CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOAT ĐỘNG MỞ RỘNG HUY ĐỘNG TIÊN GỬI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động huy động tiền gửi của các NHTM 1. Khái niệm về tiền gửi Tiền gửi là một nguồn vốn có tính ồn định, chiếm 1 tỷ trọng lớn trong nguồn vốn của các NHTM. Tiền gửi chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và 70% tổng vốn nợ.
Nguồn gốc là tiền của các cá nhân hoặc tổ chức gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi hoặc dé thanh toán. Tiền gửi là một nguồn vốn có giá rẻ, không tốn quá nhiều chi phí để huy động. Bởi phần lớn mỗi người dân và các tổ chức kinh tế cũng như các doanh nghiệp đều có những khoản tiền nhàn rỗi, chưa cần dùng đến mà dé dành cho tương lai hay đang chờ cơ hội đầu tư. Những khoản tiền này có nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau, tùy hoàn cảnh mỗi cá nhân, mỗi tô chức.
Song nó lại là nguồn én dinh, liên tục với lượng dân cư và doanh nghiệp lớn, không ngừng tang trưởng chính là một tiềm năng to lớn, là động lực khiến các ngân hàng cạnh tranh gay gắt để có được sự tin tưởng của khách hang sửi tiền. Các NHTM luôn cố gắng duy trì những khách cũ, và cô gắng thu hút thật nhiều khách hang mới nhằm tăng quy mô vốn cho ngân hàng. Việc mở rộng huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư là rất đúng dan và cần thiết. Vậy có thé hiểu huy động vốn từ tiền gửi chính là hoạt động khuyến khích , cô gang thu hút nguồn tài chính nhàn rỗi từ dân cư và doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế của các NHTM bằng nhiều hình thức khác nhau, voi nghĩa vụ bảo dam hoàn trả cho khách hàng theo đúng kỳ hạn, đủ cả vốn và tiền lãi.
Các hình thức huy động tiền gửi tại các NHTM Các NHTM có hai hình thức huy động chủ yếu: thứ nhất là huy động từ tiền gửi của các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp. thứ 2 là huy động thông qua các loại giấy tờ có giá. Huy động tiền gửi trên thị trường cá nhân, các tổ chức và doanh nghiệp Các hình thức huy động tiền gửi của NHTM trên thị trường bán lẻ khá đa dạng, dựa trên các tiêu chí và cách thức khác nhau. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu trên thế giới và một số nhà nghiên cứu trong nước như Joel (2014), Rose (2013), Case (2015), Phan Thị Thu Hà (2013), Hồ Diệu (2010) đều dựa vào đối tượng gửi tiền dé xây dựng nên cách phân chia huy động tiền gửi tiết kiệmnhư vậy, hình thức huy động nay sẽ tập trung vào: cá nhân, doanh nghiệp và các TCTD khác: Huy động tiền gửi tiết kiệm từ dân cư: môi cá nhân đều có 1 khoản tiền nhàn rỗi chưa cần dùng tới nhất định (tiền tiết kiệm).
Mục đích chính của họ khi gửi tiền vào ngân hàng là dé bảo toàn số tiền, va sinh lời. bằng cách phát triển nhiều mục kỳ hạn tiên gửi khác nhau, ngân hàng mở cho khách hàng nhiều tài khoản tiền gửi khác nhau (sô tiết kiệm). Hiện nay các NHTM ra rức mở rộng mạng lưới khách hàng. Đề hấp dẫn khách hàng thay đổi thoái quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà, thì các NHTM đều cô găng khuyến khích, đưa ra các hình thức huy động với các kỳ hạn đa dạng và lãi suất cực kỳ cạnh tranh (tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm linh hoạt, tiết kiệm hưu trí tiết kiệm băng vàng, ngoại tệ.
Tuy rằng số tiết kiệm này không thể dùng dé thanh toán như tài khoản thanh toán nhưng nó được coi là một loại TSDB, có thể dùng để cam có dé vay vốn với điều kiện được sự cho phép của ngân hàng. Ngân hàng có nghĩa vụ bảo đảm hoàn trả cho khách hàng bất cứ lúc nào khách hàng có nhu cầu rút tiền, đủ cả vốn và tiền lãi. Tất nhiên, các khoản tiết kiệm này chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất thỏa thuận ban đầu. Huy động tiền gửi giao dịch.
Mục đích của khách hàng khi mở loại tài khoản nay là dé nhờ ngân hang giữ hộ nhằm mục đích thanh toán. Ngân hàng giữ vai trò thanh toán hộ. Khách hàng chỉ có quyên thanh toán trong phạm vi sô dư. Các nhu cầu chỉ tra hợp pháp của khách hang đều được ngân hàng thực hiện.
Các khoản thu bằng tiền của khách hàng đều có thể được nhập vào tài khoản tiền gửi thanh toán theo yêu cầu. Ngân hàng cung cấp nhiều tiện ích gắn với tiền gửi thanh toán như thu hộ, chi hộ, phát séc, chuyền tiền, phát hành thẻ,. Nhìn chung, lãi suất của khoản tiền này rất thấp (hoặc bằng không), thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp. Ngân hàng thu lợi từ phí thanh toán, hoặc phí rút tiền, phí mở thẻ.
Hơn nữa, ngân hàng còn sử dụng số dư tiền gui thanh toán của khách hàng cho nhu cầu dự trữ của mình, và sử dụng một phần số dư tiền gửi thanh toán dé cho vay (tạo nên doanh thu tit lãi). Dé huy động được nhiều tiền gửi thanh toán, NHTM áp dụng nhiều biện pháp. Quan trọng nhất là khả năng thanh toán nhanh, chính xác, an toàn, và rẻ. Mạng lưới rộng cả trong nước và quốc tế, công nghệ hiện đại, kỹ năng của nhân viên là những đòi hỏi nham đáp ứng yêu cầu thanh toán của khách hàng.
