Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Lễ hội truyền thống tại các làng xã đồng bằng Bắc Bộ là không gian sinh hoạt văn hóa phản ánh tiến trình lịch sử, phương thức sản xuất nông nghiệp và mối quan hệ cố kết cộng đồng. Trong bối cảnh xã hội hiện đại hóa, xu hướng tách rời giữa đời sống con người với môi trường tự nhiên và truyền thống lịch sử làm gia tăng nhu cầu hồi quy cội nguồn thông qua các biểu tượng văn hóa cổ truyền. Tỉnh Thái Bình là vùng đất hạ lưu sông Hồng mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước, đồng thời là địa bàn gắn liền với nhiều danh nhân và di tích lịch sử qua các thời kỳ. Trong đó, quần thể di tích đền Tiên La tại xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia từ năm 1968. Nhằm tăng cường công tác quản lý không gian di tích và lễ hội, ngày 22 tháng 3 năm 2010, Ủy ban nhân dân huyện Hưng Hà đã ban hành Quyết định số 408/QĐ-UBND thành lập Ban tổ chức lễ hội đền Tiên La.
Đề tài "Lễ hội Đền Mẫu Tiên La xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình" được tác giả Trần Thị Dịu thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Đoan Hùng cùng không gian địa lý, kiến trúc của quần thể di tích đền Tiên La thờ Bát Nàn Tướng quân Vũ Thị Thục.
- Tái hiện toàn diện tiến trình tổ chức lễ hội đền Tiên La, bao gồm quy chế quản lý của chính quyền địa phương, các nghi lễ truyền thống (rước thủy, rước bộ, tế lễ, dâng hương, hầu đồng) và các trò chơi dân gian trong phần hội.
- Phân tích giá trị lịch sử, giá trị văn hóa - tín ngưỡng của lễ hội đối với đời sống cộng đồng cư dân nông nghiệp, đồng thời phản ánh thực trạng quản lý, bảo tồn và định hướng khai thác du lịch tại di tích.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là lễ hội đền Mẫu Tiên La với tư cách một thực hành văn hóa tín ngưỡng tôn vinh nữ tướng thời Hai Bà Trưng. Phạm vi không gian giới hạn tại địa bàn xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, có mở rộng liên hệ đến di tích đền Buộm thuộc xã lân cận Tân Tiến. Phạm vi thời gian tập trung vào tư liệu khảo sát thực địa tiến trình lễ hội các năm 2012 - 2013 và các cứ liệu lịch sử thành văn liên quan đến nhân vật phụng thờ từ thế kỷ thứ I đến nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về việc kế thừa có chọn lọc các giá trị di sản văn hóa truyền thống, kết hợp đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Về khung lý thuyết văn hóa học và nhân học, tác giả kế thừa các quan niệm về cấu trúc "lễ" và "hội" từ các công trình nghiên cứu văn hóa truyền thống của Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương), Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục), Toan Ánh (Nếp cũ hội hè đình đám), cũng như cách tiếp cận lễ hội truyền thống của Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian và các học giả Hà Tấn Hùng, Hồ Hoàng Hoa. Tín ngưỡng tại đền Tiên La được nhìn nhận dưới lăng kính của tín ngưỡng thờ nữ thần và tín ngưỡng thờ Mẫu bản địa gắn với cư dân nông nghiệp lúa nước.
