Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dung vốn của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH JM TECH Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu qua sử dung vốn của Công ty TNHH JM TECH Việt Nam CHUONG 1 CƠ SO LY LUẬN VE HIỆU QUA SỬ DUNG VON TRONG DOANH NGHIEP 1. Vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm tăng giá trị của chủ sở hữu. Tại Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp 2014: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch én định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật dé thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường”.
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Trong một nền kinh tế thị trường phát triển, các doanh nghiệp tồn tại dưới ba hình thức chính là: kinh doanh cá thể, kinh doanh hợp vốn và công ty. Mỗi một loại hình kinh doanh có những ưu điểm, nhược điểm riêng va phù hợp với từng quy mô và trình độ phát triển nhất định. Các doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh.
Họ tự xác định tính chất sản phẩm mà họ sẽ tạo ra, họ thương lượng về giá cả mà họ sẽ trả hoặc nhận và tự xác định xem khách hàng của mình là ai. Các doanh nghiệp luôn tự vạch ra các mục tiêu kết hợp với mục tiêu của toàn ngành do Nhà nước hoạch định và phải có những biện pháp cụ thé dé thực hiện mục tiêu đó. Có thé nói, mọi hoạt động của doanh nghiệp dưới bat kỳ hình thức nào về ban chất đều nham giải quyết những vấn đề cơ bản của thị trường. Dé thực hiện được van dé này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định giúp thực hiện các khoản đầu tư cần thiết ban đầu như: chỉ phí thành lập doanh nghiệp, chi phí mua nguyên vật liệu, chi phí mua hàng hóa, trả lương, trả lãi tiền vay, nộp thuế cho Nhà nước,.ngoài ra còn đầu tư thêm công nghệ, mua sắm máy móc, thiết bị để tái sản xuất mở rộng, phát triển doanh nghiệp.
Vậy thì vốn là gì? Theo K Marx, vốn là tư bản (Capital), là giá tri dem lại giá tri thang dư. Theo đó, vốn được xem xét là giá tri đầu vào của quá trình sản xuất. Sau Marx, các nhà kinh tế học đại diện cho các trường phái kinh tế khác nhau đã đưa ra nhiều quan điểm về vốn.Samuelson, “vốn là những hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là một trong ba yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (vốn, lao động, đất dai)”. Như vậy, vốn ở đây được xem xét dưới hình thái hiện vat, là tài san cố định của doanh nghiệp.Samuelson, trong cuốn “Kinh tế học” của David Begg, tác giả đưa ra hai định nghĩa về vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính.
“Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất ra dé sản xuất ra hàng hóa khác. Vốn tài chính là tiền và các loại giấy tờ có giá khác của doanh nghiệp.” Trong nên kinh tế thi trường hiện nay, vốn được xem xét dưới góc độ là một yếu tố đầu vào của một quá trình sản xuất và tái sản xuất diễn ra liên tục trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp. Có thé hiểu, vốn là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp theo, vốn được biểu hiện bằng cả tiền mặt lẫn các giá trị vật tư, hàng hóa, tài sản của doanh nghiệp. Vốn ở đây khác với tiền tệ thông thường khác, tiền sẽ được coi là vốn khi được dùng vào sản xuất kinh doanh, hình thành nên các tài sản của doanh nghiệp.
Vốn là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, không chỉ trong doanh nghiệp mà còn trong toàn xã hội. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều bị chi phối bởi quy mô, cơ cấu và tốc độ luân chuyên của vốn. Vốn là điều kiện không thê thiếu được đề thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà còn là điều kiện tiền đề cho mọi quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
Nhờ có vốn, doanh nghiệp có thê đầu tư mua sắm các yếu tô đầu vào như nguyên vật liệu, lao động, trang thiết bị, nhà xưởng.phục vụ cho các hoạt động trong kỳ của mình. Trong quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động và luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại giữa các hình thái khác nhau của tài sản và hiệu quả tài chính. Nói cách khác, vốn cần được xem xét và quản lý trong trạng thái vận động và mục tiêu hiéu qua cua von có ý nghĩa quan trọng nhất. Tùy theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thé có các phương thức tao vốn và huy động vốn khác nhau.Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp được đa dạng hóa, giải phóng các nguồn tài chính trong nền kinh tế, thúc day sự thu hút vốn vào của các doanh nghiệp.
