CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM TRONG THỰC TẬP SƯ PHẠM 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về TUNN - TTSP Thích ứng và TUNN trong TTSP là một trong những vấn đề lý thú trong Tâm lý học vì thế đã thu hút được sự quan tâm của các nhà Tâm lý học trong và ngoài nước. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu thích ứng, TUNN trong TTSP. Ở đây chúng tôi xin nhóm lại thành hai hướng chính: 1.
Những nghiên cứu trên thế giới về TUNN - TTSP Năm 1925, Harvey Carr cho rằng học tập là một công cụ quan trọng được con người sử dụng để thích nghi với môi trường, nghề nghiệp. Ông đã tập trung nghiên cứu hành vi thích nghi. Theo ông, hành vi thích nghi gồm 3 thành phần: 1/ Một động lực dùng như một kích thích cho hành vi (ví dụ: đói, khát); 2/ Một khung cảnh môi trường hay hoàn cảnh mà sinh vật ở trong đó; 3/ Một phản ứng thoả mãn động lực kia (ví dụ: ăn, uống). Năm 1968, một số tác giả người Nga như N.
Pavlov đã nêu ra các tiêu chuẩn sinh lý của sự TUNN, trong đó họ đã nghiên cứu khá sâu sắc cơ sở sinh lý của sự thích ứng ở học sinh với chế độ học tập và rèn luyện trong nhà trường. Những phản ứng sinh lý, những biến đổi của các hệ số tương quan đặc biệt là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh được tác giả quan tâm và chỉ ra những biến đổi cụ thể. Ermoleava nghiên cứu “Đặc điểm thích ứng xã hội và nghề nghiệp ở sinh viên đã tốt nghiệp trường sư phạm”. Tác giả đã đưa ra khái niệm “thích ứng là quá trình thích nghi của người lao động trong tập thể nhất định” và đã đưa ra chỉ số cho sự TUNN của sinh viên đã tốt nghiệp trường sư phạm.
Nhicandov đã nghiên cứu “Sự thích ứng với hoạt động lao động của các kỹ sư trẻ”. Các tác giả này đã đưa ra nhiều mức độ thích ứng khác nhau trong hoạt động lao động của các kỹ sư vào nghề. Mudric đã nghiên cứu “Sự TUNN của người thầy giáo” và đã nêu lên quan niệm chung về sự thích ứng của người thầy giáo. Những yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến hiệu quả của sự thích ứng đó cũng được phân tích khá cụ thể.
Cleremov nghiên cứu TUNN của sinh viên Đại học Kim loại - Mỏ mang tên G. Nôsôva khẳng định: “TUNN là một quá trình phức tạp và nhiều mặt. Thích ứng nhanh hay chậm đối với việc học tập và thực hành nghề nghiệp ở trường Đại học có tương quan rất lớn với kết quả học tập”. Năm 1980, trong tập chí “Những vấn đề tâm lý học” số 4, A.
Krintreva đã trình bày những nghiên cứu của mình về những đặc điểm tâm lý của sự thích ứng đối với sản xuất ở những học sinh mới ra trường ở các trường trung cấp kỹ thuật chuyên nghiệp và trường phổ thông trung học. Tác giả cho rằng: thích ứng là quá trình làm quen với sản xuất, là quá trình gia nhập dần vào sản xuất A. Krintreva cũng đưa ra một số chỉ số đặc trưng của sự TUNN đó là: + Sự thích ứng nhanh chóng nắm vững chuyên ngành sản xuất, các chuẩn mực kỹ thuật. + Sự phát triển tay nghề.
+ Vị trí xã hội trong tập thể. + Sự hài lòng đối với công việc và vị thế của mình trong tập thể. Knasel trong nghiên cứu của mình đã cho rằng: Sự phát triển nghề của giới trẻ được phát triển gợi mở và sự thích ứng trở thành một năng lực chính dẫn đến sự thành công về nghề nghiệp [61]. Roxtunov khi nghiên cứu về thích ứng nghề của sinh viên đã nhận định: Sự thích ứng là một quá trình tiếp cận phức tạp của sinh viên đối với các điều kiện và nhiệm vụ của các trường Đại học, nhờ sự “rung động” về tâm lý và đạo đức của họ nhằm phù hợp với các đòi hỏi mới của hoạt động.
Việc nghiên cứu, tìm kiếm các yêu cầu và phẩm chất “mẫu mực” về giáo dục xã hội và tâm lý học của sự TUNN đã buộc chúng ta phải nêu ra những “kỳ vọng” sau đây của sự thích ứng giáo dục xã hội: 10 + Phải xây dựng cấu trúc thích ứng gồm hai yếu tố liên quan với nhau là: nhu cầu thích ứng và tình huống thích ứng. + Động lực TUNN phải được duy trì, phát triển và có kết quả. + Sự TUNN cho phép cá nhân sử dụng các khả năng hoạt động của con người. Việc phân tích lý thuyết đã cho thấy, các yếu tố quan trọng của hoạt động nghề nghiệp là phương hướng của cá nhân trong môi trường xã hội cụ thể; xác định được mục đích đúng đắn, xây dựng được các nhiệm vụ nghề nghiệp; sự kết hợp các giá trị của kết quả hoạt động - sự TUNN của các nhà chuyên môn tương lai bao gồm mức độ am hiểu nghề, nghĩa là kiến thức về các đòi hỏi của nghề nào đó, cùng các điều kiện hoạt động nghề nghiệp, tạo thuận lợi cho sự thích ứng, giúp thúc đẩy quá trình nắm vững nghề nghiệp một cách tự lập và khắc phục được mọi khó khăn trong công tác [24].
