CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE DAN SO, LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LAM Ở ĐÔ THỊ 1. Khái quát chung về dân số và phân bỗ dân số đô thị 1. Khái niệm Dân số theo quan điểm thống kê là số người sống trên một lãnh thé nhất định vào thời điểm nhất định và dân số đô thị là bộ phận dân số sống trên lãnh thổ được quy định là đô thị. Theo Khoản 2 Điều 3 Nghị định 42/2009/NĐ-CP về phân loại đô thị như sau: “ Dân sô đô thị là dân sô thuộc ranh giới hành chính của đô thị, bao gôm; nội thành, ngoại thành, nội thị, ngoại thị và thị tran.
Đặc điểm dân số đô thị: Dân số đông, mật độ dân số cao và dân số nhiều thành phần: Do đô thị là trung tâm tông hợp hoặc chuyên ngành của vùng, quốc gia, là đầu mối giao thông của khu vực hoặc quốc gia nên vai trò của đô thị hết sức quan trọng vì vậy đòi hỏi cần có nguồn nhân lực dồi dào. Đồng thời còn là thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn nên đô thị là khu vực tập trung nhiều dân cư và thành phan dân số đa dang dé đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị. Ngoài ra do hạn chế về mặt diện tích tự nhiên nên mật độ dân số đô thị thường cao. Phân tầng xã hội mạnh mẽ: Do dân số tập trung cao và nhiều thành phần nên phân tầng xã hội ở đô thị cũng biểu hiện rõ rệt.
Đặc điểm đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành, đầu mối giao thông nên dẫn đến việc có nhiều sự giao lưu, di chuyén của dân cu các khu vực khác ngoai đô thi vào và cùng với su đa dang về các hoạt động của đô thị mà mỗi cư dân trong đô thị đều có vai trò riêng của mình. Mỗi một cư dân đô thị đều nằm trong 2 khả năng là đóng vai trò là nguồn cung lao động, nguồn cầu sản phâm hoặc cả hai dẫn đến việc mỗi cá nhân ứng với khả năng của mình là có một địa vị trong xã hội. Khả năng của mỗi cá nhân là không giống nhau vì thế sự phân tầng xã hội ở đô thị càng rõ nét. Dân số đô thị biến động do 3 nguyên nhân: - Do Mức tăng dân số tự nhiên.
- Do Mức tăng dan số cơ học. - Domo rộng diện tích hành chính đô thị. Quy mô dân số đô thị Quy mô dân số: là số người sống trên một vùng lãnh thổ tại một thời điểm nhất dinh.Quy mô dân số phản ánh khái quát tổng số dân của mỗi vùng, lãnh thé nhất định trên thé giới. Quy mô dân số đô thị hợp lý: là quy mô cho phép đảm bảo điều kiện tốt nhất để tổ chức sản xuất, đời sống, bảo vệ môi trường cảnh quan, với kinh phí xây dựng và quản lý đô thị thấp nhất.
Nội dung của việc tổ chức sản xuất đời sống bao gồm các van đề: t6 chức sản xuất, t6 chức đời sông dân cu,t6 chức giao thông di lại, tô chức mạng lưới các công trình kĩ thuật, tổ chức bảo vệ môi trường cảnh quan, sử dụng đất đai xây dựng, quản lý kinh tế đô thị. Phân bỗ dân số đô thị Khái niệm: Phân bố dân cư là sự sắp xếp số đân một cách tự phát hoặc tự giác trên một lãnh thổ sao cho phù hợp với các điều kiện sống cũng như các yêu cầu khác của xã hội. Đề thê hiện tình hình phân bố dân cư của một khu vực người ta thường sử dụng tiêu chí mật độ dân số. Tức là số dân cư trú sinh sống trên một đơn vị diện tích thường là km2.
Don vị tinh mật độ dân số là người/km2 Mật độ dân số = Số người sống trên lãnh thé / Diện tích lãnh thé Đặc điêm : - Phan bố dân cư không đều trong không gian: sự phân bố dân cư không đều giữa các khu vực. - _ Biến động về phân bố dân cư theo thời gian: sự phân bố dân cư có sự khác nhau qua các thời kì. Lao động đô thị 1. Khái niệm lao động đô thi Lao động đô thị có thé được hiểu theo 2 phương diện: Nguồn lao động thường trú: là bộ phận dân số đô thị bao gồm những người trong tuổi lao động có khả năng lao động, và những người ngoài tuổi thực tế có tham gia lao động.
Nguồn lao động này được xác định trên cơ sở dân số thường trú. Nguồn lao động hiện có: là tat cả những người có khả năng lao động đang tham gia hoặc có khả năng tham gia lao động trên địa bàn đô thị. Với cách hiểu này thì nguồn lao động đô thị bao gồm cả những người từ các địa phương khác nhau đến đô thị để tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động này được xác định trên cơ sở dân số hiện có.