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Trực tiếp quan sát, tham dự, mô tả các nghi thức diễn xướng, ghi chép tiến trình tế lễ, ghi âm lời hát văn và chụp ảnh tư liệu tại hiện trường lễ hội đền Tiên La vào tháng 3 âm lịch.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu: Phân loại và xử lý các nguồn văn bản lịch sử, tư liệu Hán Nôm (thần tích, thần phả, văn bia, sắc phong) đối chiếu với tư liệu truyền ngôn dân gian tại địa phương.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu hành chính từ báo cáo kinh tế - xã hội của Đảng ủy và UBND xã Đoan Hùng (năm 2012, 2013); Quyết định số 408/QĐ-UBND của UBND huyện Hưng Hà; thư tịch cổ được lược trích trong Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 1993); tập thơ tư liệu Miễn thánh tích Tiên La - Bát Nàn tướng quân (Trịnh Tiến Sơn biên tập, 2008); và nguồn dữ liệu thực địa từ Ban phụng sự, thủ nhang Đặng Vũ Nhã.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Không gian của lễ hội đền Mẫu Tiên La
Chương 1 phác thảo bối cảnh lịch sử của vị thần chủ và các điều kiện tự nhiên, xã hội, kiến trúc tạo nên không gian phụng thờ. Căn cứ theo thần tích địa phương, Bát Nàn Tướng quân Vũ Thị Thục sinh ngày 15 tháng 8 năm Đinh Sửu tại trang Phượng Lâu, huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Thân phụ là Vũ Công Chất, thân mẫu là Hoàng Thị Mau làm nghề bốc thuốc. Do từ chối ép duyên của Thái thú Tô Định sau khi cha và chồng chưa cưới (Phạm Hương) bị sát hại, nàng dùng kiếm bạc phá vây, xuôi thuyền dọc sông Hồng về trú tại hương Đa Cương (thuộc Tiên La ngày nay) nương nhờ cửa Phật, chiêu mộ binh mã trong 3 năm. Khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa tại Hát Môn (năm 40 SCN), Vũ Thị Thục đem nghĩa quân quy tụ, được phong chức Đông Nhung Đại Tướng quân, hiệu Đốc Lĩnh Tiền Môn. Sau khi Trưng Vương thất thế trước quân Mã Viện vào năm 42 SCN, bà lui quân về cố thủ tại Tiên La và hy sinh anh dũng tại gò Kim Quy vào ngày 18 tháng 3 năm Nhâm Dần.
Về không gian tự nhiên và nhân văn, xã Đoan Hùng nằm ở phía Bắc huyện Hưng Hà, tiếp giáp sông Luộc (phía Bắc), xã Điệp Nông (phía Đông), xã Tân Tiến (phía Tây) và xã Thống Nhất (phía Nam). Xã nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng cao khoảng 2m so với mực nước biển, có mạng lưới sông Tiên Hưng và sông Luộc bồi đắp phù sa.
| Chỉ tiêu tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Đoan Hùng |
Thông số ghi nhận (Năm 2012 - 2013) |
| Tổng diện tích tự nhiên |
589,7025 ha |
| Đất nông nghiệp |
451,9519 ha |
| Đất phi nông nghiệp |
137,7056 ha |
| Dân số và số hộ gia đình |
7.890 người / 2.330 hộ |
| Nhiệt độ trung bình / Tổng nhiệt độ hoạt động |
23° - 24°C / 8.400 - 8.500°C |
| Lượng mưa trung bình năm / Số giờ nắng |
1.700 - 2.200 mm / 1.600 - 1.800 giờ |
| Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp (2012) |
43 tỷ đồng |
| Diện tích cấy lúa / Năng suất bình quân |
650 ha / 127 tạ/ha/năm |
| Cơ cấu tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ |
487 hộ làm nghề, 381 hộ kinh doanh |
| Chỉ số gia đình văn hóa (2012) |
1.421 hộ đạt danh hiệu |
Quần thể di tích đền Tiên La có diện tích 3.227 m² tọa lạc trên gò Kim Quy sát bờ sông Tiên Hưng, quay hướng Tây. Kiến trúc đền trải qua lần đại trùng tu từ năm 1937 đến năm 1939, bố cục mặt bằng hình chữ Đinh gồm: Cổng Tam quan (nội và ngoại), Tòa Đại Bái, Tòa Trung Tế, Tòa Thượng Điện (Hậu cung), lầu cô, lầu cậu và khu nhà khách. Điểm đặc biệt của Tòa Trung Tế là công trình bằng đá dựng theo kiểu phương đình "chồng diêm cổ các", hệ thống cột tròn, xà, dầm, kè, cốn được chạm khắc đề tài tứ linh, tứ quý, long cuốn thủy. Hậu cung là nơi đặt lăng mộ và khám thờ Đức Thánh Mẫu Bát Nàn, hai bên phối thờ Vương Phụ và Vương Mẫu. Quần thể phụ cận bao gồm chùa Thiên Hương Tự (xóm 6), đền Trình cửa Sông (xóm 1 Đôn Nông), đền Bà Chúa (xóm 7), miếu Ông thờ Đức Quý Minh (xóm 5), đình Công Đồng (xóm 5) và đền Buộm (xã Tân Tiến).