Savickas đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nghề và thích ứng nghề. Trong các tác phẩm của mình, đặc biệt trong bài viết “Measuring career development: Current status and future dereetion” (1994), ông đã đánh giá rất cao vai trò của thích ứng nghề. Ông coi đó như là “sự trưởng thành về nghề nghiệp”. Ông cho rằng: Thích ứng nghề biểu hiện ở sự sẵn sàng đối mặt với tất cả những công việc có thể dự đoán được,… là sự tham gia vào những vị trí nghề nghiệp khác nhau, sự điều chỉnh sao cho phù hợp để đáp ứng được những thay đổi và điều kiện làm việc [57, 58, 59].
Tadevoxian cho rằng: Sự thích ứng với hoạt động học tập - nghề nghiệp là năng lực của con người cải biến (cải tổ, cải tạo, biến đổi) có hiệu quả và chiếm lĩnh đối tượng của hoạt động nhận thức ở mức độ đã định của tính tích cực nhận thức mà không có sự rối loạn đáng kể nào,… [26]. Borgen trong một công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thích ứng nghề là xu hướng mà mỗi cá nhân đưa ra khả năng của bản thân để xây dựng và điều chỉnh kế hoạch nghề nghiệp của mình, đặc biệt là đối mặt với những tình huống không biết trước. Đề cập đến tiến trình, tầm quan trọng của mối quan hệ giao thoa giữa môi trường làm việc và năng lực của mỗi cá nhân, nhấn mạnh đến khả năng điều chỉnh và vấn đề mà mỗi cá nhân phải đối mặt, khả năng xoay sở với những vấn đề rắc rối về nghề nghiệp,…[56]. 11 Cùng năm 2005, trong tác phẩm “The relationship between spirituality, religiousness and career adaptibility” R.
Blustein đã cho rằng: Khả năng thích ứng nghề được hiểu như sự tự quyết định về nghề, sự tự lựa chọn nghề, tự mong muốn đạt được những kết quả nhất định về nghề, tìm kiếm những trường học nghề phù hợp với khả năng của mình [53]. Năm 2009, Peter Creed, Tracy Fallon và Michelle Hood thuộc trường Đại học Griffith Australia đã có công trình nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa thích ứng nghề và mối quan tâm về nghề trong giới trẻ”. Họ đã tiến hành nghiên cứu 245 sinh viên năm thứ nhất về các mối quan tâm về nghề nghiệp, sự thích ứng nghề, xu hướng về nghề,… Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thích ứng nghề có mối quan hệ bên trong và có thể bị ảnh hưởng bởi những nhân tố đầu tiên (kế hoạch xây dựng nghề, khám phá nghề, xu hướng nghề, sự quyết định nghề,…). Những nhân tố thích ứng nghề có mối quan hệ nội hàm và bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác [52].
Khái quát những nghiên cứu trên thế giới về TUNN - TTSP cho thấy các nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về TUNN của sinh viên, người lao động. Vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu cụ thể về TUNN của SVSP, đặc biệt là SVSP trong quá trình TTSP. Điều này một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của việc nghiên cứu và triển khai đề tài. Những nghiên cứu trong nước về TUNN - TTSP Năm 1981, tác giả Bùi Ngọc Dung trong đề tài luận văn thạc sĩ “Bước đầu tìm hiểu sự TUNN của giáo viên tâm lý giáo dục” đã đưa ra một số tiêu chí để đánh giá khả năng TUNN của giáo viên tâm lý - giáo dục [6].
Năm 1982, tác giả Nguyễn Ngọc Bích, khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thích ứng học đường của SVSP”. Tác giả đã phân tích hiện trạng về sự thích ứng của SVSP, những yếu tố khách quan và chủ quan hướng đến sự thích ứng đó. Luận điểm mà tác giả đưa ra là: Sự thích ứng với trường học và nghề nghiệp của sinh viên là quá trình thích nghi, hài lòng với các hoạt động học tập, nghề nghiệp trong hoàn cảnh nhất định [1]. Năm 1991, tác giả Phạm Hồng Quang, Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc viết bài “Những khó khăn trong giờ lên lớp của sinh viên TTSP” [34].
Qua thống kê, tác 12 giả đã chỉ ra những khó khăn của sinh viên thực tập trong quá trình lên lớp như: quá lệ thuộc vào bài soạn, nội dung giảng dạy rời rạc, chưa biết phối hợp nhịp nhàng các thao tác sư phạm, năng lực diễn đạt yếu, từ đó tác giả rút ra kết luận rằng: giờ lên lớp của GV trường Đại học có ý nghĩa quan trọng đối với SVSP; các GV trường Đại học và các GVHD tại cơ sở TTSP cần tổng kết kinh nghiệm dạy học, xây dựng quy trình lên lớp với các bước cụ thể nhằm giúp sinh viên hoàn thiện bài học. Thực chất đây cũng là nghiên cứu theo hướng thích ứng của SVSP với hoạt động TTSP. Cuối năm 1991, tác giả Nguyễn Văn Lê, Trường Đại học sư phạm 1 Hà Nội có bài viết “Một số kết quả điều tra chất lượng TTSP về công tác chủ nhiệm lớp” [24] trong đó khẳng định: Sinh viên TTSP chưa hiểu đúng mức về công tác chủ nhiệm lớp, họ chưa coi TTSP là quá trình vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn. Trên cơ sở đó tác giả kiến nghị Trường Đại học sư phạm phải khẩn trương tăng cường thực hành, coi trọng hơn nữa việc rèn luyện nghiệp vụ trong trường sư phạm.
Đây cũng là đề tài nghiên cứu về sự thích ứng của SVSP trong hoạt động TTSP cụ thể là công tác chủ nhiệm. Hướng nghiên cứu này gần với đề tài của chúng tôi.