Đó cùng là chi phí lớn mà ngân hàng phải bo ra khi cung cấp dịch vụ thanh toán. Bên cạnh đó là khả năng cho vay, cung câp ngoại tệ bởi vì khách hàng (đặc biệt là doanh nghiệp) khi mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng đều hướng tới nhu cầu vay mượn, thanh toán quốc tế. N gân hàng kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với tài khoản cho vay (thấu chi - chi trội trên số dư có của tài khoản tiền gửi thanh toán) đối với một số khách hàng. Các tổ chức và doanh nghiệp có nhiều khoản thu bằng tiền tuy nhiên chưa chi trả ngay mà sau | thời gian xác định nào đó mới cân dùng đến.
Các doanh nghiệp và tô chức này có thể sử dụng tài khoản thanh toán để gửi tiền, tuy thuận tiện nhưng lãi suất lại thấp. Mà mục đích hoạt động của các doanh nghiệp đa số đều là vì lợi nhuận, nhờ có hiéu biết này mà các NHTM đã đưa ra hình thức tiền gửi có kì hạn dé thu hút tiền gửi từ các tổ chức, doanh nghiệp. Tuy không thuận lợi cho việc chỉ tiêu bằng hình thức tiền gửi thanh toán, nhưng tiền gửi có kì hạn lại có mức lãi suất hấp dẫn hơn nhiều, tùy theo độ dai của từng ky hạn. Dé tối ưu hóa quyên lợi của khách hàng, Ngân hàng đang cung cấp dịch vụ kết nối 2 loại tài khoản này cho khách hàng, khách hàng có thể dễ dàng chuyền tiền từ tiết kiệm về thanh toán và ngược lại.
Tuy nhiên, nêu rút tiền trước hạn khách hàng sẽ bị phạt lãi, Huy động vốn thông qua phát hành chứng chỉ tiễn gửi và trái phiếu Ngoài hình thức huy động trên, các NHTM còn có thé phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu trên thị trường vốn. Các NHTM huy động nguồn vốn này nhằm mục đích đáp ứng yêu câu vay trung và dài hạn của khách hàng, bởi vì trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi thường có kỳ hạn khá dài, đồng thời chỉ phải trả một mức lãi suất vừa phải. Tuy nhiên, khả năng bán được các loại trái phiếu này còn phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm hoặc xêp hạng tín dụng của NHTM trên thị trường, đồng thời lãi suất cũng cao hơn nhận tiền gửi nên các NHTM thường cân nhắc khi sử dụng công cụ này đề huy động vốn. Mở rộng huy động tiền gửi tại các NHTM 1.
Quan điểm và nội dung của mở rộng huy động von đối với NHTM Quan điểm Joel (2014) cho rằng “mở rộng huy động vốn là việc có thêm được lượng một lượng vốn dựa trên tổng số tiền gửi của các đối tượng trong nền kinh tế - tuy nhiên phải đảm bảo mức độ cạnh tranh về kỳ hạn, lãi suất; và phải được đặt trong mỗi quan hệ với các hoạt động sử dụng vốn đầu ra”. Chúng ta có thé hiểu nôm na là khi NHTM mở rộng huy động tiền gửi thì ngoài tổng SỐ tiên sẽ huy động từ dân cư, các tổ chức và doanh nghiệp, thì sẽ phải chú ý đến lãi suất của các khoản tiền gửi huy động -lãi suất phải vừa đủ dé cạnh tranh với các TCTD khác lại vừa phải đảm bảo khả năng sinh lời của NHTM, không được quá cao. Bên cạnh đó, khi mở rộng huy động thì NHTM cũng phải chú ý đến việc sử dụng vốn — dé đảm bảo không bị thiếu vốn hoặc thừa vốn. Quan niệm này đặc biệt phù hợp nếu nhìn nhận trên quan điểm.
của rủi ro thanh khoảntrong các NHTM bởi nó đề cập đến vấn đề vốn đầu vào và vốn đầu ra — tức là nguồn vôn huy động được phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, đồng thời cũng một phần đề cập đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Phan Thị Thu Hà (2016) cho rang: Quá trình mở rộng huy động tiền gửi chính là một phần của mở rộng quy mô huy động vốn của NHTM để đảm bảo cho NHTM luôn có đủ nguồn vốn dé duy trì và phát triển các hoạt động kinh doanh với chi phí hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất — đồng thời phải đảm bảo được tính chất an toàn cho ngân hàng. Quan điểm này tổng hợp được quan điểm của Joel (2014) và Rose (2015) vì đã nêu được tính an toàn và sinh lợi của quản trị huy động von. Chi phí hợp lý được hiểu là khi so sánh với hoạt động sử dụng vôn sẽ có được lợi nhuận nhất định theo yêu cầu dé ra, còn an toàn được hiểu là đảm bao khả năng thanh toán và yêu cầu của NHNN.
Do vậy, tác giả sẽ sử dụng quan điểm này dé nghiên cứu cho các phan tiếp theo. Nội dung Với quan điểm về mở rộng huy động vốn như trên, thì nội dung của hoạt động này được nêu ra như sau — theo Phan Thị Thu Hà (2016) Thứ nhất, tạo lập và gia tăng nguồn vốn huy động được. Casu (2015) cho rằng tiền gửi là nguồn đầu Vào VÔ cùng, quan trọng đối với hệ thống ngân hàng — và cũng chiếm khoảng 70% tông nguôn vôn, nên mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất trong mở rộng quy mô huy động vốn nhằm gia tăng tổng số tiền mà NHTM huy động được thì phải tạo được sự ôn định của các loại hình huy động được — theo thời gian, theo loại hình tiền tệ.