CHƯƠNG 1 Sự ra đời của loại hình công ty cổ phần gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế. Đối với mỗi quốc gia, trong những giai đoạn phát triển nhất định có xây dựng những quy tắc khác nhau áp dụng cho những dấu hiệu đặc thù của mỗi nền kinh tế, với từng mô hình kinh doanh cụ thể. Mô hình công ty cổ phần được xem là có nhiều ưu điểm nhất cho sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Công ty cổ phần được hình thành nhằm thu hút, kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư, cùng nhau kinh doanh, chia sẻ rủi ro và lợi nhuận.
Trong công ty cổ phần có các cổ đông là những nhà đầu tư và hệ thống cơ quan quản lý, hệ thống này do các cổ đông bầu ra để dùng tiền của các cổ đông vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và kiểm soát đồng vốn đó sao cho có lợi nhất cho các cổ đông là những người sở hữu công ty. Khi tham gia đầu tư vào công ty cổ đông sẽ được hưởng những quyền lợi nhất định, đồng thời cũng phải gánh vác các nghĩa vụ đối với công ty. Luật pháp của các quốc gia khác nhau quy định về quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần cũng khác nhau, tùy thuộc vào từng mức độ phát triển của nền kinh tế, thói quen kinh doanh. Các khía cạnh như trình độ dân trí, văn hóa xã hội cũng có tác động rất lớn đối với việc ban hành và áp dụng pháp luật.
Lĩnh vực kinh doanh đa dạng, lại liên quan trực tiếp đến quyền lợi của từng chủ đầu tư. Các quốc gia khi xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư sao cho có lợi nhất để ổn định và phát triển nền kinh tế của mình. Nước ta đang trên đà phát triển, chính vì vậy hệ thống pháp luật nước ta còn nhiều điểm chưa hoàn thiện. Do vậy, chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm từ các nước đã và đang phát triển trên thế giới theo cách thức chọn lọc để áp dụng vào nền kinh tế nước mình một cách phù hợp nhất.
Để tìm hiểu về vấn đề này, chúng ta cần xem xét những quy định về quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần theo những quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, để hiểu rõ những điểm tích cực, những 23 điểm hạn chế của các quy định pháp luật và việc áp dụng những quy định này trong các công ty ở Việt Nam hiện nay. 24 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CỔ ĐÔNG THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 2. Những quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần Luật Doanh nghiệp năm 2014 tại Khoản 5 Điều 113 có quy định: “Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau”. Như vậy, quy định này trên thực tế đã chỉ ra một cách khái quát nhất những quyền và nghĩa vụ mà bất kỳ một cổ đông nào trong công ty cũng có tùy thuộc vào loại cổ phần mà cổ đông đó nắm giữ.
Cổ đông phổ thông có các quyền và lợi ích cơ bản, tối thiểu khi đầu tư vào công ty và nghĩa vụ phải thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty. Cổ đông ưu đãi sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết, ưu đãi hoàn lại, ưu đãi cổ tức, ưu đãi khác cũng được hưởng những quyền và lợi ích khi họ đầu tư vào công ty. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, các cổ đông ưu đãi này được hưởng một quyền hoặc một số quyền khác so với cổ đông phổ thông nhưng họ cũng phải từ bỏ hay không có một số quyền khác mà cổ đông phổ thông có được. Quyền của cổ đông Sự đa dạng về loại cổ phần với các quyền và mức độ khác nhau được Luật Doanh nghiệp quy định đã cho phép công ty thiết lập được một cơ cấu tài chính linh hoạt đáp ứng nhu cầu huy động vốn của công ty và cho phép các cổ đông sử dụng nó như công cụ bảo vệ lợi ích của mình khi đầu tư vào công ty.
