Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về quản lí SD dat DT. Chương 2: Hiện trạng quản lí SD đất ĐT tại quận Lê Chân, thành phố HP. Chương 3: Dinh hướng phát triển và các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động quản lí SD đất trên phạm vi quận Lê Chân, thành phố HP. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LÍ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ.
Tổng quan về đất đô thị. Dựa theo Khoản | điều 144 Luật đất dai năm 2013: “Dat đô thị loại đất được sử dụng với mục đích xây dựng công trình, nhà ở nhằm đáp ứng nhu cau cá nhân hoặc dé phục vụ cho đời sống sinh hoạt của cư dân trong các khu đô thị bao gém nội thành, ngoại thành của thành pho; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị tran, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyên phê duyệt. Quadeer định nghĩa: “Dat đô thị là đất được sử dụng hoặc được kì vọng sẽ được sứ dụng cho các hoạt động của đô thị. Có nghĩa một mảnh đất trải qua một loạt các quy trình gồm: chuyên đổi mục dich SD, xây dựng CSHT,.
nhằm phục vụ cho DT ở thời điểm hiện tại và trong tương lai được xếp vào đất DT. Từ đó khi chúng ta thấy rằng đất ĐT được cân nhắc dựa trên các khía cạnh sau: Về pháp luật: “Đất đô thị là đất do các cơ quan nhà nước có thâm quyền đồng ý phê duyệt dé dành cho mục đích xây dựng đô thi. Về đo lường - tiêu chuẩn — chất lượng: “Đất đô thị là đất có mạng lưới công trình hạ tầng kĩ thuật bao gồm điện, đường, trường, trạm. Về mục dich SD: “Dat đô thị được sử dụng dé đầu tư xây dựng nhà ở, các trụ sở cơ quan hành chính, cơ sở hạ tầng công cộng hay công tác quốc phòng — an ninh và các mục tiêu khác.
Phân loại đất đô thị. Căn cứ vào Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT về việc “Hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất” đã nêu ra khái niệm của 6 loại đất phô biến dựa trên khía cạnh mục đích SD đất chủ yêu như sau: “Dat ở DT: đây là loại đất thuộc nhóm phi NN chủ yếu được SD cho việc đầu tư xây dựng nhà ở cho cư dân DT. Đắt SD vào mục đích công cộng: là loại đất được tận dụng để xây dựng các công trình phục vụ cho nhu cầu chung của toàn xã hội ví dụ như: sân vận động, đường xá, công viên, thuỷ lợi, nghĩa địa, công trình cung cấp năng lượng,. Dat nông — lâm nghiệp: là đất được xác định chủ yếu dé sản xuất các sản pham NN, lâm nghiệp đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu của cư dân DT; dat SD dé tiến hành các thí nghiệm, nghiên cứu về nông — lâm nghiệp, nuôi trồng các loại thuỷ sản, làm muối hay bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng.
Đắt quốc phòng - an ninh: là diện tích đất đai do Bộ Quốc phòng quản lí SD cho nhiều mục đích quốc phòng như: công trình phòng thủ quốc gia, nơi đóng quân, kho quân trang, căn cứ quân sự. Ngoài ra đất quốc phòng cũng có thé được SD cho mục đích kinh tế của các đơn v1i doanh nghiệp quân đội miễn sao không làm tén hại hay thay đổi mục đích SD đất đã xác định cũng như không gây ảnh hưởng tiêu cực đến các nhiệm vụ quân sự. Đắt chuyên dùng: đây cũng là loại đất năm trong nhóm phi NN với nhiều mục đích SD khác nhau như xây dựng các cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế. Tuy nhiên đất chuyên dùng khi chưa thực hiện chuyển đổi mục đích SD theo đúng quy định hiện hành của pháp luật, loại đất này không được coi như một loại hình bất động sản hoặc SD vào việc kinh doanh, buôn bán.
Đất chưa đưa vào SD: được hiểu là loại đất không đủ điều kiện hay chưa được cấp phép SD cho bat kì một mục dich cụ thé nào như sản xuất hay xây dựng nơi ở và Nhà nước chưa giao cho cá nhân, hộ gia đình, tổ chức nào SD. UBND các cấp phải căn cứ vào cơ sở bắt buộc là kế hoạch, quy hoạch SD đất dé làm cơ sở từ đó có những hành động khai hoang, phục hoá, cải tạo đưa loại đất này vào SD. Vai trò của đất đô thị. Khoản 1, Điều 54, Hiến pháp năm 2013 đã xác định: “Trước hết phải khăng định, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tài sản quan trọng của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện cần cho mọi hoạt động sản xuất và đời song.
Ở nước ta, khi còn nhiều người sống nhờ vào nông nghiệp, thì đất đai càng trở thành nguồn lực quan trọng. Xuất phát từ chính quan điểm đó chúng ta có thể khái quát được một số chức năng phổ biến của đất đai trên các lĩnh vực chủ yếu như sau: a. Vai trò đất đai đối với xã hội. Các-mác đã từng khang định: “Các hoạt động sản xuất đều có đất đai làm then chét.
