Đặt vấn đề Cây đậu tương (Glycine max (L) Merr) là một trong những cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao, được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nhằm cung cấp thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp, thức ăn cho gia súc và cây cải tạo đất. Theo các phân tích hóa sinh cho thấy trong hạt đậu tương chứa hàm lượng protein cao và khả năng tiêu hóa còn dễ hơn protein của thịt (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999). Do đậu tương có hàm lượng dinh dưỡng cao, khả năng cung cấp năng lượng lớn (khoảng 4700 calo/kg) nên hiện nay hạt đậu tương được dùng để chế biến trên 300 loại sản phẩm thực phẩm khác nhau bằng phương pháp cổ truyền và phương pháp hiện đại. Ở Việt Nam, điều kiện đất đai, khí hậu rất thuận lợi cho cây đậu tương phát triển.
Theo số liệu thống kê của Bộ NN & PTNT, trong vòng 10 năm qua (2001 - 2009) năng suất đậu đỗ tăng từ 12,4 lên 14,6 tạ/ha. Diện tích tăng 140 nghìn ha lên 193 nghìn ha. Theo Trần Đình Long, với năng suất và sản lượng đậu đỗ như hiện nay thì Việt Nam thiếu nguyên liệu này một cách trầm trọng. Trung bình nhu cầu dùng đậu tương hàng năm của nước ta vào khoảng 3 triệu tấn.
Năm 2008 ta phải nhập khoảng 1,8 triệu tấn bột đậu, 0,13 triệu tấn hạt, 9,81 nghìn tấn đậu nành, với kim ngạch gần 1 tỷ USD. Việt Nam hiện phải phụ thuộc tới 90% từ nguồn đậu tương nhập khẩu. Mặt khác giá thành sản xuất lkg đậu tương tại Việt Nam rất cao (gấp 1,3 - 1,5 lần so với giá của thế giới). Do năng suất đậu tương của nước ta quá thấp.
Trong khi chúng ta có thể nâng cao năng suất và sản lượng bằng cách đưa giống mới vào sản xuất và thay đổi quy trình thâm canh một cách hợp lý. 1 Bên cạnh những tiến bộ về giống mới thì phân bón lá được xem là một tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp từ những năm 90 của thế kỷ trước. Ở Việt Nam, những năm gần đây đã có rất nhiều phân bón qua gốc và phân bón qua lá được sản xuất. Tuy nhiên việc sử dụng phân bón lá trên cây trồng đòi hỏi phải có kỹ thuật và hiểu biết nhất định để đem lại hiệu quả cao, nhất là với cây đậu tương ở giai đoạn hình thành nốt sần và hình thành quả cần được cung cấp nhiều dinh dưỡng.
Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân vi lượng Green – Nutrient đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương DT18975 và DT14307”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của phân vi lượng Green – Nutrient đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của hai giống đậu tương DT18975 và DT14307 bón qua lá và bón qua gốc. Từ đó góp phần cho việc sử dụng phân vi lượng Green – Nutrient một cách hiệu quả trong sản xuất đậu tương.
Yêu cầu Đánh giá được sự ảnh hưởng của phân vi lượng Green – Nutrient đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của hai giống đậu tương DT18975 và DT14307 bón qua gốc. Xác định được liều lượng phân bón lá Green – Nutrient sử dụng trên hai giống đậu tương DT18975 và DT14307 cho năng suất cao nhất. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Vai trò của cây đậu tương Cây đậu tương ( Glycine max (L) Merr) là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao.
Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp cho luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Chính vì thế cây đậu tương được gọi là “ Ông hoàng của các loại đậu”. Giá trị về mặt thực phẩm Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung bình khoảng từ 35,5% – 40%.
Trong đó hàm lượng protein trong gạo chỉ từ 6,2%- 12%, ngô 9,8%- 13,2%, thịt bò 21%, thịt gà 20%, cá 17%- 20% và trứng 13%- 14,8% , lipit từ 15%- 20%, hidratcacbon từ 15%-16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống ( Nguyễn Thị Hiền và Vũ Thị Thư, 2004). Hạt đậu tương là loại thực phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời về cả protein và lipit. Protein của đậu tương có phẩm chất tốt nhất trong số protein có nguồn gốc thực vật. Hàm lượng protein trong hạt đậu tương cao hơn cả hàm lượng protein trong thịt, cá và cao gấp hai lần so với các loại đậu đỗ khác.
Hàm lượng axit quan trọng có chứa lưu huỳnh như methionin và cystin của đậu tương cao gần bằng hàm lượng của các chất này có trong trứng gà. Hàm lượng cazein, đặc biệt lysine cao gấp rưỡi hàm lượng chất này có trong trứng gà. Vì thế khi nói đến giá trị của protein trong hạt đậu tương là nói đến hàm lượng protein cao và sự cân đối của các loại axit amin cần thiết. Protein trong hạt đậu tương dễ tiêu hóa hơn thịt và không có các thành phần tạo colesteron.
Ngày nay người ta mới biết thêm hạt đậu tương có chứa lexithin, có tác dụng làm cho cơ 4 thể trẻ lâu, tăng thêm trí nhớ, tái tạo các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể. Hạt đậu tương có chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên được coi là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng. Lipit của đậu tương chứa một hàm lượng cao các axit béo chưa no (khoảng 60%-70%) có hệ số đồng hóa cao, có mùi thơm như axit linoleic chiếm 52%-65%, oleic từ 25%-36%, linolenoic khoảng 2%-3% (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Dùng dầu đậu tương thay mỡ động vật có thể tránh được xơ vữa động mạch.