Sự phân tích nhanh chóng của nền kinh tế và thị trường tài chính sẽ sớm tạo ra điều kiện dé các doanh nghiệp mở rộng khả năng thu hút vốn vào kinh doanh. Có thể hiểu: Vốn là một phạm trù kinh tế. Vốn là biêu hiện bằng tiền của tất cả giá tri tài san được sử dụng vào hoạt động san xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là giá trị ứng ra ban đầu cho các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lời. Phân loại vốn 1.
Theo tính chất chu chuyển Bao gôm: Vôn cô định và vôn lưu động a. Vốn cố định: vốn cô định là giá trị của các loại TSCD. Các loại tài sản này là những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng kéo dài qua rất nhiều chu kì kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn cố định luân chuyên qua nhiều kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do TSCD và các khoản dau tư dai hạn tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bộ phận vốn cô định đầu tư vào sản xuất được phân ra làm 2 phan. Một bộ phan vốn cô định tương ứng với giá trị hao mòn của TSCĐ được dịch chuyền vào chi phí kinh doanh hay giá thành sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ra, bộ phận giá trị này sẽ được bu đắp và tích lũy lại mỗi khi hàng hóa hay dịch vụ được tiêu thụ. Bộ phận còn lại của vốn có định dưới hình thức giá trị còn lại của TSCĐ. Thông thường, vốn cé định là một bộ phận quan trọng chiếm ty trọng cao trong tổng số vốn của doanh nghiệp.
Đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo quy luật riêng. Do đó, việc quản lý và sử dụng vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Vốn lưu động: vốn lưu động là biểu hiện băng tiền của tai sản lưu động ứng trước dé đầu tư, mua sắm TSLD trong doanh nghiệp, nên đặc điểm vận động của von lưu động luôn chiu sự chi phối bởi những đặc điểm của TSLĐ. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông.
Quá trình vận động của vốn lưu động là một chu kỳ khép kín từ hình thái này sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Chu kỳ vận động của vốn lưu động là cơ sở đánh giá khả năng thanh toán và hiệu quả sản xuất kinh doanh của, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Theo hình thức sở hữu: Bao gôm vôn chủ sở hữu và vôn vay: a. Nguồn vốn chủ sở hữu: Là nguồn vốn được hình thành từ một hoặc nhiều chủ sở hữu vốn của doanh nghiệp: nhà nước, cỗ đông, tư nhân, thành viên đầu tư góp vốn, hộ gia đình.
Nguồn vốn này được hình thành từ đầu và được bổ sung thêm trong quá trình phát trién. Nguồn vốn chủ sở hữu thuộc quyền sở hữu và sử dụng của doanh nghiệp nên được sử dụng ôn định và chủ động. Tỷ trọng của loại vốn này trong tong vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp cảng cao và ngược lại. Đôi với mọi loại hình doanh nghiệp, vôn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gôm ba bộ phận chủ yêu: vôn điêu lệ, vôn từ lợi nhuận giữ lại và phát hành cô phiêu.
* Von điêu lệ: - Khi doanh nghiệp được thành lập, bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải dau tư một sô von nhât định; + Đối với doanh nghiệp Nhà nước (thuộc sở hữu Nhà nước), nguồn vốn tự có ban đầu chính là vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước. + Đối với công ty Cé phan, nguồn vốn do các cô đông đóng góp là yếu tố quyết định dé hình thành công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên trị giá số cô phần mà họ nắm giữ. Tuy nhiên, các công ty cô phan cũng có một số hình thức khác nhau, do đó, cách thức huy động vốn cô phần cũng khác nhau.
- Trong công ty tư nhân, chủ doanh nghiệp phải có đủ số vốn pháp định cần thiết dé xin đăng ký thành lập doanh nghiệp. Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật đề thành lập doanh nghiệp. - Vốn điều lệ được ghi trong điều lệ của Công ty. * Von từ lợi nhuận giữ lại: Tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là một con đường tốt vì công ty sẽ phát huy được nguồn lực của chính mình, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài.
Rất nhiều công ty coi trọng chính sách tai đầu tư từ số lợi nhuận dé lại, họ đặt ra mục tiêu phải có một khối lượng lợi nhuận đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày cảng tăng. Khi nói tới nguồn vốn tái đầu tư của các công ty cô phần, không thê không lưu ý tầm quan trọng của chính sách phân phối cé tức.