CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về người cao tuổi 1. Khái niệm và tình hình người cao tuổi hiện nay 1.
Khái niệm người cao tuổi Theo quy ước của Liên hợp quốc những người từ 60 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính được gọi là người già và chia hai nhóm tuổi: 60-74 là NCT và trên 75 tuổi là người già. Theo phân loại của WHO, độ tuổi 60 - 74 là NCT, độ tuổi 75 - 90 là người già và trên 90 là người sống lâu [24]. Người cao tuổi không phải là đối tượng thuần nhất. Trong dân số già thường người ta chia làm 3 nhóm: Nhóm còn năng động từ 60 đến 70 tuổi (nhóm sơ lão), nhóm trung bình từ 70 đến 80 tuổi (nhóm trung lão), nhóm rất già từ 80 tuổi trở lên (nhóm đại lão).
Pháp lệnh NCT do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành tháng 4/2000 quy định những người từ đủ 60 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính là người già. Nhưng gần đây, ở Việt Nam đang sử dụng cụm từ NCT thay cho “người già” do tuổi thọ con người ngày càng tăng, vì nhiều người từ 60 tuổi trở lên vẫn còn hoạt động hăng say, cống hiến cho xã hội, cho đất nước nên cụm từ “người cao tuổi” phù hợp hơn [47]. Trong khuôn khổ luận án, khái niệm NCT được tuân theo quy ước của Liên hợp quốc và WHO: là những người trong độ tuổi từ 60 - 74 tuổi. Tình hình người cao tuổi trên thế giới Những thập kỷ gần đây, tuổi thọ trung bình của con người trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển đã gia tăng một cách đáng kể.
Song song với việc tăng tuổi thọ trung bình, số lượng NCT ngày càng nhiều. Năm 1950 số NCT trên toàn thế giới là gần 200 triệu, đến năm 1975 đã là 350 triệu, năm 2000 là 590 triệu và ước tính đến năm 2025 sẽ là 1121 triệu. Như vậy trong vòng 75 năm (1950 – 2025) số NCT trên thế giới tăng 423%, đó là sự tăng trưởng rất nhanh [69],[60], [40]. Theo WHO, khoảng 2 tỷ người sẽ đạt đến tuổi 60 hoặc già hơn vào năm 2050, gấp 3 lần so với năm 2000.
Xu hướng thay đổi nhân khẩu học này có tác động to lớn đối với kinh tế toàn cầu, đồng thời cũng là mối đe dọa nguồn nhân lực ở nhiều nước trên thế giới. Trong vòng 50 năm, sự gia tăng số lượng NCT diễn ra ở các nước phát triển là 89%, ở các nước đang phát triển là 347%. Như vậy trái với quan niệm thông thường là NCT chỉ tăng nhanh ở các nước phát triển còn những nước đang phát luan an 9 triển, vốn có nền kinh tế thấp, số lượng NCT tăng không đáng kể. Trong tương lai không xa (2025) số NCT ở khu vực các nước đang phát triển sẽ chiếm 3/4 tổng số NCT trên thế giới.
Hiện tượng tăng dân số già không phải của riêng một nước nào, mà là của chung toàn thế giới. Ý thức được tầm quan trọng đó, Liên hiệp quốc đã triệu tập Đại hội Thế giới về tuổi già, lần đầu tiên vào năm 1982 tại Vienne. Đại hội lịch sử này đã “trịnh trọng tuyên bố, phải đảm bảo đầy đủ, không có một hạn chế nào đối với NCT, mọi quyền cơ bản và không thay đổi, đã được ghi trong Tuyên ngôn về quyền con người”. Đại hội thế giới về NCT đã nhất trí đưa ra một chương trình hành động (được gọi là chương trình Vienne về tuổi già) có giá trị trong 50 năm (đến năm 2032) và tập trung vào 6 điểm: một là sức khỏe và ăn uống; hai là nhà ở và môi trường; ba là gia đình; bốn là bảo trợ xã hội; năm là việc làm; sáu là giáo dục huấn luyện [60].
Liên hiệp quốc cũng đã quyết định lấy ngày 1 tháng 10 hàng năm là ngày Quốc tế NCT và lấy năm 1999 là năm Quốc tế NCT [24]. Tình hình người cao tuổi tại Việt Nam Ở nước ta, theo điều tra dân số 1989, số NCT là 4.490, chiếm 7,19% dân số. Như vậy, so với năm 1979 (số NCT là 3.110, chiếm 7,06% dân số) đã tăng gần 1 triệu người [68]. Cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy: Dân số nước ta đến 01/04/2009 là 85.573, trong đó trên 7,72 triệu người trên 60 tuổi (chiếm 9% dân số), tỷ lệ này ở nông thôn là 9,1% và ở thành phố là 8,6%.
Những vùng có tỷ lệ NCT cao hơn cả là Đồng bằng sông Hồng (11,2%), Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung (10,3%). Những vùng có tỷ lệ NCT thấp là Tây Nguyên (5,6%), Đông Nam Bộ (6,8%), Trung du và miền núi phía Bắc (8,1%), Đồng bằng sông Cửu Long (8,3%). Tuổi thọ trung bình ở nước ta diễn biến theo xu hướng tăng dần: trước năm 1945 là 32 tuổi, năm 1979 là 66 tuổi và năm 1989 là 68 tuổi, đến 2018 là 73,5 tuổi. Báo cáo “Già hóa dân số và NCT ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách” do Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) khởi xướng trong khuôn khổ chương trình Kế hoạch Một Liên hợp quốc nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin và phân tích kỹ lưỡng, toàn diện về các vấn đề có liên quan đến già hóa dân số cũng như những gợi ý chính sách giải quyết vấn đề già hóa dân số trong những năm tới.
