CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VE NÂNG CAO KHẢ NANG CẠNH TRANH CUA DỊCH VU GIAO NHAN HÀNG HOA DOI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Một số lý luận về cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Cho đên nay, thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rât phô biên trong nhiêu lĩnh vực của đời sông kinh tê, chính trị, xã hội, thường xuyên được bàn luận trong các sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế, dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau về “cạnh tranh”. Xuất hiện từ giữa thé kỷ 17 cho đến những thập niên cuối cùng của thế ky 20 gắn liền với tên tuổi của các trường phái cạnh tranh cổ điển của các nhà kinh tế học Adam Smith, David Ricacrdo, John Stuart Mill, C.
Mark; trường phái cạnh tranh tân cô điển của W. Walras; trường phái cạnh tranh dựa vào lý luận tổ chức ngành của E Chamberlin và J. Robinson; trường phái cạnh tranh Ao của C, Menger, L. Tuy nhiên, dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, hình thức diễn đạt của những quan niệm này có những sự khác nhau nhất định.
Tiếp cận dưới góc độ chủ thé của cạnh tranh, từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) ghi nhận: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hang hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung — cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuat, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”. Tiếp cận dưới góc độ phương thức cạnh tranh, từ điển Kinh tế kinh doanh Anh - Việt phi nhận: “Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng, do đó thu được nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất”. Như vậy mặc dù hình thức biểu đạt chưa thong nhat, nhưng nội hàm của khái niệm cạnh tranh theo quan niệm truyền thống đều phản ánh: - Bản chất của cạnh tranh là quan hệ đối kháng. Bởi thế, các doanh nhân thường gọi: “Thương trường là chiến trường” hay như cách nói của Gore Vidal: “Chỉ thành công thôi chưa đủ, phải làm cho kẻ khác thất bại nữa”.
- Các bên tham gia cạnh tranh là các chủ thể kinh tế; - Không gian diễn ra cạnh tranh là thị trường; - Phương thức cạnh tranh là giá cả thấp hoặc hàng hóa có chất lượng tốt nhất; - Mục đích của cạnh tranh là giành cho mình lợi ích nhiều hơn so với các đối thủ. Vì vậy, một cách khái quát có thể hiểu: Cạnh tranh kinh tế là một phạm trù phản ánh mối quan hệ đối kháng diễn ra trên thị trường giữa những chủ thé có cùng mục đích, nhằm giành cho mình lợi ích nhiều hơn so với các chủ thé khác. Cạnh tranh kinh tế thực chat là cuộc chiến diễn ra trên thương trường giữa các chủ thé kinh tế. Mục đích của cạnh tranh theo Porter là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận mà doanh nghiệp đang có. Đặc tính của cạnh tranh dịch vụ 1. Khải niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến nên có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ như: dich vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nao đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng (M. Theo Kotler và Armstrong (2004) [4] thì dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thé cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.
Theo Bùi Nguyên Hùng và Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2004) thì dịch vụ bao gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước nơi mà khách hàng và nhà cung cấp tiếp xúc với nhau. Mục đích của việc tiếp xúc này nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng. Từ những định nghĩa trên có thể khái quát dịch vụ là một loại sản pham đặc biệt mang tính vô hình do các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp cho đối tượng sử dụng dịch vụ hoặc khách hàng. Các đặc tính của cạnh tranh dich vụ Dịch vụ có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thé tách rời, và tính không thé cat giữ.
- Tính vô hình: Hang hoá có hình dáng, kích thước, mau sắc và thậm chí cả mùi vị, khách hàng có thé tự xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình không. Ngược lại, dịch vụ mang tính vô hình, làm cho các giác quan của khách hàng không nhận biết được trước khi mua dịch vụ. Đây chính là một khó khăn lớn khi bán một dịch vụ so với khi bán một hàng hoá hữu hình, vì khách hàng khó thử dịch vụ trước khi mua, khó cảm nhận được chất lượng, khó lựa chọn dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ khó quảng cáo về dịch vụ. - Tính không đồng nhất về chất lượng: Dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá, do vậy nhà cung cấp khó kiêm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất.
Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ, sức khoẻ, sự nhiệt tình của nhân viên cung cấp dịch vụ vào buổi sáng và buổi chiều có thể khác nhau. Do vậy, khó có thé đạt được sự đồng đều về chất lượng dịch vụ ngay trong một ngày, dịch vụ càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng. - Tính không thé tách rời: Hàng hoá được sản xuất tập trung tại một nơi, rồi vận chuyên đến nơi có nhu cau. Khi ra khỏi dây chuyền sản xuất thì hang hóa đ hoàn chỉnh, đó đó có thé đạt được tính kinh tế theo quy mô do sản xuất tập trung, hàng loạt, và quản lý chất lượng sản phẩm tập trung.
Nhà sản xuất cũng có thé sản xuất khi nào thuận tiện, rồi cất trữ vào kho và đem bán khi có nhu cầu, do vậy họ dé thực hiện cân đối cung cầu, quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời, người cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau dé cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên. Đối với một số các dịch vụ, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ. - Tính không thê cất giữ: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp, do vậy dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt dé cất vào kho dự trữ, khi có nhu cau thị trường thì đem ra bán. Lý luận về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 1.
Khái niệm về khả năng cạnh tranh Như chúng ta đã biết, cạnh tranh là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường , bat kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia vao thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Tuy nhiên, dé có thé giành ưu thế trong cạnh tranh là một điều rất khó khăn. Do đó, các doanh nghiệp cần phải tự tạo ra và nâng cao khả năng cạnh tranh cho chính mình. Vậy “khả năng cạnh tranh” được hiểu như thé nào? Hiện nay, quan niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng có nhiều khác biệt.
Có ý kiến cho rằng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp gan liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.Có quan điểm gắn khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có những quan điểm đồng nhất khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh.Có một số ý kiến tán thành quan điểm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác thực lực và lợi thế của mình để thỏa mãn nhu cầu khách hàng và thu được lợi nhuận. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e rằng chưa đủ, bởi trong điều kiện tòan cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngòai đôi khi là yếu tố quyết định. Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng van tôn tại va phát triển trong một thế giới khốc liệt như hiện nay. Nhu vậy khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là: “ Kha năng cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác các, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngòai nhằm tạo ra những sản pham hàng hóa dịch vụ hap dẫn với người tiêu dùng dé tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngảy cảng cao và cải tiễn vị trí so với các đối thủ cạnh tranh”.
Hoặc có thê hiểu là: “ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tai trợ những mục tiêu của doanh nghiệp đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra” 1. Các cấp độ của khả năng cạnh tranh - Khả năng cạnh tranh quốc gia: là một khái niệm phức hợp, bao gồm các yêu tố ở tầm vĩ mô, đồng thời cũng bao gồm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nước. Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm 6n định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân. - Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thị trường, khả năng tô chức, quản trị kinh doanh, áp dụng công nghệ tiên tiến, hạ thấp chỉ phí sản xuất nhăm thu lợi nhuận cao hơn của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước.