Lời mở đầu và Kết luận, khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Các lý luận chung về vốn bằng tiền và công tác hạch toán kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng hạch toán kế toán vốn bằng tiền tại công ty TNHH Đức Tài. Chƣơng 3: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác hạch toán vốn bằng tiền tại công ty TNHH Đức Tài. Trịnh Thiện Trang_ QTL 603K Page 1 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, đặc biệt là cô giáo Th.S Lê Thị Nam Phƣơng, cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Công ty TNHH Đức Tài đã tận tình giúp đỡ, hƣớng dẫn em hoàn thành chuyên đề thực tập này.
Do những hạn chế về thời gian, khả năng chuyên môn và thực tế nên bài viết của em không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận đƣợc sự góp ý phê bình của thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn! Trịnh Thiện Trang_ QTL 603K Page 2 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng CHƢƠNG I: CÁC LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN BẰNG TIỀN VÀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN BẰNG TIỀN 1.
Khái niệm vốn bằng tiền và đặc điểm vốn bằng tiền. Khái niệm: - Vốn bằng tiền là toàn bộ các hình thức tiền tệ hiện thực do đơn vị sở hữu, tồn tại dƣới hình thái giá trị và thực hiện chức năng phƣơng tiện thanh toán trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn bằng tiền là một loại tài sản mà doanh nghiệp nào cũng có và sử dụng. - Vốn bằng tiền là một bộ phận của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp tồn tại dƣới hình thái tiền tệ, bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, và tiền đang chuyển.
Đặc trƣng của vốn bằng tiền là có tính thanh khoản cao, do vậy vốn bằng tiền đƣợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tƣ hàng hóa để sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy quy mô vốn bằng tiền phản ánh khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.Vai trò: - Trong quá trình kinh doanh, vốn bằng tiền đƣợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm TSCĐ, vật tƣ hàng hoá sản xuất kinh doanh, trả lƣơng cho ngƣời lao động. - Vốn bằng tiền còn là kết quả của việc mua bán hoặc thu hồi các khoản nợ. - Vốn bằng tiền là chi phí cho các hoạt động phục vụ sản xuất kinh doanh.Thiếu vốn là một trong những trở ngại và là một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp.
Do đó vốn bằng tiền đóng một vai trò rất quan trọng, đảm bảo cho công tác sản xuất kinh doanh đƣợc liên tục, đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Nhiệm vụ: Xuất phát từ những đặc điểm nêu trên, hạch toán vốn bằng tiền phải thực hiện các nhiệm vụ sau: - Theo dõi tình hình thu, chi, tăng, giảm, thừa, thiếu và số hiện có của từng loại vốn bằng tiền. - Giám đốc thƣờng xuyên kiểm tra tình hình thực hiện chế độ quản lý tiền mặt, kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng. Trịnh Thiện Trang_ QTL 603K Page 3 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng - Hƣớng dẫn và kiểm tra việc ghi chép của thủ quỹ, thƣờng xuyên kiểm tra đối chiếu số liệu của thủ quỹ và kế toán tiền mặt.
- Tham gia vào công tác kiểm kê quỹ tiền mặt, phản ánh kết quả kiểm kê kịp thời. - Phản ánh chính xác kịp thời những khoản thu chi và tình hình còn lại vốn bằng tiền, kiểm tra, và quản lý nghiêm ngặt việc quản lý các loại vốn bằng tiền nhằm đảm bảo an toàn cho tiền tệ, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tƣợng tham ô và lợi dụng tiền mặt trong kinh doanh. -Nguyên tắc hạch toán vốn bằng tiền bao gồm: + Hạch toán kế toán phải sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất là "đồng Việt Nam" (VNĐ) để phản ánh tổng hợp các loại vốn bằng tiền. + Nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải quy đổi ra " đồng Việt Nam" theo tỷ giá mua do Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ để ghi sổ kế toán, đồng thời phải theo dõi cả nguyên tệ của các loại ngoại tệ đó.
+ Đối với vàng bạc, kim khí quý, đá quý phản ánh ở tài khoản vốn bằng tiền chỉ áp dụng cho doanh nghiệp không kinh doanh vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, phải theo dõi trọng lƣợng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng loại, từng thứ, giá nhập vào trong kỳ đƣợc tính theo giá trị thực tế, còn giá xuất có thể đƣợc tính theo một trong các phƣơng pháp sau: - Phƣơng pháp giá trị thực tế bình quân gia quyền. - Phƣơng pháp giá trị thực tế nhập trƣớc, xuất trƣớc. - Phƣơng pháp giá thực tế nhập sau, xuất trƣớc. + Phải mở sổ chi tiết cho từng loại ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý theo đối tƣợng, chất lƣợng.
cuối kỳ hạch toán phải điều chỉnh lại giá trị ngoại tệ vàng bạc, kim khí quý, đá quý theo giá vào thời điểm tính toán để có đƣợc giá trị thực tế chính xác. Nếu thực hiện đúng các nhiệm vụ và nguyên tắc trên thì hạch toán vốn bằng tiền sẽ giúp cho doanh nghiệp quản lý tốt vốn bằng tiền, chủ động trong việc thực hiện kế hoạch thu chi và sử dụng vốn có hiệu quả cao. Tổ chức công tác kế toán vốn bằng tiền: 1. Luân chuyển chứng từ: Chứng từ kế toán là những phƣơng tiện chứng minh bằng văn bản cụ thể tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế phát sinh, mọi hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp đều phải lập chứng từ hợp lệ chứng minh theo đúng mẫu và Trịnh Thiện Trang_ QTL 603K Page 4 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng phƣơng pháp tính toán, nội dung ghi chép quy định, một chứng từ hợp lệ cần chứa đựng tất cả các chỉ tiêu đặc trƣng cho nghiệp vụ kinh tế đó về nội dung, quy mô, thời gian và địa điểm xảy ra nghiệp vụ cũng nhƣ ngƣời chịu trách nhiệm về nghiệp vụ, ngƣời lập chứng từ.