Hiện vật lưu giữ tại đền bao gồm hệ thống thần phả, văn bia, đồ tế khí bằng đồng, gốm sứ cổ, kiệu bát cống và pho tượng Bát Nàn bằng đồng hợp kim. Các sắc phong thần được lưu giữ trải dài qua các triều đại: Sắc phong Trưng triều, sắc phong Ý Đức Đoan Trang Trinh Thục Công Chúa (ngày 12 tháng 8), cùng các đạo sắc phong của triều vua Lê Thánh Tông, Thành Thái (Nguyên Niên 1889), Duy Tân (Tam Niên 1909) và Khải Định (Cửu Niên 1924).
Chương 2: Tiến trình của lễ hội đền Mẫu Tiên La
Chương 2 mô tả hệ thống lễ tiết trong năm và diễn trình tổ chức lễ hội tháng Ba âm lịch. Đền Tiên La duy trì quy ước: các năm chẵn mở hội lớn có tổ chức rước kiệu thủy bộ; các năm lẻ tổ chức phần lễ tế dâng hương trọng thể.
| Thời gian (Âm lịch) |
Tên kỳ lễ |
Tính chất và nội dung hoạt động |
| Mùng 1 đến mùng 4 tháng Giêng |
Lễ Thượng Nguyên |
Cúng sao giải hạn, cầu quốc thái dân an, mùa màng bội thu |
| Mùng 1 tháng 3 |
Lễ Cáo yết khai hội |
Mở cửa đền, chuẩn bị cơ sở vật chất cho kỳ hội chính |
| Mùng 10 tháng 3 |
Chính hội / Lễ rước nước |
Trùng ngày giỗ Tổ Hùng Vương; khai mạc lúc 8 giờ sáng, cử hành rước thủy và rước bộ |
| Ngày 17 đến 18 tháng 3 |
Đại lễ Kỵ nhật Đức Thánh Mẫu |
Tưởng niệm ngày mất của Bát Nàn Tướng quân Vũ Thị Thục |
| Ngày 20 tháng 3 |
Lễ Kỳ An (Lập Hạ) |
Cầu an định kỳ vào thời điểm chuyển mùa vụ |
| Ngày 20 tháng 7 |
Lễ Tán Hạ |
Lễ tạ khi kết thúc mùa hè |
| Ngày 15 tháng 8 |
Đại lễ Sinh nhật Đức Thánh Mẫu |
Kỷ niệm ngày sinh thần chủ Bát Nàn Tướng quân |
| Ngày 10 tháng 11 |
Hội Cờ Xanh |
Kỷ niệm ngày Bát Nàn Tướng quân dựng cờ khởi nghĩa |
| Ngày 10 đến 15 tháng 12 |
Lễ Tất Niên |
Tổng kết phụng sự và khép lại tuần tiết trong năm |
Về công tác tổ chức, Ban phụng sự lễ hội gồm 21 thành viên do Chủ tịch UBND xã Đoan Hùng làm Trưởng ban, Phó Chủ tịch làm Phó ban, phối hợp cùng thủ nhang Đặng Vũ Nhã. Cơ cấu gồm 4 tiểu ban: Tiểu ban Văn hóa - Xã hội, Tiểu ban An ninh, Tiểu ban Kinh tế và Tiểu ban Đối nội - Đối ngoại. Hoạt động quản lý lễ hội được triển khai với các quy chuẩn:
- An ninh trật tự: Phối hợp Công an huyện Hưng Hà lập chốt kiểm soát, phân luồng giao thông; bố trí khu vực tập trung người lang thang xin ăn để nuôi dưỡng bằng kinh phí công đức, không để hoạt động trong khu vực lễ hội.
- Kinh doanh dịch vụ: Nghiêm cấm buôn bán lấn chiếm nội tự và cầu Tiên La; đấu thầu mặt bằng kinh doanh công khai theo quy hoạch; cấm các hành vi chèo kéo, đổi tiền lẻ, nâng giá.