Báo cáo đã chỉ ra một số thách thức về sức khỏe của NCT Việt Nam như sau: luan an 10 Tình trạng sức khỏe của NCT phụ thuộc rất nhiều vào tuổi tác, trong đó tuổi càng tăng thì tỷ lệ có sức khỏe yếu càng cao, số bệnh mắc phải càng lớn và thời gian nằm bệnh càng dài. Mô hình và nguyên nhân bệnh tật của NCT đang thay đổi nhanh chóng khiến cho gánh nặng “bệnh tật kép” ngày càng rõ ràng. Mô hình bệnh tật của NCT chuyển từ bệnh lây nhiễm sang bệnh mãn tính, không lây nhiễm trở thành nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tàn phế cho NCT đang là thách thức lớn cho Việt Nam. Mức độ hiểu biết về chăm sóc sức khỏe và tự chăm sóc sức khỏe của NCT còn thấp.
Khả năng và tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm NCT hết sức khác nhau. Nhóm NCT ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo (chiếm tỷ lệ cao) lại rất khó khăn khi tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Báo cáo cũng chỉ rõ các nguyên nhân của tình trạng này. Mặc dù tỷ lệ NCT ngày càng tăng nhưng mạng lưới y tế phục vụ NCT ở Việt Nam còn rất yếu [49].
Với sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của Chương trình Hợp tác Y tế Việt Nam – Thụy Điển, trong năm 2005-2006, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế đã tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác CỘNG SỰSK cho NCT cũng như tìm hiểu việc triển khai thực hiện chính sách chăm sóc NCT tại một số tỉnh. Nghiên cứu được tiến hành tại 7 tỉnh thuộc 7 vùng trong cả nước. Điều tra hộ gia đình được thực hiện ở 1.132 hộ gia đình có NCT. Kết quả của nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ mắc bệnh tật của nhóm NCT cao hơn các nhóm tuổi khác.
Phụ nữ cao tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nam giới. Hơn một nửa (53,5%) số NCT trên địa bàn nghiên cứu tự đánh giá có tình trạng sức khoẻ kém và rất kém. Mô hình mắc bệnh tật cấp tính ở NCT chủ yếu là các bệnh thông thường như đau đầu, chóng mặt, ho, đau khớp, đau lưng và tăng huyết áp. Khoảng 70% số NCT được điều tra tại 3 tỉnh cho biết có mắc triệu chứng/ bệnh mạn tính.
Triệu chứng/bệnh mạn tính thường gặp ở NCT là đau khớp (42%), tăng huyết áp (28%), đau lưng (21%) và bệnh về mắt (25%). Quan điểm của Đảng và Nhà nước về người cao tuổi Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc chăm sóc NCT. Hiến pháp từ 1946 cho đến nay đều ghi rõ Nhà nước và xã hội có trách nhiệm chăm sóc NCT. Năm 1989, Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ sức khỏe, trong đó có hẳn một chương (chương 7) đề cập đến việc bảo vệ sức khỏe NCT.
luan an 11 Hưởng ứng lời kêu gọi của Liên hợp quốc năm 1982, nước ta có tổ chức Năm quốc tế NCT. Ngành y tế từ rất sớm (1970) đã có hẳn một chương trình nghiên cứu y học tuổi già; năm 1980 thành lập Đơn vị nghiên cứu y học tuổi già và năm 1983 thành lập Viện bảo vệ sức khỏe NCT [60], [24]. Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ra Pháp lệnh về NCT vào ngày 28/4/2000, trong đó, ở chương 2 đã quy định rõ những vấn đề liên quan đến Phụng dưỡng và chăm sóc NCT[47]. Luật NCT đã được thông qua từ ngày 23 tháng 11 năm 2009 [45].
Nhiều tổ chức của NCT đã thành lập tại khắp mọi miền của đất nước và cũng có những hoạt động đa dạng phong phú và hiệu quả, như Hội Trọng thọ hoặc Quỹ thọ, Câu lạc bộ hưu trí, Hội phụ lão… Trong nhiều tổ chức quần chúng khác, NCT là những thành viên tích cực, như Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời, Câu lạc bộ dưỡng sinh, Câu lạc bộ châm cứu, Hội làm vườn, Hội cựu chiến binh, Hội chữ thập đỏ. Các tổ chức nói trên tạo điều kiện cho NCT có nơi sinh hoạt, có dịp đóng góp cho xã hội, đất nước. Trong công cuộc bảo vệ sức khỏe NCT cần tính đến điều kiện thuận lợi này, vốn đã sẵn có, để đẩy mạnh mọi hoạt động lên một mức cao hơn, có sự hướng dẫn chu đáo, dựa trên những hiểu biết sinh – y học hiện đại và truyền thống tốt đẹp sẵn có của NCT Việt Nam [47], [13]. Điều 15, mục 1, chương 2 của Luật TDTT năm 2006 đã quy định về vấn đề TDTT cho NCT, trong đó, quy định rõ về việc “Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích tổ chức, cá nhân chăm lo việc tập luyện, biểu diễn và thi đấu thể dục, thể thao cho người cao tuổi”.
Điều 16 của Luật này cũng đã quy định về việc thể dục phòng bệnh, chữa bệnh như sau: “Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập cơ sở y tế, cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng sử dụng phương pháp chữa bệnh bằng thể dục, thể thao” [48]. Quá trình lão hóa ở người cao tuổi 1. Đặc điểm chung của quá trình lão hóa Già là hiện tượng tự nhiên không thể tránh được của tất cả mọi người, nhưng quá trình già ở mỗi người rất khác nhau. Có người già nhanh, “lão suy” sớm, có người còn hoạt bát nhanh nhẹn, khỏe mạnh cả khi tuổi đã khá cao.