Chương I: Cơ sở lý luận chung về thuế thu nhập doanh nghiệp Chương II: Thực trạng công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế thành phố Lạng Sơn Chương III: Giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế thành phố Lạng Sơn 11 PHẢN II: NỘI DUNG CHUONG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE THUE THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Lịch sử hình thành Giai đoạn thuộc địa, không tồn tại thuế thu nhập doanh nghiệp trong hệ thống thuế. Thực dân Pháp đánh các loại thuế khác nhau lên các cá nhân, các loại hình kinh doanh, hàng hóa khác nhau.
Các loại thuế phổ biến thời bay giờ là thuế muối, thuế rượu, thuế thân. Những loại thuế đó đã vấp phải nhiều sự phản đối từ phía người dân. Năm 1954, sau khi bị phân chia thành hai miền Nam - Bắc, miền Bắc đã theo học thuyết chủ nghĩa Karl Marx — Lenin xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, còn chính phủ miền Nam Việt Nam dưới sự giúp đỡ của Mỹ đã bắt đầu chủ trương xây dựng nên kinh tế thị trường. Theo trích đoạn trong cuốn “The Tax system of Vietnam” của giáo su Milton C.
Taylor - một giảng viên, một nhà nghiên cứu đã có nhiều năm làm việc ở Việt Nam của Đại học Bang Michigan: các cá nhân và doanh nghiệp miền Nam Việt Nam những năm 1960 có thu nhập từ kinh doanh đều phải nộp thuế lợi tức (trừ những khoản thu nhập từ chứng khoán và lợi nhuận phát sinh từ tài sản). Cơ sở kinh doanh là công ty thì phải nộp thuế với mức thuế suất là 16%, còn cơ sở kinh doanh phi công ty thì chiu mức thuế là 24%. Ngoài ra, miền Nam Việt Nam cũng đã tiến hành cải cách hệ thống thuế dưới sự tư van của Ngân hàng thé giới (World Bank) và chính phủ Mỹ hỗ trợ cho công cuộc cải cách này. Luật thuế thu nhập năm 1971 được ban hành và có nhiều điểm tương đồng với Bộ luật thu nhập nội địa của Mỹ.
Thế nhưng, do tình hình chính trị bất 6n đến giai đoạn giải phóng miền Nam thống nhất đất nước nên Bộ luật này không có cơ hội áp dụng nhiều. Kể từ sau thời điểm 30/4/1975, miền Nam và miền Bắc thống nhất; Chính phủ bắt đầu bắt tay vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở cả hai miền. Chính sách thuế của miền Bắc cũng đã được áp dụng cho miền Nam. Hệ thống thuế lúc bay giờ chỉ có thuế nông nghiệp, thuế đối với doanh nghiệp nhà nước và thuế đối với tư nhân.
Tất cả những loại thuế này dựa trên những văn bản dưới luật. Hệ thống này ton tại đến cuối thập niên 80. 12 Việc ra đời của thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ta là kết quả của việc cải cách hệ thống thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới. Cùng với các loại thuế khác, thuế đánh trên thu nhập của doanh nghiệp đã được ban hành.
Loại thuế đánh trên thu nhập doanh nghiệp đầu tiên được giới thiệu là thuế lợi tức. Thuế lợi tức được áp dụng đến năm 1999. Loại thuế này có những điều khoản giống như luật thuế lợi tức của Trung Quốc. Theo như luật thuế lợi tức năm 1990, có nhiều loại thuế, mức thuế đánh lên thu nhập của các doanh nghiệp, tùy thuộc vào thành phần kinh tế.
Doanh nghiệp nhà nước chịu mức thuế khác với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Việc sử dụng chính sách thuế như công cụ kêu gọi đầu tư trực tiếp từ nước ngoài lại dẫn đến sự đối xử không bình đăng giữa các thành phần kinh tế. Có thời điểm, doanh nghiệp FDI chỉ phải nộp thuế lợi tức với thuế suất 25% (và thuế chuyền lợi nhuận ra nước ngoài nếu họ chuyền phan lợi nhuận này ra khỏi lãnh thé Việt Nam) còn doanh nghiệp trong nước phải nộp thuế đến tận 45% và có thé còn phải nộp thêm thuế thu nhập bổ sung. Ngày 10/5/1997, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thông qua và luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1999 thay cho Luật thuế lợi tức.
Ngày 17/6/2003, Quốc hội đã thông qua luật thuế TNDN sửa đổi, bồ sung để thay thé luật thu nhập doanh nghiệp năm 1997; luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2004. Đến ngày 19 tháng 6 năm 2013, Quốc hội một lần nữa thông qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi năm 2008 dé ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi b6 sung năm 2013. Khái niệm và phạm vi áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Hiện nay, thuế TNDN còn là một khái niệm trừu tượng, chưa có một khái niệm cụ thé nào dé định nghĩa chính xác về nó.
