Tổng quan nghiên cứu

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đã mang lại những biến chuyển sâu sắc cho toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội, trong đó gia đình là thiết chế chịu tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất. Tại tỉnh Hưng Yên – địa bàn trọng điểm thuộc tam giác kinh tế phía Bắc, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 7,1% năm 2013 với thu nhập bình quân đầu người 30,5 triệu đồng và giá trị sản xuất công nghiệp đạt gần 70.000 tỷ đồng, tăng 7,31%. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng này đã tác động trực diện đến cấu trúc, chức năng và các mối quan hệ truyền thống của hơn 1,1 triệu dân trên toàn địa bàn tỉnh.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là nhận diện quy luật vận động, biến đổi của gia đình Hưng Yên trong quá trình chuyển dịch từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp hiện đại. Nghiên cứu xác lập mục tiêu làm rõ các chuyển biến tích cực như sự nâng cao bình đẳng giới, tính tự chủ kinh tế của các thành viên, đồng thời chỉ ra những thách thức nghiêm trọng như xu hướng gia tăng ly hôn (với hơn 51.929 vụ trên cả nước vào năm 2000 và tiếp tục gia tăng trong các năm sau), lối sống thực dụng và sự lỏng lẻo trong liên kết các thế hệ.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa bàn tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn đổi mới và những năm gần đây (tập trung phân tích các mốc số liệu từ năm 2000 đến năm 2015). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ lý luận và giải pháp thực chứng nhằm nâng cao tỷ lệ gia đình văn hóa, giữ gìn đạo lý truyền thống, đồng thời hỗ trợ chính quyền địa phương định hình chính sách an sinh xã hội bền vững cho hơn 50% lực lượng trong độ tuổi lao động của tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng cốt lõi. Trong đó, tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" của Ph. Ăngghen được sử dụng làm cơ sở lý luận then chốt để luận giải mối quan hệ giữa hai loại hình sản xuất: sản xuất ra tư liệu sinh hoạt và sản xuất ra bản thân con người. Trình độ phát triển của gia đình luôn chịu sự quy định bởi trình độ phát triển của lao động và phương thức sản xuất xã hội. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí hạt nhân của gia đình đối với xã hội và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Cương lĩnh năm 2011 về xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc.

Khung phân tích tích hợp các khái niệm học thuật chủ chốt bao gồm: thiết chế gia đình, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mô hình gia đình hạt nhân, bình đẳng giới và chức năng xã hội hóa cá nhân. Nghiên cứu cũng tiến hành so sánh có chọn lọc với lý thuyết làn sóng thứ ba của Alvin Toffler để nhận diện xu hướng chuyển dịch mô hình gia đình qua 3 giai đoạn văn minh nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa thu thập thông tin thứ cấp và điều tra xã hội học định lượng bằng bảng hỏi. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo kinh tế - xã hội, tư pháp, dân số và thống kê của tỉnh Hưng Yên cùng các công trình khảo sát quốc gia từ năm 2000 đến năm 2013.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát mẫu với quy mô khoảng 300 hộ gia đình đã kết hôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện khách quan, bao quát các khu vực đô thị và nông thôn như huyện Văn Giang, Khoái Châu, Phù Cừ, Tiên Lữ và thành phố Hưng Yên. Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh tỷ lệ phần trăm giúp lượng hóa chính xác mức độ biến đổi trong phân công lao động, quyền quyết định và nếp sống gia đình, đảm bảo kết quả đạt độ tin cậy khoa học cao trong suốt tiến trình nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mô hình quyết định kết hôn và độ tuổi kết hôn có sự biến chuyển rõ rệt. Tỷ lệ hôn nhân do con cái tự quyết định sau khi tham khảo ý kiến cha mẹ tăng mạnh từ 57,7% ở giai đoạn trước năm 1975 lên 75,4% trong giai đoạn 2000-2006, trong khi tỷ lệ cha mẹ áp đặt hoàn toàn giảm từ 14,0% xuống còn 5,2%. Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam giới tăng từ 22,7 tuổi (trước năm 1975) lên 25,6 tuổi (giai đoạn 2000-2006); tại khu vực đô thị, tuổi kết hôn lần đầu của nam đạt 26,0 tuổi và nữ đạt 23,0 tuổi.

