CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE NÂNG CAO HIỆU QUÁ KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về dịch vụ Logistics quốc tế 1.11 Khái niệm Logistics và dịch vụ Logistics quốc tế Logistics đang ngày càng trở nên quen thuộc khi các hoạt động giao thương, buôn bán hàng hóa phát trién mạnh mẽ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của nước ta với thé giới. Mặc dù vậy cho tới nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào về Logistics. Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và ngành nghề khác nhau sẽ có những khái niệm khác nhau theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Với nghĩa rộng, Logistics có thể hiểu là sự tác động tới toàn bộ quá trình từ giai đoạn tiên sản xuât cho tới khi sản phâm đên tay người tiêu dùng cuôi cùng: - Theo Đặng Đình Đào (2011) nhận định rằng: “Logistics là quá trình lên kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát sự hiệu quả của quá trình lưu chuyên và dự trữ nguyên vật liệu, sản phẩm, bán sản phẩm cùng các thông tin liên quan từ đầu của quá trình sản xuất cho tới khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhằm đáp ứng được các yêu câu của khách hàng.” - Theo Ma Shuo (1999) cho biết: “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyên các tài nguyên hay các yêu tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.” Với nghĩa hẹp, Logistics mang ý nghĩa là hoạt động thương mại gắn với các dịch vụ cụ thể trong quá trình phân phối, lưu thông hàng hóa.
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233) đã đưa ra khái niệm về “dich vu Logistics” thay vì khái niệm về “Logistics” như sau: “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tô chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyên, lưu kho, lưu bai, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng dé hưởng thi lao”. Tóm lại, dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì một số định nghĩa nêu trên thường có những điểm chung nhất định giữa Logistics và DV Logistics 3 mà chưa phân biệt rõ ràng giữa các khái niệm. Vì vậy khi tìm hiểu về Logistics cần có cái nhìn khái quát, tiếp cận ở cả góc độ vĩ mô và vi mô, trên cơ sở đó đưa ra những nhận định cụ thể phù hợp với doanh nghiệp.2 Phân loại dich vụ Logistics quốc tế 1.1 Phân loại theo các ngành dịch vụ Logistics của WTO: Theo WTO, không có khái niệm cụ thể cho dịch vụ Logistics mà thay vào đó các hoạt động Logistics thực tế được phân thành 3 loại: - Phân loại dịch vu Logistics cơ bản: La dịch vụ cơ bản trong hoạt động Logistics mà cần phải tiến hành tự do hóa để thúc day su luu chuyén dich vu, bao gôm: + Dich vu xếp đỡ hàng hóa, trong đó bao gồm xếp dỡ hang container và xếp dỡ hàng hóa khác. + Dịch vụ lưu kho và chuyền hàng qua kho.
+ Dịch vụ đại lý vận tải. + Dịch vụ hỗ trợ khác, bao gồm cả dịch vụ môi giới hải quan. - Phân loại dich vu Logistics liên quan đến vận tải: Là dịch vụ liên quan tới cung cấp dịch vụ Logistics tích hợp cũng như cung cấp môi trường thuận lợi cho hoạt động của Logistics bên thứ 3 phát triển gồm có vận tải hàng hóa và các dịch vụ khác có liên quan tới dịch vụ Logistics gồm dịch vụ phân tích và thử nghiệm kỹ thuật, dịch vụ chuyên phát, dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, bán lẻ gồm: + Dịch vụ vận tai đường bién. + Dịch vụ vận tải đường thủy nội địa.
+ Dịch vụ vận tải đường hàng không, bao gồm cả gom hàng, thuê mướn các phương tiện thương mại kèm người điều khiển hoặc thuê phương tiện thương mại không kèm người điều khiến. + Dịch vụ thử nghiệm và phân tích kỹ thuật. + Dịch vụ chuyên phát nhanh. + Dịch vụ đại lý môi giới.
+ Dịch vụ bán buôn. + Dịch vụ bán lẻ. - Các dịch vu Logistics không cơ bản bao gồm: + Dịch vụ liên quan đến thông tin. + Dịch vụ đóng gói hàng.
+ Dịch vụ tư vẫn quản lý và các dịch vụ liên quan khác. Phân loại theo quá trình khai thác dich vu Logistics: Dựa theo quá trình khai thác có thé chia thành 3 loại hình dich vu Logistics như sau: - Logistics đầu vào (Inbound Logistics): Là tat cả những gi liên quan đến việc di chuyên nguyên vật liệu thô, vật tư hoặc thành phâm đầu vào chuỗi cung ứng. Thông qua hậu cần đầu vào, một doanh nghiệp có thê đảm bảo nguồn cung của mình hay nói cách khác là doanh nghiệp đó sẽ có được sản phẩm (hoặc nguyên liệu đê sản xuât sản phâm) mà cuôi cùng sẽ bán. Các quy trình hậu cần vận chuyển nguyên liệu thô, hàng tồn kho hoặc nguồn cung cấp từ nhà cung cấp và vào kho hàng, trung tâm phân phối, trung tâm thực hiện hoặc cửa hàng bán lẻ của doanh nghiệp đều được coi là hậu cần đâu vào.
