CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN NHIỆM VÀ DOANH NGHIỆP XẾP HẠNG TÍN NHIỆM 1. Luận về xếp hạng tín nhiệm. Khái niệm xếp hạng tín nhiệm. Hiện nay, trong các giao dịch trên thị trường tài chính như việc cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng cho khách hàng hoặc các giao dịch mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán hay việc chào bán các công cụ nợ của tổ chức phát hành đều đòi hỏi phải có sự thông suốt thông tin, cập nhật thường xuyên và chính xác.
Tuy nhiên, đa phần các giao dịch diễn ra vẫn đang dựa trên “sự tin cậy”. Khi cho vay, các tổ chức tín dụng luôn kỳ vọng khách hàng sẽ lựa chọn phương án đầu tư tốt, thực hiện tốt phương án để có đủ nguồn vốn hoàn trả đầy đủ gốc và lãi vay; khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu hay các công cụ nợ thì nhà đầu tư cũng tin tưởng doanh nghiệp phát hành cổ phiếu làm ăn hiệu quả, trả cổ tức cao và giá cổ phiếu sẽ tăng giá, các tổ chức phát hành công cụ nợ có khả năng hoàn trả nợ đúng hạn. Đó là một trong những lý do tại sao tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng vẫn cao và có nhiều nhà đầu tư thua lỗ khi đầu tư chứng khoán hay các nhà đầu tư ít quan tâm đến các đợt phát hành công cụ nợ. Nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng thiếu thông tin xếp hạng tín nhiệm uy tín và chính xác.
Xếp hạng tín nhiệm (XHTN) với tính chất định lượng rủi ro từ lâu đã được coi là yếu tố quyết định trong đầu tư và được phát triển như một dạng hoạt động độc lập trên thị trường do các tổ chức chuyên nghiệp là các doanh nghiệp XHTN thực hiện. Xếp hạng tín nhiệm (credit rating) là thuật ngữ do John Moody đưa ra năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt”, khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm đầu tiên cho 1500 trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống kí hiệu gồm 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt từ (AAA) đến (C). Theo đó thì xếp hạng tín nhiệm là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn một nghĩa vụ tài chính [16, tr. Hiện nay, những kí hiệu này trở thành chuẩn mực quốc tế.
Theo định nghĩa trong Bộ nguyên tắc cơ bản về hoạt động của Tổ chức xếp hạng tín nhiệm (IOSCO Code) do Hiệp hội Quốc tế các Uỷ ban chứng khoán (IOSCO) 9 đề xuất thì xếp hạng tín nhiệm là đánh giá về giá trị tín dụng của một tổ chức hoặc một công cụ nợ bằng hệ thống xếp hạng đã được xác định và công bố [48, pg. Ở Việt Nam, thuật ngữ “xếp hạng tín nhiệm” đang tồn tại nhiều tên gọi như: xếp hạng tín nhiệm, định mức tín nhiệm, xếp hạng doanh nghiệp, xếp hạng tín dụng, định dạng tín dụng, xếp hạng khách hàng [44]. Theo Trần Đắc Sinh trong cuốn “Định mức tín nhiệm tại Việt Nam” thì định mức hay xếp hạng tín nhiệm được hiểu là hoạt động: “Đưa ra các nhận định hiện tại về mức độ tín nhiệm của nhà phát hành đối với một trách nhiệm tài chính nào đó, hoặc là đánh giá mức độ rủi ro gắn liền với các loại đầu tư khác nhau” [20, tr. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 53/2009/NĐ-CP về phát hành trái phiếu quốc tế, hệ số tín nhiệm (credit rating) là hệ số mà các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm quốc tế xác định để đánh giá mức độ tin cậy của các quốc gia (hệ số tín nhiệm quốc gia) hoặc của các doanh nghiệp (hệ số tín nhiệm công ty) về mức độ rủi ro đầu tư và khả năng hoàn trả các khoản vay.
Hệ số này được dùng làm căn cứ để xác định chi phí đối với việc huy động các khoản vay [2, Điều 7. Định nghĩa này tiếp tục được giữ nguyên tại Khoản 9 Điều 2 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp [3, Điều 2. Còn tại Khoản 5 và Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 88/2014/NĐ-CP quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm thì xếp hạng tín nhiệm bao gồm xếp hạng tín nhiệm đối với doanh nghiệp, tổ chức và xếp hạng tín nhiệm đối với công cụ nợ. Đây là hoạt động phân tích, nhận định và xếp hạng về khả năng thực hiện đầy đủ và, đúng hạn nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp, tổ chức hoặc của chủ thể phát hành đối với công cụ nợ tại thời điểm xếp hạng [4, Điều 4.6] Như vậy, có thể khái quát XHTN là sự đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng thực hiện đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp, tổ chức hoặc của chủ thể phát hành đối với công cụ nợ tại một thời điểm xác định.