Mặc dù, tất cả các cổ đông được quyền bình đẳng về những quyền tương tự nhau, phần lớn các quyền này nhằm mục tiêu hoặc có lợi ích đặc biệt trong việc giúp đỡ những cổ đông không có quyền hành hoặc cổ đông nhỏ bảo vệ lợi ích của mình khỏi sự chèn ép của các thành viên Hội đồng quản trị và các cổ đông lớn. Quyền cơ bản của cổ đông Với tư cách là chủ sở hữu công ty cổ phần, các cổ đông đều có những quyền hạn chung, trong một số trường hợp có thể thay đổi tùy thuộc vào loại cổ phần mà cổ đông đó sở hữu hoặc tỷ lệ cổ phần phổ thông mà cổ đông, nhóm cổ đông nắm giữ. Theo quy định tại Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì quyền của cổ đông phổ thông có thể phân chia vào các nhóm sau: các quyền liên quan đến sở hữu, các quyền liên quan đến hoạt động quản lý công ty, các quyền liên quan đến việc tiếp nhận thông tin và quyền khởi kiện. a, Nhóm quyền liên quan đến sở hữu Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, vốn điều lệ của công ty được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần [19, Điều 110].
Với tư cách là cổ đông của công ty cổ phần thì quyền cơ bản của cổ đông là quyền sở hữu đối với công ty tương ứng với tỷ lệ cổ phần mà họ nắm giữ. Khi sở hữu cổ phần, cổ đông được hưởng những quyền sau đây: Thứ nhất, Quyền chuyển nhượng cổ phần: Điểm d Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp quy định cổ đông phổ thông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết hoặc cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập. Hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập chỉ hạn chế trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông.
Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó. Việc chuyển nhượng cổ phần được thực hiện bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán. Người 26 nhận được cổ phần bằng việc mua bán, thừa kế hay tặng cho chỉ trở thành cổ đông của công ty từ thời điểm thông tin của họ được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông [19, Điều 126]. Như vậy, công ty chỉ có vai trò chứng nhận việc chuyển nhượng cổ phần và ghi vào Sổ đăng ký cổ đông chứ không phải là phê chuẩn giao dịch chuyển nhượng.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, hiệu lực pháp lý của việc chuyển nhượng phụ thuộc vào việc đăng ký các thông tin vào Sổ đăng ký cổ đông chứ dường như chưa phát sinh tại thời điểm các bên hoàn thành việc chuyển giao quyền sở hữu cổ phần một cách hợp pháp. Quy định về quyền chuyển nhượng cổ phần của cổ đông cho phép cổ đông có thể rút vốn đầu tư khỏi công ty để đảm bảo quyền lợi của mình mà không gây ảnh hưởng đến cơ cấu vốn cũng như các hoạt động kinh doanh khác của công ty. Thứ hai, Quyền nhận cổ tức: Như chúng ta đã biết, một người đầu tư vào công ty đều nhằm hai mục đích: một là, được nhận cổ tức; hai là, được lợi nhờ giá cổ phiếu tăng lên. Nhận cổ tức là một trong những quyền cơ bản mà cổ đông được hưởng khi đầu tư vào công ty.
Theo Điểm b Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì cổ đông được nhận cổ tức với mức theo quy định của Đại hội đồng cổ đông. Cổ tức ở đây chính là “khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ đông bằng tiền mặt hoặc tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty cổ phần sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính” [19, Điều 4]. Như vậy, công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức của cổ phần phổ thông khi có đủ các điều kiện sau đây: - Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; - Đã trích lập các quỹ công ty và bù đắp lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; 27 - Ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn khác. Với cổ đông ưu đãi cổ tức thì họ sẽ được trả cổ tức cao hơn so với mức cổ tức cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm.
Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng, cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức. Quy định này nhằm hạn chế số lợi nhuận có thể sử dụng để chia cho cổ đông, bảo đảm sau khi chia cổ tức, sự tồn tại và phát triển của công ty cũng như lợi ích của các chủ nợ vẫn được đảm bảo, duy trì ở mức cần thiết, đồng thời bảo vệ được lợi ích lâu dài cho các cổ đông khi đầu tư vào công ty. Thứ ba, Quyền nhận lại tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản: Theo Điểm g Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ cổ phần sở hữu tại công ty.
Quy định này cho thấy, với cổ đông nói chung thì khi sở hữu cổ phần bên cạnh những quyền có được cùng với sự tồn tại của công ty trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh, họ cũng được hưởng quyền thanh lý với phần tài sản còn lại của công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản. Theo Luật phá sản năm 2014, một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là “khi doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn” [20, Điều 4].