phần mở đầu và kết luận, nội dung gồm 3 phần: Chƣơng I: Những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Chƣơng II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần đầu tư HT VINA. Chƣơng III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần đầu tư HT VINA. Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên bài viết này không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên Trần Thị Khuyên SV: Trần Thị Khuyên – Lớp QT 1404K 1 Trường Đại học Dân lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH 1. Những vấn đề chung về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề mà các doanh nghiệp luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu là làm thế nào để hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất.
Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận của một doanh nghiệp chính là doanh thu, thu nhập và các khoản chi phí. Doanh thu của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Trước hết, doanh thu là nguồn tài chính quan trọng đảm bảo trang trải các khoản chi phí hoạt động kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tái sản xuất giản đơn cũng như tái sản xuất mở rộng, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên về đời sống và tinh thần. Doanh thu còn là nguồn để các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước như nộp các khoản thuế theo quy định, là nguồn có thể tham gia góp vốn cổ phần, tham gia liên doanh liên kết với các đơn vị khác,… Đồng thời, doanh nghiệp cũng luôn quan tâm đến công tác quản lý chi phí, bởi nếu doanh thu đạt được không đủ bù đắp chi phí thì sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Vì vậy, vấn đề quan trọng đặt ra cho các nhà quản lý là phải kiểm soát được chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, công tác kế toán doanh thu, chi phí và xácđịnh kết quả kinh doanh không chỉ cần thiết đối với doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với các đối tượng khác: + Đối với nhà đầu tư: Công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh là cơ sở để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định có nên đầu tư hay k? + Đối với các trung gian tài chính như Ngân hàng, các công ty cho thuê tài chính: Công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh giúp họ thấy rõ được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, đưa ra các quyết định cho vay hợp lý. SV: Trần Thị Khuyên – Lớp QT 1404K 2 Trường Đại học Dân lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp + Đối với các cơ quan quản lý vĩ mô nền kinh tế: Từ công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh, các nhà hoạch định chính sách của Nhà nước có thể tổng hợp, phân tích số liệu giúp chính phủ có thể điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô, đồng thời quản lý được các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước,….
Yêu cầu và nhiệm vụ của công tác kế toán doanh thu,chi phí và xác định kết quả kinh doanh. - Phản ánh và ghi chép đầu đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm, hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị. - Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác các khoản doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp. Đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu khách hàng.
- Tham mưu các giải pháp thúc đẩy bán hàng, mở rộng thị phần, tăng vòng quay vốn. - Cung cấp thông tin cần thiết về tình hình bán hàng cho lãnh đạo doanh nhiệp kịp thời có số liệu để phục vụ việc ra quyết định, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. - Cung cấp các số liệu, tài liệu cho cơ quan quản lý Nhà nước phục vụ cho yêu cầu quản lý chung nền kinh tế ở tầm vĩ mô, giám sát tình hình thực hiện các nghĩa vụ về thuế. - Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập Báo cáo tài chính và định kì phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác định và phân phối kết quả.
Các khái niệm cơ bản. Theo chuẩn mực kế toán số 14 “ Doanh thu và thu nhập khác” ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính: Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn SV: Trần Thị Khuyên – Lớp QT 1404K 3 Trường Đại học Dân lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu (Ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng, thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng).
Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu. Các loại doanh thu: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Theo chuẩn mực kế toán số 14 “ Doanh thu và thu nhập khác”: Điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng. Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiện sau: Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Điều kiện ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ: Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy. Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó. Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn (4) điều kiện sau: Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó; Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán; SV: Trần Thị Khuyên – Lớp QT 1404K 4 Trường Đại học Dân lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó. Doanh thu bán hàng nội bộ.
Doanh thu bán hàng nội bộ là lợi ích kinh tế thu được từ việc bán hàng hóa, sản phẩm, cung cấp dịch vụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng công ty tính theo giá nội bộ. Các khoản giảm trừ doanh thu. - Chiết khấu thanh toán: là số tiền thưởng cho người mua, tính trên tổng số tiền mà người mua thanh toán đúng hoặc trước thời hạn theo hợp đồng. -Chiết khấu thương mại: gồm bớt giá và hồi khấu.
+ Bớt giá: là khoản giảm trừ trên giá bán thông thường cho người mua, do họ mua khối lượng hàng lớn trong 1 lần. + Hồi khấu: là số tiền thưởng cho người mua, do họ mua khối lượng hàng lớn trong một khoảng thời gian nhất định. - Hàng bán bị trả lại: là số hàng đã được coi là tiêu thụ nhưng bị người mua trả lại và từ chối thanh toán. - Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho người mua trên giá bán đã thỏa thuận do các nguyên nhân đặc biệt thuộc về người bán như hàng kém phẩm chất, hàng không đúng quy cách, hàng giao không đúng hẹn,… - Thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp: là số thuế gián thu tính trên khoản giá trị gia tăng tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến người tiêu dùng và người tiêu dùng là người chịu thuế.
- Thuế TTĐB: là loại thuế gián thu tính trên khoản thu của một số mặt hàng Nhà nước quy định nhằm thực hiện sựđiều chỉnh của nhà nước đối với người tiêu dùng. - Thuế XK: là thuế tính trên doanh thu của các sản phẩm bán ra ngoài lãnh thổ Việt Nam. Doanh thu thuần: là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ với các khoản giảm trừ doanh thu. Doanh thu hoạt động tài chính.
SV: Trần Thị Khuyên – Lớp QT 1404K 5 Trường Đại học Dân lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp Doanh thu hoạt động tài chính: bao gồm những khoản doanh thu liên quan đến hoạt động tài chính. Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm: - Tiền lãi, tiền gửi, lãi cho vay vốn, lãi bán hàng trả chậm trả góp, chiết khấu thanh toán được hưởng do mua hàng hóa, dịch vụ.