- Quản lý hòm công đức: UBND xã thành lập hội đồng kiểm đếm công khai từ ngày 10 đến 20 tháng 3 âm lịch; toàn bộ nguồn thu nộp vào ngân sách xã do Chủ tịch UBND xã điều hành theo hướng dẫn của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện.
- Quản lý cung cửa và diễn xướng tín ngưỡng: Phân công người trực tại các ban thờ; hạn chế người vào nội cung trong ngày chính hội; hoạt động hầu đồng phải bốc thăm xếp lịch, không tổ chức vào ban ngày.
Tiến trình phần lễ diễn ra từ 8 giờ sáng ngày mùng 10 tháng 3:
- Lễ rước thủy: Tập kết tại bến sông Tiên Hưng trước cửa đền chính. Đoàn gồm 3 thuyền di chuyển ngược dòng Tiên Hưng qua cống Nhâm Lang, rẽ sang sông Luộc tới ngã ba Nông.
- Thuyền số 1: Chở chư tăng, các bô lão Hội người cao tuổi xã Đoan Hùng và đội tế nam quan.
- Thuyền số 2: Chở đoàn tế nữ quan số 1 đền Tiên La và đoàn tế nữ quan làng Tịnh Xuyên (xã Hồng Minh).
- Thuyền số 3: Chở đoàn tế nữ quan xã Phú Mỹ (huyện Phù Cừ, Hưng Yên) và đoàn kèn đồng nam xã Văn Cẩm. Tại ngã ba Nông, người đại diện cử hành nghi thức múc nước thiêng vào chĩnh gốm đưa lên kiệu Mẫu.
- Lễ rước bộ: Xuất phát từ sân hội, đi dọc theo đê sang đền Trình Đôn Nông ra bãi sông đón chĩnh nước rồi hồi cung. Đoàn rước bao gồm các đội múa rồng (Tam Đường, Đông Đô), đội lân sư tử, đoàn trống sấm Duyên Hải; kiệu rước chân nhang Phật, kiệu Đức Ông, kiệu Thành Hoàng làng, kiệu Vương Phụ - Vương Mẫu, kiệu linh vị Đức Thánh Mẫu và kiệu võng Bát Nàn do hàng chục đoàn tế nam quan, nữ quan từ các xã lân cận (Đoan Hùng, Duyên Hải, Đông Đô, Tiến Đức, Hòa Tiến, Thái Phương...) tham gia hộ giá.
- Nghi thức tế lễ: Gồm một ban tế trọn vẹn: 1 Chủ tế (Chánh tế cao niên), 4 Bồi tế, 2 Đông xướng - Tây xướng, 2 Nội tán, đội Chấp sự dâng hương dâng rượu và Đồng văn lo trống chiêng. Nghi thức tế thực hiện qua 4 giai đoạn chính (Nghênh thần, Hiến lễ, Âm phúc thụ tộ, Lễ tạ) với 36 bước thao tác lễ nghi nghiêm ngặt, thực hiện 3 tuần rượu (Sơ hiến lễ, Á hiến lễ, Chung hiến lễ) và đọc bản văn tế ngợi ca công tích thần chủ.
- Diễn xướng hầu đồng: Thực hành nghi thức hát chầu văn ca ngợi công đức bảo quốc an dân của Bát Nàn Tướng quân do thủ nhang và các thanh đồng bản hạt đảm trách.
Phần hội được tổ chức xen kẽ với các trò chơi dân gian truyền thống: thi đấu kéo co của các chi hội phụ nữ tại sân vận động gần đền Buộm; thi cờ tướng với các quân cờ bằng vôi xỉ và cột tre cao ngang tầm người di chuyển trên sân bê tông kẻ sẵn; nghệ thuật múa rối nước dân gian do phường rối làng Nguyễn và làng Đống biểu diễn tái hiện cảnh cày cấy, đánh bắt cá; hội thi pháo đất gợi nhớ truyền thống đắp đê ngăn lũ thời cổ; và các chương trình nghệ thuật diễn xướng chèo với các vở diễn cổ như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Bài ca dựng nước.
