CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE BAO HIEM NHÂN THỌ VÀ DOANH NGHIEP KINH DOANH BAO HIEM NHAN THO 1. TONG QUAN VE BAO HIEM NHAN THO 1. Quá trình hình thành và phát triển Bảo Hiểm Nhân Tho Con người sinh ra luôn đặt sự an toàn lên trên nhất và bảo hiểm ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó của con người. Hon 5000 năm trước tại Trung Hoa, nạn cướp biên hoành hành khắp nơi và bảo hiểm khi đó làm nhiệm vụ ngăn chặn nạn cướp biển.
Cách đây hơn 4500 năm, tại thành Babylon cô đại các thương nhân phải đi làm ăn xa khá nhiều, họ đã đem tiền của mình cho người khác vay dé hạn chế rủi ro. Sau khi hàng hóa được chuyên đi an toàn thì họ sẽ bắt người vay tiền trả gốc kèm lãi. Ké từ khi đạo luật Hammurabi ra đời vào năm 2100 TCN đã đặt ra khuôn khổ pháp luật về hoạt động chô vay giữa các thương nhân. Đạo luật này đã cụ thé và thống nhất hóa các khái niệm “bottomry” và “respondentia”.
Các khái niệm này đã đặt nền móng cho hợp đồng hàng hải phát triển. Không lâu sau đó, bảo hiểm nhân thọ xuất hiện ở dé quốc La Mã cô đại. Tại đây họ đã lập ra các hội mai táng cho các thành viên trong hội và hỗ trợ 1 phần kinh phí cho thân nhân. Năm 450 sau Công Nguyên, đế quốc La Mã sụp đỗ khiến người ta quên đi khái niệm bao hiểm nhân thọ.
Tuy nhiên, tính chat của nó vẫn không hề thay đổi suốt thời đại Trung Cổ, nhất là đối với các phường hội thủ công và công nghiệp. Các phường hội này đã lập lên nhiều hình thức bảo hiểm để bù đắp sau các trận hỏa hoạn, lũ lụt, trộm cướp, ngoài ra còn có thêm thương tật, tử vong thậm chí là bảo hiểm ngục tù trong trường hợp người mua bảo hiểm vào tù. Trong thời đại phong kiến, ngành mậu lịch không được chú trọng dẫn đến việc bảo hiểm cũng bị mai một. Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ thé kỉ 14 đến thế kỷ 16 các ngành giao thông thương nghiệp và cả dịch vụ bảo hiểm cũng phát triển trở lại.
Tại các quốc gia Án Độ, bộ kinh Veda là nguồn gốc hình thành bảo hiểm. Bảo hiểm nhân thọ Yogakahema là một công ty trực thuộc tổng hội liên hiệp bảo hiểm An Độ. Khoảng 1000 năm TCN, hình thức “Bảo hiểm cộng đồng” đã thịnh hành và thu hút đông đảo người Aryan tham gia. Ở Châu Âu, năm 1688, sau khi cách mạng ánh sáng kết thúc (Glorious Revolution) có duy nhất Vương Quốc Anh công nhận quyền và tính pháp luật của bảo hiểm nhân thọ.
Chính vì vậy mà suốt 3 thập kỉ sau đó, tại Vương Quốc Anh thì dịch vụ bảo hiểm đã rat phát triển. Tại Mỹ, bảo hiểm lan sang không lâu sau đó, ngành bảo hiểm ở Hoa Kỳ cũng được xây dựng tương tự theo mô hình ở Anh. Doanh nghiệp bảo hiểm đầu tiên ở Hoa kỳ ra đời tại Charleton bang South Carolina vao năm 1735. Nam 1759 Philadenphia đã quyết định bảo trợ cho công ty bảo hiểm đầu tiên này tại Hoa Kỳ.
Tập đoàn này hoạt động phục vụ lợi ích của các mục sư và tín đồ hồi giáo. Ngày 22/5/1761 tập đoàn này đã kí hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên với người dân Mỹ. Cho dù vậy, mãi đến 80 năm sau (1840) dịch vụ bảo hiểm nhân thọ tại Mỹ mới thực sự phát triển do đến lúc này các công ty bảo hiểm mới hạn chế được sự chống đối của tôn giáo. Loại hình “Bảo hiểm công cộng” đã có từ những năm 1880 cùng với sự ra đời của xe ô tô và hình thức bảo hiểm này được người dân Mỹ hưởng ứng rất nhiệt tình.
Năm 1897, Chính phủ Anh thông qua đạo luật “ Đạo luật bồi thường cho người lao động”, đạo luật này buộc các công ty phải đóng bảo hiểm tai nan lao động cho tat cả nhân viên. Trong thế kỉ 19, người ta đã lập ra rất nhiều các hội có trách nhiệm bảo hiểm nhân mạng và sức khỏe cho các hội viên. Bên cạnh đó cũng có một số hội kín chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm lệ phí thấp cho những ai là hội viên của họ. Ngày nay những hội kín này vẫn còn hoạt động và diễn ra ở hầu hết các tổ chức của người lao động.