Thứ hai, cấu trúc quyền lực và vai trò giới trong gia đình chuyển đổi theo hướng dân chủ, bình đẳng. Về phân công quản lý tài chính, người vợ giữ vai trò quyết định chính trong chi tiêu hàng ngày với 80,2%, trong khi người chồng quyết định các vấn đề sản xuất kinh doanh chiếm 49,2%. Đối với các công việc hệ trọng như sử dụng vốn vay hay tổ chức ma chay, cưới hỏi, tỷ lệ đồng thuận của cả hai vợ chồng chiếm ưu thế vượt trội, lần lượt đạt 41,9% và 43,3%.

Thứ ba, quy mô gia đình thu nhỏ và chức năng sinh sản có sự điều chỉnh theo hướng kế hoạch hóa. Tỷ lệ sinh con trung bình giảm từ 2,23 con năm 2004 xuống còn 1,99 con năm 2011. Mặc dù vậy, tâm lý chuộng con trai vẫn còn khá đậm nét khi có tới 85,7% đối tượng khảo sát khẳng định lý do cần có con trai là để nối dõi tông đường (khu vực thành thị là 88,3% và nông thôn là 85,0%), cùng với 54,2% xem con trai là chỗ nương tựa lúc tuổi già.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của những chuyển dịch trên bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, mở ra cơ hội việc làm giúp phụ nữ nâng cao tính độc lập tài chính và khẳng định vị thế xã hội. Về mặt trình bày trực quan, các dữ liệu này có thể được mô tả hiệu quả thông qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ quyết định hôn nhân qua 4 thời kỳ lịch sử và bảng cơ cấu phân chia quyền lực tài chính nhằm phản ánh rõ nét sự suy giảm của chế độ gia trưởng truyền thống.

So sánh với các nghiên cứu tổng thể tại khu vực đồng bằng sông Hồng, biến đổi gia đình tại Hưng Yên diễn ra với tốc độ nhanh do vị thế tiếp giáp thủ đô Hà Nội và sức bật từ 84 dự án đầu tư mới cùng các khu công nghiệp tập trung dọc Quốc lộ 5. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường cũng thúc đẩy lối sống thực dụng, làm gia tăng tỷ lệ ly hôn (trong đó mâu thuẫn lối sống chiếm 27,7%, ngoại tình chiếm 25,9%, áp lực kinh tế chiếm 13%) và tạo ra khoảng cách gắn kết thế hệ khi cha mẹ quá bận rộn với công việc mưu sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường vai trò quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội gắn với chính sách an sinh gia đình. Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên cùng các cơ quan chuyên môn cần đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp địa phương nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho hơn 50% lao động trên địa bàn, phấn đấu nâng mức thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng ổn định trên 10% mỗi năm trong giai đoạn 2015-2020.

Thứ hai, nâng cao nhận thức pháp luật và đẩy mạnh giáo dục tiền hôn nhân. Sở Tư pháp phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tổ chức thường xuyên các chương trình phổ biến Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới cho 100% cán bộ cơ sở và các tầng lớp thanh niên, đặt mục tiêu giảm thiểu từ 15% đến 20% các vụ bạo lực gia đình và xung đột dẫn đến ly hôn sớm.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng phong trào xây dựng "Gia đình văn hóa". Ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch cần đổi mới tiêu chí bình xét thực chất, gắn liền với phong trào xây dựng nông thôn mới, hướng tới mục tiêu duy trì tỷ lệ từ 85% đến 90% hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa hàng năm, bảo tồn truyền thống hiếu thảo vốn được 88,5% người dân coi là giá trị cốt lõi.

Thứ tư, thiết lập mạng lưới dịch vụ xã hội và mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em. Chính quyền các cấp cần huy động nguồn lực xã hội hóa để xây dựng các trung tâm tư vấn tâm lý, không gian sinh hoạt cộng đồng tại 10/10 huyện, thành phố, bảo đảm 100% người cao tuổi cô đơn có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh được trợ cấp y tế và chăm sóc an sinh đầy đủ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan hoạch định chính sách và cán bộ quản lý văn hóa - xã hội tại tỉnh Hưng Yên cũng như các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Nghiên cứu cung cấp số liệu thực chứng về cơ cấu gia đình, thu nhập và việc làm phục vụ công tác xây dựng chiến lược phát triển con người trong quá trình đô thị hóa.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học và Văn hóa học. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật về phương pháp luận duy vật biện chứng và kỹ thuật điều tra xã hội học định lượng ứng dụng trong nghiên cứu thiết chế gia đình.