Chương 3: Giá trị và ý nghĩa của lễ hội đền Mẫu Tiên La
Chương 3 tổng kết các giá trị cốt lõi của lễ hội trên các phương diện:
- Giá trị lịch sử: Quần thể di tích và lễ hội là địa chỉ ghi dấu sự nghiệp đánh giặc Đông Hán của Hai Bà Trưng và nữ tướng Vũ Thị Thục năm 40 - 42 SCN. Hệ thống câu đối, văn bia, thi tập Miễn thánh tích Tiên La - Bát Nàn tướng quân (2008) tại đền trở thành bằng chứng vật chất và biểu tượng tinh thần giáo dục lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc cho các thế hệ nhân dân địa phương.
- Giá trị văn hóa và cố kết cộng đồng: Lễ hội thể hiện đậm nét tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ nữ thần của cư dân châu thổ sông Hồng. Chu trình hội mùa tháng Ba âm lịch là khoảng thời gian nghỉ ngơi nông nhàn, thỏa mãn nhu cầu tâm linh, cầu mưa thuận gió hòa cho mùa màng sắp tới. Hoạt động lễ hội tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các thôn, xóm của xã Đoan Hùng và thiết lập mối bang giao văn hóa giữa các huyện Hưng Hà, Thái Thụy, Đông Hưng (Thái Bình) với huyện Phù Cừ (Hưng Yên). Lễ hội đồng thời là môi trường bảo tồn các loại hình nghệ thuật dân gian như chèo, hát văn, múa rối nước.
- Vấn đề bảo tồn và phát triển du lịch: Tác giả chỉ rõ đền Tiên La có tiềm năng kết nối với các điểm di tích lân cận (khu lăng mộ và đền thờ các vua Trần) để hình thành tuyến du lịch tâm linh của huyện Hưng Hà. Công tác bảo tồn đòi hỏi phải giữ gìn nguyên trạng kiến trúc đá và gỗ lim cổ, kiểm soát vệ sinh môi trường, ngăn chặn các biến tướng mê tín dị đoan trong hoạt động hầu đồng và quản lý tốt nguồn công đức để phục vụ tái thiết di tích.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa toàn diện nguồn tư liệu lịch sử, thần tích và hệ thống sắc phong Hán Nôm của các triều đại phong kiến ban tặng cho Bát Nàn Tướng quân Vũ Thị Thục tại đền Tiên La.
- Khảo tả chi tiết và chính xác tiến trình tổ chức phần lễ, đặc biệt là sơ đồ phân công 3 thuyền trong lễ rước thủy, đội hình các kiệu rước bộ và quy trình 36 bước trong nghi thức tế lễ cổ truyền tại địa phương.
- Thu thập và công bố các số liệu hành chính, kinh tế - xã hội cụ thể của xã Đoan Hùng (năm 2012 - 2013) cùng các điều khoản phân cấp quản lý lễ hội, kiểm soát tiền công đức theo Quyết định số 408/QĐ-UBND của UBND huyện Hưng Hà.
- Đóng góp nguồn tư liệu thực địa có giá trị khoa học về sự tương tác giữa tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ với tín ngưỡng thờ danh tướng lịch sử tại vùng văn hóa lúa nước Thái Bình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được triển khai trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp đại học nên nguồn dữ liệu điền dã chủ yếu tập trung tại xã Đoan Hùng và các số liệu thống kê dừng lại ở mốc năm 2012 - 2013. Tác giả chưa mở rộng so sánh nghi thức rước nước của đền Tiên La với các di tích thờ nữ tướng khác thời Hai Bà Trưng trên lưu vực sông Hồng (như đền thờ Lê Chân tại Hải Phòng, Lê Ngọc Trinh tại Vĩnh Phúc). Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung nghiên cứu đối sánh văn bản học đối với toàn bộ hệ thống thần tích, thần phả Hán Nôm hiện lưu giữ tại đền Tiên La với các kho lưu trữ trung ương, đồng thời đánh giá tác động của kinh tế du lịch đối với sự biến đổi các nghi lễ truyền thống trong giai đoạn hiện nay.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam và Dân tộc học khi tiếp cận đề tài về lễ hội làng xã truyền thống vùng châu thổ Bắc Bộ. Công trình cung cấp các mô tả chuẩn xác về nghi thức tế tự 36 bước và cơ chế quản lý lễ hội cấp xã, hỗ trợ trực tiếp cho Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Hưng Hà và Ban quản lý di tích đền Tiên La trong công tác quy hoạch không gian lễ hội, xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể và phát triển tuyến du lịch văn hóa tâm linh địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Vị thần chủ đền Tiên La là ai và ngày kỵ nhật chính thức của bà được ghi nhận vào thời điểm nào?