Hiện nay XHTN đã được mở rộng, các tổ chức xếp hạng tiến hành đánh giá khả năng trả nợ đối với một nhà phát hành tại một thời điểm nhất định theo định kỳ và trước mỗi đợt 10 phát hành công cụ nợ. Đồng thời, phương pháp phân tích, đánh giá khả năng trả nợ đối với một nhà phát hành cũng được hoàn thiện hơn. Do vậy XHTN của một nhà phát hành không chỉ cho biết khả năng trả nợ của nhà phát hành, hơn thế nữa nó còn cho biết tình hình và khả năng phát triển của một tổ chức phát hành công cụ nợ. Nói cách khác, XHTN có thể cung cấp đánh giá tổng quát về tình hình và triển vọng phát triển của một nhà phát hành.
Vai trò của xếp hạng tín nhiệm. Trong quá trình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và các nhà đầu tư có những mục đích khác nhau trong việc XHTN. Vì có những mục đích khác nhau, nên những nhóm chủ thể này cũng có những nhận định khác nhau đối với XHTN. Đối với Ngân hàng Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là một trong những hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro.
Có thể nói rủi ro như một yếu tố không thể tách rời quá trình hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường. Rủi ro trong cho vay còn được nhân lên gấp bội, vì ngân hàng không những phải hứng chịu những rủi ro do những nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra. Hơn nữa, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có thể gây ra những tổn thất to lớn cho nền kinh tế hơn bất cứ rủi ro của các loại hình doanh nghiệp khác, vì tính chất lây lan của nó có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống kinh tế của một quốc gia và theo phản ứng dây chuyền nó tác động đến hầu hết tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Như vậy, đứng trên góc độ ngân hàng thì XHTN là đánh giá mức độ rủi ro của đối tượng khách hàng nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng thông qua thang điểm được xác định bởi những thông tin tài chính và phi tài chính của khách hàng XHTN tiếp cận đến tất cả các yếu tố có liên quan đến rủi ro tín dụng, các ngân hàng không sử dụng kết quả XHTN nhằm thể hiện giá trị của khách hàng vay vốn mà đây là căn cứ để ngân hàng đưa ra ý kiến chấp thuận hay từ chối cấp tín dụng dựa trên các nhân tố rủi ro thông qua việc phân tích các thông tin trong quá khứ cũng như hiện tại của khách hàng, từ đó nếu chấp thuận cấp tín dụng thì cũng có chính sách tín dụng và giới hạn cho vay phù hợp đối với từng đối tượng khách hàng.Ngoài ra, XHTN 11 còn giúp ngân hàng hiểu rõ những rủi ro mà ngân hàng sẽ đối mặt khi cấp tín dụng cho khách hàng [19, tr.
Đối với các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán Trong nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa như hiện nay thì sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán là một tất yếu khách quan. Cùng với sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán, các thông tin về XHTN của chứng khoán cũng như các tổ chức phát hành ngày càng có vai trò quan trọng. Vì vậy, mục đích của XHTN đối với các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán là: XHTN cung cấp những thông tin cần thiết cho người đầu tư về tình trạng của nhà phát hành để lựa chọn khi đầu tư vào một chứng khoán thích hợp. XHTN tạo điều kiện huy động vốn trên thị trường chứng khoán thực hiện được dễ dàng, thuận lợi hơn.
Với việc XHTN, người đầu tư sẽ an tâm, tin tưởng và dễ dàng lựa chọn chứng khoán để đầu tư. Từ đó làm cho người phát hành dễ dàng tiếp cận được với các nguồn tài chính có thể thực hiện huy động với quy mô lớn và trên một phạm vi rộng kể cả huy động vốn từ nước ngoài. XHTN góp phần quan trọng vào việc giảm bớt chi phí sử dụng vốn cho người phát hành. Khi một người phát hành có uy tín thì với việc XHTN sẽ giúp cho việc huy động vốn qua phát hành chứng khoán thuận lợi, dễ dàng hơn, đồng thời giảm được chi phí huy động vốn.
Với nhà phát hành có thể phát hành trái phiếu với mức lãi suất thấp vẫn thu hút được các nhà đầu tư. XHTN thúc đẩy nhà phát hành nâng cao hơn trách nhiệm đối với các nhà đầu tư. Việc XHTN liên quan chặt chẽ đến uy tín của nhà phát hành, điều đó thúc đẩy người phát hành thực hiện tốt hơn các cam kết đối với các nhà đầu tư trong việc đảm bảo thanh toán lãi và vốn vay. XHTN là công cụ quản lý danh mục đầu tư.
Trong danh mục đầu tư có rất nhiều loại chứng khoán khác nhau, dựa vào sự thay đổi của XHTN các nhà đầu tư đánh đổi các chứng khoán trong danh mục đầu tư để thu lợi nhuận và hạn chế rủi ro. XHTN là công cụ đánh giá một số rủi ro có liên quan. Các ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian khác với tư cách là một nhà đầu tư sử dụng XHTN làm một tiêu chuẩn quan trọng khi quyết định cho vay, tài trợ dự án, thoả thuận ngoại hối hoán đổi. Đối với các doanh nghiệp được xếp hạng 12 Các doanh nghiệp sử dụng XHTN nhằm biết rõ tình trạng hoạt động kinh doanh thực tế của mình, triển vọng phát triển trong tương lai, cũng như những rủi ro có thể gặp phải.