Thứ ba, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Mặt trận Tổ quốc. Kết quả phân tích về vai trò giới và lối sống thanh niên giúp các đơn vị thiết kế những phong trào vận động thiết thực, hỗ trợ xây dựng gia đình tiến bộ, no ấm.

Thứ tư, các chuyên gia tâm lý học đường và tư vấn hôn nhân gia đình. Các phân tích chi tiết về nguyên nhân xung đột, ly hôn và thực trạng giáo dục con cái cung cấp cơ sở thực tiễn để triển khai các liệu pháp tư vấn, hỗ trợ hàn gắn và can thiệp gia đình hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

  1. Kinh tế thị trường tác động tích cực nhất đến khía cạnh nào của gia đình tại Hưng Yên? Kinh tế thị trường giúp nâng cao thu nhập bình quân lên 30,5 triệu đồng/người/năm (2013) và giải phóng sức lao động cho phụ nữ. Tỷ lệ 41,9% cặp vợ chồng cùng quyết định sử dụng vốn vay và 43,3% cùng lo việc lớn cho thấy sự bình đẳng giới và tính dân chủ trong gia đình đã tiến bộ vượt bậc.

  2. Quyền tự quyết định hôn nhân của giới trẻ Hưng Yên có sự thay đổi ra sao? Quyền tự do kết hôn đã trở thành xu hướng chi phối với 75,4% người được hỏi tự quyết định hôn nhân có hỏi ý kiến cha mẹ trong giai đoạn 2000-2006, tăng mạnh so với mức 57,7% trước năm 1975, trong khi tỷ lệ cha mẹ tự ý sắp đặt giảm sâu xuống còn 5,2%.

  3. Những nguyên nhân chính nào dẫn đến nguy cơ tan vỡ hôn nhân hiện nay? Theo số liệu thống kê, mâu thuẫn về lối sống là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ly hôn chiếm 27,7%, tiếp theo là ngoại tình chiếm 25,9%, khó khăn kinh tế chiếm 13% và bạo lực gia đình chiếm 6,7%, phản ánh áp lực lớn từ lối sống thực dụng và sự thay đổi chuẩn mực đạo đức.

  4. Tư tưởng chuộng con trai nối dõi tông đường hiện còn tồn tại phổ biến không? Tâm lý mong muốn có con trai vẫn tồn tại đậm nét với 85,7% người dân khẳng định cần có con trai để nối dõi tông đường (khu vực thành thị là 88,3%, nông thôn là 85,0%) và 54,2% xem đây là điểm tựa tuổi già, bất chấp tỷ lệ sinh trung bình đã giảm còn 1,99 con năm 2011.

  5. Vai trò của giáo dục gia đình đối với nhân cách con cái được nhìn nhận thế nào? Có tới 89,3% phụ huynh khẳng định việc giáo dục đạo đức gia đình cho con cái là rất quan trọng, đồng thời 88,8% ý kiến cho rằng cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội để tạo môi trường phát triển nhân cách lành mạnh cho thế hệ trẻ.

Kết luận

  • Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Hưng Yên đã thúc đẩy bước chuyển căn bản từ mô hình gia đình truyền thống sang mô hình hiện đại dân chủ, tiến bộ và độc lập.
  • Quy mô gia đình ít con được xác lập vững chắc với tỷ lệ sinh đạt mức thay thế 1,99 con/phụ nữ và độ tuổi kết hôn trung bình của nam giới tăng lên 25,6 tuổi.
  • Bình đẳng giới và vị thế người phụ nữ được nâng cao rõ rệt khi 80,2% phụ nữ chủ động quản lý chi tiêu và trên 40% các quyết định quan trọng do hai vợ chồng cùng đồng thuận.
  • Những thách thức mới như gia tăng ly hôn, suy giảm gắn kết tình cảm và định kiến giới (85,7% chuộng con trai) đòi hỏi phải có sự can thiệp chính sách kịp thời.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện cần được triển khai đồng bộ trong giai đoạn 2015-2020 nhằm phát huy tối đa các giá trị tích cực của gia đình trong thời kỳ mới.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích thực chứng bức tranh biến đổi gia đình tại địa bàn chuyển đổi công nghiệp hóa nhanh như Hưng Yên. Trong giai đoạn tiếp theo, các nghiên cứu cần mở rộng đánh giá tác động của các khu công nghiệp mới và kinh tế số đối với sự bền vững của thiết chế gia đình. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu hãy tích cực khai thác những phát hiện của công trình này để triển khai chính sách xã hội hiệu quả, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa gia đình Việt Nam.