- Logistics dau ra (Outbound Logistics): La các hoạt động liên quan đến việc di chuyền hàng tồn kho thành phẩm ra khỏi chuỗi cung ứng, nghĩa là di chuyển hàng tồn kho ra khỏi kho, thực hiện các đơn đặt hàng và giao các đơn đặt hàng đó cho khách hàng cuối. Bắt kỳ quy trình hậu cần nào liên quan đến xác nhận đơn hàng, thực hiện (bao gồm chọn và đóng gói), vận chuyên, giao hàng chặng cuối, dịch vụ khách hàng và xử lý sự cố đều đủ điều kiện là quy trình Logistics đầu ra. - Logistics ngược (Reverse Logistics): Logistics ngược dé cập đến quy trình chuỗi cung ứng trả lại sản phẩm từ người dùng cuối thông qua chuỗi cung ứng cho nhà bán lẻ hoặc nhà sản xuất. Cho dù khách hàng đang trả lại những mặt hàng mà họ không cần, đã hết vòng đời sản phâm hay sản phẩm bị hư hỏng hoặc thiếu sót, thì việc trả lại hàng cho khách hàng của bạn đơn giản là một công việc kinh doanh tốt và đó chính là lúc Logistics ngược phát huy tác dụng.
Quy trình này cũng áp dụng khi các mặt hàng cần được thải bỏ hoặc tái chế và bao gồm cả tình huống trong đó người dùng cuối là người xử lý việc tân trang, thải bỏ hoặc thậm chí bán lại sản phâm được đê cập.3 Phân loại theo hình thức khai thác hoạt động Logistics: Trong quá trình phát triển của minh Logistics đã phát triển theo 5 hình thức dưới đây: - IPL (First Party Logistics): Nhà cung cap dich vu hau can bén thir nhat 1a một công ty hoặc một cá nhân cần vận chuyên hàng hóa, cước phí, hang hóa, sản phẩm hoặc hàng hóa từ điểm A đến điểm B. Thuật ngữ nhà cung cấp dịch vụ hậu cần bên thứ nhất có nghĩa là cả người gửi hàng và hàng hóa người nhận. IPL có thé là các công ty được coi là tự cung cấp dịch vụ hậu cần như nhà sản xuất , thương nhân, nhà nhập khẩu/xuất khẩu, nhà bán buôn, nhà bán lẻ hoặc nhà phân phối trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Nó cũng có thé là một tô chức như một cơ quan chính phủ hoặc một cá nhân hoặc gia đình chuyền từ nơi này sang nơi khác.
Bat kỳ ai có hàng hóa được chuyền từ nơi xuất xứ đến nơi ở mới đều được coi là nhà cung cấp dịch vụ hậu cần bên thứ nhất. Đây là những tập đoàn Logistics lớn trên thé giới với mạng lưới Logistics toàn cầu, có phương thức và cách hoạt động phù hợp với từng địa phương. - 2PL (Second Party Logistics): Logistics bên thứ hai liên quan đến việc vận chuyên hàng hóa từ một khu vực vận chuyên cụ thể của chuỗi cung ứng như đường sắt, đường bộ, đường biển hoặc đường hàng không. Các nhà cung cấp dịch vụ hậu cần bên thứ hai là các hãng vận tải dựa trên tài sản và bao gồm vận tải sử dụng tàu cho thuê riêng và các hãng hàng không mà họ ký hợp đồng.
Chúng chủ yếu được sử dụng đề vận chuyên quốc tế hàng hóa nặng và bán buôn cũng như cho mục đích thương mại. Ví dụ, 2PL có thé là công ty giao nhận vận tai, môi giới vận tải, môi giới hải quan, công ty quản lý xuất khẩu, công ty thương mại xuất khâu, hiệp hội vận chuyền, đại lý của người gửi hàng, công ty đóng gói xuất khau,. - 3PL (Third Party Logistics): Logistics bên thứ ba thường được gọi là các nhà cung cấp bên ngoài thực hiện một phần hoặc tất cả các chức năng hậu cần không được thực hiện bởi các chuyên gia hậu cần nội bộ. 3PL có một số lợi thế nhất định so với các hình thức khác như sử dụng các chuyên gia hậu cần thay vì nhân viên nội bộ, thích ứng dễ dàng hơn với tiến bộ công nghệ, tính linh hoạt của vị trí, dịch vụ, nguồn lực và lực lượng lao động, tiết kiệm chỉ phí,.Cùng với đó vẫn có hạn chế đối với hình thức này như có khả năng bị mất kiểm soát hậu cần vận tải.
- 4PL (Fourth Party Logistics): Logistics bên thứ tư hay Logistics chuỗi phân phối. 4PL một dịch vụ quản lý hậu cần, hoạt động như một điều phối viên cho các dịch vụ khác nhau này, bao gồm thiết kế, xây dựng và thực hiện các giải pháp chuỗi cung ứng. - 5PL (Fifth Party Logistics): Logistics bên thứ năm, còn được gọi là 5PL, là một hệ thống trong đó một tổ chức (khách hàng) thuê ngoài tất cả các chuỗi cung ứng của mình cho một nhà cung cấp dịch vụ logistics. Công ty 5PL tham gia lập kế hoạch, tô chức và thực hiện các giải pháp hậu cần của khách hàng.
Thông qua các quy trình chuỗi cung ứng khác nhau, 5PL sử dụng đồng thời các dịch vụ hậu cần của bên thứ ba (3PL) và hậu cần của bên thứ tư (4PL), đồng thời quản lý tất cả các mạng trong chuỗi cung ứng. Hơn nữa, các công ty 5PL đặt giá và trong một số trường hợp, thương lượng lại giá đã được xác định.2 Lý luận về hiệu quả kinh doanh dịch vụ Logistics quốc tế 1.