Tuy vậy, dựa theo các quy định về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn ban hành, ta có thé hiểu như sau: Thuế thu nhập doanh nghiệp (Corporate income tax) là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi đã trừ đi các khoản chỉ phí hợp lý, hợp pháp liên quan đến thu nhập của đối tượng chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động kinh doanh, sản xuất hàng hóa, dịch vụ và các nguồn thu nhập khác theo quy định của pháp luật. Pham vi áp dụng Bao gồm các van dé về thuế, thuế quan có mang yếu tô phát sinh lợi nhuận của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa — dịch vụ. Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế TNDN có các đặc trưng cơ bản sau: - Đối tượng chịu thuế của thuế TNDN là thu nhập có nguồn gốc phát sinh chủ yếu từ hoạt động kinh doanh, sản xuất. Do đó, đưới góc độ lý luận, để thu nhập được coi là thu nhập chịu thuế thì phải thỏa mãn 2 điều kiện: + Có hành vi kinh doanh phát sinh trên thực tế không phân biệt tư cách chủ thể là doanh nghiệp hay là các tổ chức khác, có đăng ký kinh doanh hay không có đăng ký kinh doanh (đăng ký dưới các hình thức khác theo Luật Tổ chức tín dụng, Luật Đầu tư,.) + Có thu nhập thực tế hợp pháp phát sinh trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên và các khoản thu nhập khác.
Như vậy, chỉ khi các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư có lợi nhuận thì mới phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. - Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là mọi tổ chức và doanh nghiệp thuộc moi thành phan kinh tế có phát sinh thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. - Mức độ điều tiết của thuế thu nhập doanh nghiệp là rất lớn. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp và mục đích áp dụng chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp 1.
Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế TNDN có ý nghĩa như một công cụ giúp doanh nghiệp tăng cường công tác quản lý nội bộ cũng như xác định chiến lược trong từng thời kỳ: - Thuế thu nhập doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong khuyến khích đầu tư phát triển kinh té, xã hội; khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và lãnh thô thông qua các quy định về ưu đãi thuế, các yêu tố kỹ thuật trong tính thuế, quản lý thuế. - Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng và hiệu quả trong việc đảm bảo nguồn thu cho NSNN đáp ứng các nhu cầu chỉ tiêu của Chính phủ. - Thuế thu nhập doanh nghiệp thu trên thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi những chỉ phí để tạo ra thu nhập (hay còn gọi là lợi nhuận) trong mỗi kỳ tính thuế; 14 số tiền nộp thuế dù cao hay thấp cũng sẽ tác động đến hành vi và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy, việc tính thuế cần dựa vào các chuẩn mực kế toán, gắn với các quy chế quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp.
- Việc đánh thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm từng bước thu hẹp sự phân biệt giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân, đảm bảo việc kinh doanh sản xuất phù hợp với chủ trương, đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Mục đích áp dụng chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp Tùy vào từng thời kỳ, việc áp dụng chinh sách thuế sẽ mang lại các mục đích khác nhưng chung quy lại, mọi chính sách đề ra vẫn hướng tới 4 mục đích cơ bản sau đây: Thứ nhất, tạo cho nhà nước một khoản thu gắn với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và toàn kinh tế nói chung. Thứ hai, bao quát và điều tiết được các khoản thu nhập đã, đang và sẽ phát sinh của tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Thứ ba, thông qua ưu đãi về thuế suất, miễn thuế, giảm thuế nhằm khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào Việt Nam.
Thứ tư, tao sự công bang giữa các doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh, phù hợp với tiến trình hội nhập của nước ta hiện nay. Nội dung cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Đối tượng chịu thuế Căn cứ vào Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi 2013 quy định về các đối tượng có nghĩa vụ phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: - Doanh nghiệp đã được thành lập và cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 dưới các hình thức: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cô phần, công ty hợp danh và các tô chức khác. - Doanh nghiệp nước ngoài đã được thành lập và cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh theo pháp luật nước ngoài và có công ty cơ sở ở Việt Nam (công ty đa quốc gia).
VD: chi nhánh nước ngoài, van phòng đại diện nudc ngoài, đại lý bán lẻ cho doanh nghiệp nước ngoài,. 15 - Các đơn vi sự nghiệp công lập hoặc đơn vi sự nghiệp ngoài công lập đuợc thành lập, công nhận, có tư cách pháp nhân trong hoạt động kinh doanh theo quy định của luật pháp Việt Nam. - Các tô chức khác có hoạt động kinh doanh: Hợp tác xã, đơn vi sự nghiệp,.