Thần chủ đền Tiên La là Bát Nàn Tướng quân Vũ Thị Thục, sinh ngày 15 tháng 8 năm Đinh Sửu tại trang Phượng Lâu (huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Phúc), là nữ tướng tiên phong thời Hai Bà Trưng. Theo thần tích, bà hy sinh tại gò Kim Quy vào ngày 18 tháng 3 năm Nhâm Dần (năm 42 SCN). Ngày 17 và 18 tháng 3 âm lịch hàng năm là Đại lễ Kỵ nhật chính thức của Đức Thánh Mẫu tại đền.
2. Quy định mở hội giữa các năm chẵn và năm lẻ tại đền Tiên La có sự khác nhau như thế nào?
Theo quy ước truyền thống của địa phương, vào các năm chẵn lễ hội được mở với quy mô lớn, cử hành đầy đủ cả lễ rước thủy (trên sông Tiên Hưng và sông Luộc) lẫn lễ rước bộ; vào các năm lẻ lễ hội được tổ chức với quy mô gọn hơn, đại diện chính quyền và nhân dân chủ yếu cử hành phần tế lễ và dâng hương tưởng niệm.
3. Đội hình rước thủy trên sông trong ngày chính hội mùng 10 tháng 3 được phân chia như thế nào?
Đoàn rước thủy tập kết tại bến sông Tiên Hưng gồm 3 thuyền chính: Thuyền số 1 chở chư tăng, các bô lão Hội người cao tuổi xã Đoan Hùng và đoàn tế nam quan; Thuyền số 2 chở đoàn tế nữ quan số 1 đền Tiên La và đoàn tế nữ quan làng Tịnh Xuyên (xã Hồng Minh); Thuyền số 3 chở đoàn tế nữ quan xã Phú Mỹ (huyện Phù Cừ, Hưng Yên) và đoàn kèn đồng nam xã Văn Cẩm.
4. Ban tổ chức lễ hội đền Tiên La có cơ cấu nhân sự và các tiểu ban chức năng như thế nào?
Ban tổ chức lễ hội cấp xã gồm 21 thành viên do Chủ tịch UBND xã Đoan Hùng làm Trưởng ban, Phó Chủ tịch xã làm Phó ban, có sự tham gia của thủ nhang đền. Ban tổ chức chia làm 4 tiểu ban trực thuộc: Tiểu ban Văn hóa - Xã hội, Tiểu ban An ninh, Tiểu ban Kinh tế và Tiểu ban Đối nội - Đối ngoại.
5. Hoạt động quản lý tiền công đức và thực hành nghi lễ hầu đồng trong lễ hội được quy định ra sao?
Nguồn tiền công đức do UBND xã quản lý, phát hành vé/phiếu và thành lập hội đồng kiểm đếm công khai từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 3 âm lịch, nộp vào ngân sách địa phương do Chủ tịch xã điều hành chi tiêu theo hướng dẫn của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện. Hoạt động hầu đồng bị cấm tổ chức vào ban ngày, phải bốc thăm xếp lịch đăng ký và hạn chế tối đa người vào nội cung trong ngày hội chính.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trần Thị Dịu đã khảo cứu một cách có hệ thống về không gian, tiến trình và các giá trị văn hóa - lịch sử đặc trưng của lễ hội đền Mẫu Tiên La tại xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tác phẩm phản ánh chân thực bức tranh sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của cư dân nông nghiệp lúa nước gắn liền với truyền thống tri ân công đức Bát Nàn Tướng quân thời Hai Bà Trưng. Nghiên cứu cung cấp cứ liệu khoa học và thực tiễn vững chắc, phục vụ thiết thực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa truyền thống và định hướng phát triển du lịch tại địa phương.