Trong hạt đậu tương có khá nhiều loại vitamin, đặc biệt là hàm lượng vitamin B1 và B2, ngoài ra còn có các loại vitamin PP, A, E, K, D, C, … Đặc biệt trong hạt đậu tương đang nảy mầm hàm lượng vitamin tăng lên nhiều, đặc biệt là vitamin C. Phân tích hóa sinh cho thấy trong hạt đậu tương đang nảy mầm, ngoài hàm lượng vitamin C cao còn có các thành phần khác như : vitamin PP và các chất khoáng khác như Ca, P, Fe,… Chính vì thành phần dinh dưỡng cao như vậy nên đậu tương có khả năng cung cấp năng lượng khá cao khoảng 4700 cal/kg (Nguyễn Danh Đông,1982). Hiện nay từ hạt đậu tương người ta có thể chế biến ra hơn 600 sản phẩm khác nhau, trong đó có hơn 300 loại được chế biến bằng cả phương pháp cổ truyền, thủ công và hiện đại dưới dạng tươi khô và lên men,. như làm giá, đậu phụ, tương, xì dầu,… đến các sản phẩm cao cấp như cà phê đậu tương, bánh kẹo và thịt nhân tạo,… Đậu tương còn là vị thuốc bổ để chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương hạt đen, có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột.
Đậu tương là thực phẩm tốt cho những người bị bệnh đái tháo đường, thấp khớp, thần kinh suy nhược và suy dinh dưỡng. Giá trị về mặt Công nghiệp Đậu tương là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau như: chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, chất đốt lỏng, dầu bôi trơn trong ngành hàng không, nhưng đậu tương được dùng chủ yếu để ép dầu. Dầu đậu tương chiếm 50% tổng lượng dầu thưc vật. Đặc điểm của 5 dầu đậu tương : khô chậm, chỉ số iot cao 120-127, ngưng tụ ở nhiệt độ -150C đến -180C.
Từ dầu này người ta có thể chế biến ra hàng trăm các loại sản phẩm công nghiệp khác như : làm nến, xà phòng, nilon,. Giá trị về mặt Nông nghiệp Làm thức ăn cho gia súc : Đậu tương là nguồn thức ăn tốt cho gia súc, 1 kg hạt đậu tương tương đương với 1,38 đơn vị thức ăn chăn nuôi. Toàn thân đậu tương ( thân, lá, quả, hạt) có lượng đạm khá cao cho nên các sản phẩm phụ thân lá tươi có thể làm thức ăn cho gia súc rất tốt, hoặc nghiền khô làm thức ăn tổng hợp cho gia súc. Sản phẩm phụ công nghiệp như khô dầu có thành phần dinh dưỡng khá cao : N 6,2%, P2O5 0,7%, K2OM 0,4% vì thế làm thức ăn cho gia súc rất tốt (Ngô Thế Dân và cs, 1999).
Cải tạo đất : Đậu tương là cây luân canh cải tạo đất tốt, 1ha trồng đậu tương nếu sinh trưởng phát triển tốt sẽ để lại trong đất từ 30-60 kg N (Phạm Gia Thiều, 2000). Trong hệ thống luân canh nếu bố trí cây đậu tương vào cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ có tác dụng tốt đối với cây trồng sau, góp phần tăng năng suất cả hệ thống cây trồng và giảm chi phí cho việc bón N. Thân lá đậu tương dùng bón ruộng thay phân hữu cơ rất tốt bởi hàm lượng N trong thân chiếm 0,05%, trong lá 0,19% ( Nguyễn Danh Đông, 1982). Yêu cầu về sinh thái của Đậu tương 2.
Yêu cầu về nhiệt độ Đậu tương có nguồn gốc ôn đới nhưng là cây trồng không chịu rét. Tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau mà cây yêu cầu một khoảng nhiệt độ khác nhau. Nhiệt độ ảnh hưởng sâu sắc đến sinh trưởng, phát triển và các quá trình sinh lý khác của cây đậu tương. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của đậu tương là 25- 280C, nhiệt độ tối thiểu, tối đa cho sự nảy mầm là từ 5- 400C, nhiệt độ tối ưu cho hạt nảy mầm là 300C (Delouche, 1953), giai đoạn ra hoa yêu cầu nhiệt độ cao hơn vì dưới 180C sẽ hạn chế sự đậu quả,nhiệt độ thích hợp ở thời kỳ này là 24- 6 340C, nhiệt độ dưới 100C ngăn cản sự phân hóa hoa, ở giai đoạn chín nhiệt độ thích hợp là 20-250C.
Nhiệt độ trên 400C ảnh hưởng sâu sắc đến hình thành nốt sần, sinh trưởng lóng và phân hóa hoa. Tuy nhiên đậu tương chịu rét lớn hơn ngô. Do vậy, trong vụ đông cần bố trí thời gian trồng hợp lý để năng suất đậu tương có thể đạt được cao. Trong cả giai đoạn sinh trưởng và phát triển tùy thuộc vào giống chín sớm hay chín muộn mà yêu cầu một lượng tích ôn phù hợp, những giống đậu tương ngắn ngày có tổng tích ôn 1700 – 22000C, trong khi đối với những giống dài ngày là 3200- 38800C tương đương 140- 160 ngày (Lowell, 1975).
Ngoài ra nhiệt độ còn ảnh hưởng đến sự cố định Nito của đậu tương.