Đặc điểm của lao động đô thị Lao động đô thị là lao động phi nông nghiệp. Hoạt động của lao động đô thị và thu nhập của họ có nguồn gốc từ các ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Việc làm và thất nghiệp Các khái niêm: - _ Việc làm là hoạt động lao động hợp pháp, tương đối ôn định, tạo ra thu nhập hoặc có khả năng tạo ra thu nhập cho người thực hiện. - _ Nghề nghiệp là việc mà một người sẽ phải cố gắng dé làm tốt công việc của mình sao cho phù hợp với khả năng, trình độ, lòng đam mê đối với nghề.
là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng dé làm ra các loại sản pham vật chat hay tỉnh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. - That nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động có khả năng lao động, có nhu cầu tìm kiếm việc làm nhưng hiện tại không có việc làm, đang tích cực tìm kiêm việc làm hoặc chờ đợi công việc. Các hình thái của thất nghiệp « That nghiệp tự nhiên: là lượng thất nghiệp trong điều kiện trong điều kiện thị trường lao động chung của nền kinh tế đô thị đã được cân bằng. Trong nền kinh tế quốc dân nói chung và đô thị nói riêng, luôn ton tại một lượng thất nghiệp nhất định.
Quy mô thất nghiệp lớn hay nhỏ tùy thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế đô thị và tốc độ tăng của nguồn lao động. ¢ That nghiệp cơ cấu là tình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn do không phù hợp về quy mô và cơ cấu cũng như trình độ của cung lao động theo vùng đối với cầu lao động (số chỗ làm việc). Sự không phù hợp có thê là do thay đổi cơ cấu việc làm yêu cầu hoặc do biến đổi từ phía cung của lực lượng lao động. « That nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn do giảm tông cầu về lao động va làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy thoái, dân đên giảm hoặc không tăng sô việc làm.
Vai trò của lao động, việc làm đến phát triển đô thị Quy mô và mật độ dân sô đô thị có ảnh hưởng rât lớn đên phát triên kinh tê và các vân đê văn hóa xã hội đô thị Quy mô dân sô quá lớn, mật độ cao, trình độ dân trí thâp sẽ gây nhiêu khó khăn cho việc tô chức đời sông dân cư, giao thong, y tê, giáo dục, bảo vệ môi trường cảnh quan và các vân đê xã hội, việc làm. Quy mô dân số cũng là chỉ tiêu quan trọng phản ánh quy mô đô thị, sự quá tải về các van dé là do quá tải về dân số. That nghiệp là một trong những van dé nan giải của nền kinh tế nói chung và của đô thị nói riêng. Thất nghiệp ở đô thị là nguyên nhân của nhiều vấn đề kinh tế - xã hội ở đô thị.
Hiểu được rõ bản chat thất nghiệp và đo lường quy mô thất nghiệp ở đô thị là cơ sở dé xây dựng các chính sách kinh tế- xã hội, trong đó đặc biệt là giải quyết các vấn đề việc làm và xóa đói giảm nghèo đô thị. Lao động — dân số - việc làm và phát triên kinh tế có mối quan hệ biện chứng. Mục tiêu của phát triển đô thị là nâng cao đời sống dân cư đô thị, trong khi dé phát triển đô thị cần có dân sé, lao động có chất lượng. Kinh nghiệm và bài học rút ra cho Hà Nội nhằm quản lý vấn đề dân số, lao động và việc làm Thành phố Đà Nang đã xây dựng dé án “Phân bổ dân cư trên địa bàn thành phố” với mục tiêu cụ thé nhăm định hướng bố trí dân cư phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội thành phố, thu hút người tài đến làm việc và góp phan hạn chế người nhập cư không có công việc ôn định, giảm tải dân số cho các quận trung tâm.
Tập trung van đề giải quyết mật độ dân số trong chính sách quy hoạch đô thi là hết sức cần thiết, có tam quan trọng đặc biệt trong mối liên quan tổng thể giữa chính sách dân số và chính sách phát triển kinh tế - xã hội của thành phó. Mật độ dân số Đà Nẵng đứng ở vị trí 13 trên toàn quốc, trong khi diện tích xếp thứ 59 và có sự chênh lệch khá lớn giữa các quận, huyện. Hơn 4/5 dân số tập trung trên một diện tích bang 1/4 dién tich toan thanh phô. Trong đó, quận Thanh Khê và quận Hải Châu chiếm 41,1% dân số thành phố nhưng diện tích dat chỉ chiếm 3,1% diện tích toàn thành phó.
Đây là tình trạng phân bổ dân cư không đồng đều, chênh lệch vê mật độ dân sô và cơ câu dân sô mat cân đôi giữa các địa phương. Nhằm đáp ứng yêu cầu về dân số cho một thành phố trực thuộc Trung ương, từ năm 2009 đến nay, Đà Nẵng đã và đang duy trì mức sinh thay thế (số con trung bình của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ khoảng 2,06 con năm 2016), tổng số nhân khẩu cuối năm 2016 là 1. Tỷ lệ tăng dân số duy trì ở mức 1,1 - 1,3% trong 10 năm qua. Đồng thời, chất lượng dân số từng bước được cải thiện rõ rệt: tuổi thọ bình quân của người dân là 75,6 tuổi.
Tỷ lệ nhập cư vào Da Nẵng ngày càng gia tăng. Quy mô dân số giữa các quận, huyện còn chênh lệch và mật độ dân cư một số phường thuộc quận trung tâm thành phố còn cao. Tỷ lệ nhập cư ngày càng gia tăng và một số chỉ tiêu thiên niên kỷ về dân số, y tế và xã hội chưa đạt như mong muôn.