Trong suốt quá trình đi lên của xã hội loài người, không thé phủ nhận một điều 4 rằng ca ba khía cạnh của sản xuất bao gồm: sản xuất vật chat, sản xuất tinh thần cũng như tái sản xuất sức lao động của xã hội tạo nên mọi nền văn minh cũng như những thành tựu về văn hoá — vật chất đều có sự đóng góp không hề nhỏ của việc SD đất một cách hiệu quả. Chúng ta có thể thấy răng đất đai hiện diện trong mọi hoạt động kinh tế, đời sống của loài người do đó là địa điểm mà con người sinh sống và xây dựng nên nền văn minh của riêng mình, là nền móng cho việc tạo ra các công trình phục vụ cho đời sống loài người. Từ khi chỉ là một loài vượn cô sống bang hoạt động hai lượm rồi săn bắt đến bây giờ loài người đã có thé tự sản xuất ra được một loạt các sản phẩm khác nhau dé phục vụ cho đời sống của riêng mình hay trao đối, tất cả quá trình ấy đều diễn ra trên mặt đất. Cũng có thé nói rang nêu không có sự tồn tại của đất đai thì sẽ không có sự xuất hiện của nhân loại.
Đất đai cùng với các nhân tố tự nhiên khác như: thuỷ văn, độ ầm, lượng mưa, địa hình,. tạo nên đặc trưng của từng vùng lãnh thổ. Do đó mỗi quốc gia, vùng miền lại có một dấu ấn riêng về văn hoá riêng hay những lợi thế so sánh với những khu vực khác. Vì vậy, đất đai đóng vai trò là một cơ sở quan trọng trong việc hình thành sự đa dạng văn hoá của các vùng miền, dân tộc trên toàn thé giới.
Vai trò đất đai đối với kinh tế. Theo trường phái kinh tế chính trị: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện dé sinh ton, là điều kiện không thể thiếu được dé sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ ban trong nông, lâm nghiép. Trong NN, đất cung cấp dưỡng chất cần thiết, nước, mang một lượng lớn vi sinh vật đa dạng và cung cấp nơi neo đậu cho bộ rễ sinh trưởng và lớn lên một cách tốt nhất. Quá trình sản xuất nông — lâm nghiệp luôn liên quan đến độ màu mỡ, phì nhiêu của dat.
Có nhiều quan điểm cho rằng hiện tại loài người đã có thé sản xuất NN thông qua hình thức thuỷ canh, cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết bằng các chế phẩm hoá học nhưng phương pháp ấy chưa thé đại diện cho một phương thức sản xuất với quy mô đủ lớn dé cung cấp cho nhu cầu xã hội. Từ đó ta thấy rằng đất là nền tảng của một chuỗi cung ứng lương thực. Bên cạnh đó đất đai không những là nền tảng để hình thành, xây dựng lên các nhà máy sản xuất công nghiệp mà còn trực tiếp đóng vai trò như nguyên liệu đầu vào cho việc sản xuất xi mang, gốm sứ. Thậm chí đất hiếm hiện nay còn được ví như một tài nguyên vô giá trong ngành sản xuất công nghiệp chất bán dẫn.
Khai thác, SD hiệu quả đất DT chắc chắn góp phan làm tăng nguồn thu cho ngân sách của DT thông qua những loại lệ phi, phí và thuế từ đất. Với khuôn khổ của luật pháp Việt Nam hiện nay, đất đai còn được nhiều người đánh giá là một khoản đầu tư vừa mang tính an toàn vừa đem lại lợi nhuận tương đối 5 cao hơn so với một loạt các phương thức đầu tư khác như vàng hay “phong vũ biểu” của nền kinh tế - chứng khoán. Vô hình trung, đất đai được xem như một thước đo cho sự giàu có, một loại bảo hiểm cho cuộc sông hay một món tài sản thừa kế được chuyền giao cho thế hệ tiếp theo giúp họ có các điều kiện dé tiếp cận các cơ hội phát trién. Vai trò đất đai đối với chính trị.
Tư tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ quyền quốc gia toàn vẹn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. VỊ trí địa lí Việt Nam năm trên trục nút giao ngã tư đường hàng không, hàng hải quốc tế, với các tuyến đường sắt, đường bộ xuyên Á rất thuận lợi trong việc giao lưu với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Do vậy bảo vệ, giữ gìn từng tắc đất của quê hương là nhiệm vụ của mỗi người Việt Nam. Một dat nước độc lập được biểu hiện bằng việc đã xác định một cách rõ ràng quy mô, ranh giới và diện tích đất đai từ đó xác lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thô của quốc gia.
Tất cả người dân Việt Nam đang được hưởng cuộc sống yên bình đó là thành quả của biết bao nhiêu xương máu của ông cha đã ngã xuống, và từng ngày qua đi các chiến sĩ biên giới vẫn ngày ngày bảo vệ từng cột mốc biên giới thiêng liêng của Tổ quốc. Họ bám trụ nơi biên cương không phải cho tư lợi của riêng mình mà đó là danh dự của toàn dân tộc, lợi ích của thế hệ tương lai. Dựa trên tất cả các cơ sở đó đường lối ngoại giao của Việt Nam luôn dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thé. Dat đai luôn giữ một vai trò không thé thay đổi trong nền chính tri của mỗi quốc gia, thê hiện sự tự tôn của quốc gia đó.
Vai trò đất đai đối với môi trường sống. Đất là một yếu tố không thé thay thé trong hệ sinh thái của trái đất.