Các hợp đồng này không chỉ bảo vệ cho người lao động mà còn đảm bảo quyền lợi cho nhân viên khi họ bị bệnh, tai nạn hoặc nghỉ hưu. Hầu hết trong các hợp đồng này nhân viên phải trả 1 phần phí bảo hiểm. Tại Việt Nam, Tổng công ty Bảo Hiểm Việt Nam (gọi tắt là BAOVIET) là doanh nghiệp Bảo hiểm đầu tiên của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, công ty đã ra đời ngày 17/12/1964 và bắt đầu hoạt động chính thức từ ngày 15/01/1965. Ké từ đó cho tới trước năm 1993, ở nước ta chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất trực thuộc sự quản lí của Bộ Tài chính.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, Nhà Nước cũng có phương án cũng như chính sách khác làm giảm cơ chế hóa tập trung, đưa doanh nghiệp tiếp cận thị trường nhưng vẫn có sự quản lý của Nhà nước, tạo ra hướng đi mới đột phá đây mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ : “Khuyến khích phát triển, đa dạng hoá hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các thành phần kinh tế và mở cửa hợp tác với nước ngoài. Ngày 18/12/1993 Chính phủ đã ban hành nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng pháp luật về 2 bảo hiểm.
Nghị định này là bước ngoặt quan trọng đánh dấu chấm dứt sự độc quyền Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Theo nghị định này các doanh nghiệp bảo hiểm có thé là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cô phan, hội bảo hiểm tương hỗ, công ty liên doanh với nước ngoài, chi nhánh hay công ty 100% vốn nước ngoài. Và có thé nói đây là thời kỳ bắt đầu của việc “tự do hoá” và mở cửa thị trường Việt Nam. Chính phủ cũng đã có sự quan tâm cụ thé đối với các doanh nghiệp bảo hiểm vì nó ngày càng trở thành một nhu cầu tất yêu của người dân cũng như không thé phủ nhận được tác dung to lớn của bảo hiểm trong đời sống và kinh tế.
Mặc dù chúng ta tiếp cận với bảo hiểm sau các nước Châu Âu nhưng những gì BVNT Việt Nam đạt được trong thời gian đó rất đáng ghi nhận, tạo nên cho người dân Việt Nam một phong tục sống mới, một hình thức tiết kiệm mới. Năm 1999 một số công ty Bảo hiểm nhân thọ nước ngoài đã gia nhập thị trường bảo hiểm tại Việt Nam khiến cho thị trường này ngày càng sôi động và phong phú hơn giúp cho người dân có thé lựa chọn cho minh sản phẩm bảo hiểm phù hợp nhất. Hiện tại, thị trường BHNT tại Việt Nam đang có 18 công ty cùng hoạt động trên nhiều lĩnh vực bảo hiểm khác nhau khiến cho thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt quyết liệt góp phan tạo nên sự đa dang trong nén kinh tế nước nhà. Khái niệm bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm mà trong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm chỉ trả số tiền bảo hiểm cho người tham gia khi họ gặp rủi ro trong phạm vi hợp đồng quy định (chang hạn như: tử vong, thương tật toàn bộ vĩnh viễn, hết hạn hợp đồng, sống đến một thời hạn nhất định).
Trong khi đó, người tham gia bảo hiểm cần tuân thủ đúng các quy định được ghi trong hợp đồng và đóng phí bảo hiểm đúng thời hạn quy định. Như vậy bảo hiểm được coi một sự bảo đảm “một hình thức tiết kiệm” và mang tính chất hỗ trợ. Mỗi người mua Bảo hiểm nhân thọ (thường gọi là người được BH) sẽ định kỳ trả những khoản tiền nhỏ (gọi là phí BH) trong một thời gian dài như đã thoả thuận trước (gọi là thời hạn BH) cho công ty BH quản lý theo đó công ty BH có trách nhiệm chỉ trả số tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định, kết thúc thời hạn bảo hiểm hay khi có một sự kiện xảy ra (người được Bảo hiểm kết hôn hoặc vào đại học hoặc nghỉ hưu. ) hoặc cho thân nhân và gia đình người được Bảo hiểm nếu không may gặp rủi ro.
Như một hình thức tiết kiệm, việc triển khai Bảo hiểm nhân thọ là một hình thức tập trung nguồn vốn tiết kiệm dài hạn trong nhân dân, góp phần tạo nên nguồn vốn đầu tư dai hạn trong nền kinh tế. Đặc điểm Y Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm không định hình Thực chất, việc mua bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro giữa người tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm. Tại thời điểm bán, các công ty bảo hiểm chỉ là đưa ra những lời hứa, cam kết bồi thường trong phạm vi bảo hiểm nhất định va người mua bảo hiểm cũng không thể biết trước được những rủi ro sẽ xảy ra hoặc cảm nhận được băng các giác quan thông thường. Người mua bảo hiểm bắt buộc phải đặt niềm tin vào các công ty BH.
Y Là sản phẩm dễ bắt chước Mọi hợp đồng bảo hiểm đều có thể được sao chép và bán tại các công ty bảo hiểm khác nhau tùy thuộc vào hình thức quảng cáo và tên của doanh nghiệp bảo hiểm. Dù là hợp đồng bảo hiểm bản gốc cũng không được bảo hộ về bản quyên. Y Có hiệu quả về xê dich Lợi ích và số tiền bảo hiểm không có con số nhất định, nó phụ thuộc vào thời gian tham gia bảo hiểm của người mua. Người tham gia cũng không biết chính xác mình sẽ sử dụng khi nào, họ chỉ mua như là một hình thức đảm bảo cho cuộc sông khi có rủi ro xảy ra.
vé BHNT vừa mang tính tiêt kiệm vừa mang tính rủi ro. Tính tiết kiệm trong bảo hiểm thé hiện ở trong từng cá nhân, gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật. Tiết kiệm bằng cách mua bảo hiểm khác với các loại hình tiết kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm không những tích luỹ về mặt tài chính mà còn mang tính bảo vệ cho bản thân, khi có rủi ro xảy ra cho bản thân thì vẫn được đảm bảo về mặt tải chính, đó chính là đặc điểm cơ bản của BHNT mà các loại hình tiết kiệm khác không có được.