiếm 41%.

Nhờ có sự đóng góp này, nước ta đảm bảo an ninh năng lượng dé phục vụ phát triển nền kinh tế trong bối cảnh nhu cầu sản xuất và tiêu dùng vấn tiếp tục gia tăng. Đối với nhiều doanh nghiệp, đầu tư thủy điện đặt hiểu quả cao và thu hồi vốn nhanh. Theo tính toán của Tap đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), những dự án với công suất đầu tư khoảng 25 tỉ đồng/MW chi mắt 8- 10 dé thu hồi vốn. b) Điều tiết nguồn nước (chống lũ, cấp nước) Mặc dù không được chú trọng bồi các chủ đầu tư nhưng về lý thuyết, tat cả các dự án thủy điện đều có khả năng điều tiết nguồn nước (tích trữ nước, chống lụt trong mùa mưa và cung cấp nước trong mua khô).

Theo EVN (2012), hầu hết các dự án thủy điện đều đảm bảo nguồn cung nước tưới cho các khu vực theo nhu cầu của người dân. Các dự án không có hệ thông tưới trực tiếp như Thủy điện Hòa Bình, Trị An và Thác Bà,. vẫn có khả năng cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của người dân ở khu vực hạ lưu. Hơn nữa trong mùa mưa, công trình thủy điện đóng vai trò chống lũ lụt.

Tuy nhiên trên thực tế, nhiều công trình thủy điện, điển hình là các công trình của tư nhân, mục tiêu sản xuất do đem lại lợi nhuận nên được ưu tiên hơn. Chức năng điều tiết nguồn nước không được chú trọng đến trong khâu lên kế hoạch, xây dựng cũng như vận hành và gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tới người dân dưới hạ lưu. c) Là nguồn năng lượng tái tạo Nhờ vòng tuân hoàn, nước có thê coi là nguôn tài nguyên tái tạo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