Sự luân chuyển đó đƣợc xác định bởi khâu sau: + Tạo lập chứng từ: Do hoạt động kinh tế diễn ra thƣờng xuyên và hết sức đa dạng nên chứng từ sử dụng để phản ánh cũng mang nhiều nội dung, đặc điểm khác nhau. Chứng từ phải lập theo mẫu nhà nƣớc quy định và có đầy đủ chữ ký của những ngƣời có liên quan. + Kiểm tra chứng từ: Khi nhận đƣợc chứng từ phải kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp, hợp lý của chứng từ. Chỉ sau khi chứng từ đƣợc kiểm tra nó mới đƣợc sử dụng làm căn cứ để ghi sổ kế toán.
+ Sử dụng chứng từ cho kế toán nghiệp vụ và ghi sổ kế toán: cung cấp nhanh thông tin cho ngƣời quản lý phần hành này: - Phân loại chứng từ theo từng loại tiền, tính chất, địa điểm phát sinh phù hợp với yêu cầu ghi sổ kế toán. - Lập định khoản và ghi sổ kế toán chứng từ đó. + Bảo quản và sử dụng lại chứng từ trong kỳ hạch toán: Trong kỳ hạch toán, chứng từ sau khi ghi sổ kế toán phải đƣợc bảo quản và có thể tái sử dụng để kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết. + Lƣu trữ chứng từ: Chứng từ vừa là căn cứ pháp lý để ghi sổ kế toán, vừa là tài liệu lịch sử kinh tế của doanh nghiệp.
Vì vậy, sau khi ghi sổ và kết thúc kỳ hạch toán, chứng từ đƣợc chuyển sang lƣu trữ theo nguyên tắc: - Chứng từ không bị mất. - Khi cần có thể tìm lại đƣợc nhanh chóng. - Khi hết thời hạn lƣu trữ, chứng từ sẽ đƣợc đƣa ra hủy. Tài khoản sử dụng Để theo dõi tình hình hiện có, biến động tăng giảm của vốn bằng tiền kế toán sử dụng các TK sau: - TK 111: ”Tiền mặt” dùng để phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng giảm của các loại tiền tại quỹ của Việt Nam.
- TK 112: “Tiền gửi ngân hàng” dùng để phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng giảm của các loại tiền của doanh nghiệp đang đƣợc gửi tại các ngân hàng và tổ chức tài chính khác. Trịnh Thiện Trang_ QTL 603K Page 5 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng - TK 113: “Tiền đang chuyển” dùng để phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng giảm của các loại tiền của doanh nghiệp đang trong thời gian làm thủ tục thanh toán. KẾ TOÁN TIỀN MẶT - Mỗi doanh nghiệp đều có một lƣợng tiền mặt tại quỹ để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu trực tiếp hàng ngày trong sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Tại Nhà máy, chỉ những nghiệp vụ phát sinh không lớn mới thanh toán bằng tiền mặt.
Hạch toán vốn bằng tiền do thủ quỹ thực hiện và đƣợc theo dõi từng ngày. Tiền mặt của Nhà máy tồn tại chủ yếu dƣới dạng đồng nội tệ và rất ít dƣới dạng đồng ngoại tệ. Thông thƣờng tiền giữ tại doanh nghiệp bao gồm: giấy bạc ngân hàng Việt Nam, các loại ngoại tệ, ngân phiếu, vàng bạc, kim loại đá quý. Để hạch toán chính xác tiền mặt, tiền mặt của doanh nghiệp đƣợc tập trung tại quỹ, mọi nghiệp vụ có liên quan đến thu, chi tiền mặt, quản lý và bảo quản tiền mặt đều do thủ quỹ chịu trách nhiệm thực hiện.
Pháp lệnh kế toán, thống kê nghiêm cấm thủ quỹ không đƣợc trực tiếp mua, bán hàng hóa, vật tƣ, kiêm nhiệm công việc tiếp liệu hoặc tiếp nhiệm công việc kế toán. Nguyên tắc chế độ lưu thông tiền mặt Việc quản lí tiền mặt phải dựa trên nguyên tắc chế độ và thể lệ của nhà nƣớc ban hành. Phải quản lí chặt chẽ cả hai mặt thu, chi và tập trung nguồn tiền vào ngân hàng nhà nƣớc nhằm điều hòa tiền tệ trong lƣu thông, tránh lạm phát và bội chi ngân sách nhà nƣớc. Bởi vậy, kế toán trong đơn vị phải thực hiện các nguyên tắc sau: - Nhà nƣớc quy định ngân hàng là cơ quan duy nhất để phụ trách quản lí tiền mặt.
Các xí nghiệp, cơ quan phải chấp hành nghiêm chỉnh các chế độ, thể lệ quản lí tiền mặt của nhà nƣớc. - Các xí nghiệp, tổ chức kế toán và các cơ quan đều phải mở tài khoản tại ngân hàng, để gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng để hoạt động - Mọi khoản thu bằng tiền mặt bất cứ từ nguồn nào đều phải nộp hết vào ngân hàng. Trừ trƣờng hợp ngân hàng cho phép tự ghi.