Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1. Khái niệm chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1. Khái niệm vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Để xây dựng khái niệm chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe, trước hết phải làm sáng tỏ thế nào là vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác? Liên quan đến vấn đề này cần phải làm rõ thế nào là VAHS.
Đối với khái niệm VAHS, theo Từ điển Luật học thì “Vụ án hình sự là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định trong BLHS đã được CQĐT ra lệnh khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở BLTTHS”. Trong lĩnh vực khoa học pháp lý nước ta đến nay cũng có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm VAHS, tuy nhiên, tác giả thống nhất với quan điểm cho rằng: “Vụ án hình sự là vụ án phát sinh khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm và CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS, Tòa án (thông qua Hội đồng xét xử) khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp được quy định trong BLTTHS để xác định và xử lý người phạm tội” [27, tr. Vậy vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là gì? Muốn làm sáng tỏ nội dung này, trước hết cần nhận thức về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Cố ý gây thương tích là hành vi cố ý xâm phạm thân thể, gây hại đến sức khỏe người khác, được xác định bằng thương tích cụ thể.
Điều 134 BLHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường 5 hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; đ) Có tổ chức; e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;…”[18]. Để nhận thức sâu sắc về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, cần làm sáng tỏ các yếu tố cấu thành tội phạm của tội này, theo đó: - Về khách thể của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được LHS bảo vệ bị tội phạm xâm pham tới. Đối với tội CYGTT thì khách thể trực tiếp là quyền nhân thân với nội dung là quyền được bảo hộ, tôn trọng về sức khoẻ của con người. - Về mặt khách quan của tội phạm này là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trái pháp luật.
Hành vi này được thể hiện dưới dạng hành động, tác động vào cơ thể con người với các hành vi cụ thể như đâm, chém, đấm, đá… gây thương tích hoặc tổn hại cho một bộ phận hoặc toàn bộ cơ thể con người. Hậu quả trong CTTP cơ bản của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc, thương tích hoặc tổn thương khác cho sức khỏe phải từ 11% trở lên hoặc thương tật dưới 11% nhưng phải thuộc các tình tiết định khung cơ bản quy định tại điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS. Hậu quả do hành vi cố ý gây thương tích gây ra cũng có thể dẫn đến chết người. Cần chú ý phân biệt hậu quả chết người trong tội này và tội giết người quy định tại Điều 123 BLHS.Ngoài ra còn có các dấu hiệu khác như công cụ, phương tiện…, tuy các dấu hiệu này không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP nhưng có ý nghĩa chứng minh để xác định đúng tội danh và quyết định hình phạt.
- Về mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Động cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. - Về chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 1, 6 2 và từ đủ 14 tuổi trở lên đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 3, 4, 5 Điều 134 BLHS. Trên thực tế, tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có những biểu hiện gần giống với tội giết người.
Do đó, cần có sự phân biệt giữa hai tội này, nhất là ở hai trường hợp sau: Trường hợptội cố ý gây thương tích cho người khác nhưng dẫn đến hậu quả chết người với tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt (hậu quả chết người chưa xảy ra nằm ngoài ý muốn của người phạm tội). Điểm giống nhau của trường hợp này là hậu quả cùng gây thương tích cho người khác. Nhưng điểm khác nhau cơ bản làtrong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác người phạm tội không mong muốn hậu quả chết người xảy ra mà chỉ mong muốn hoặc bỏ mặc cho hậu quả gây thương tích xảy ra. Còn trường hợp phạm tội giết người c(ở giai đoạn chưa đạt) thì người phạm tội mong muốn hậu quả chết người xảy ra, hậu quả không xảy ra là ngoài ý muốn của họ.
Trường hợp tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại của người khác dẫn đến chết người với tội giết người ở giai đoạn hoàn thành (hậu quả chết người đã xảy ra). Mặc dù trường hợp này cả hai tội đều có điểm giống nhau là cùng gây ra hậu quả chết người nhưng cần phân biệt: Đối với hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, người phạm tội không mong muốn làm chết người và cũng không có ý thức bỏ mặc hậu quả chết người xảy ra mà chỉ mong muốn hậu quả thương tích xảy ra. Còn đối với hành vi trong tội giết người, người phạm tội biết rõ hành vi của mình là tước đoạt mạng sống của người khác một cách trái pháp luật và mong muôn đạt được hậu quả chết người. Để xác định ý thức chủ quan của người phạm tội, có thể xác định từ động cơ, mục đích của người phạm tội và có thể qua các tình tiết biểu hiện ra bên ngoài như công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, vị trí tác động,… Như vậy, tội này bao gồm hai hành vi.
Hành vi: "Gây thương tích cho người khác" là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể con người làm cho con người có những thương tích nhất định (để lại dấu vết) và hành vi "Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác" là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể con người làm cho sức khỏe của nạn nhân yếu đi, không còn nguyên vẹn như 7 trước mặc dù không để lại dấu vết trên thân thể họ, hoặc làm mất chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân, làm giảm chức năng hoạt động của bộ phận đó. Đây là tội ghép gồm hai tội quy định trong cùng một điều luật: Tội cố ý gây thương tích cho người khác và tội gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Có thể hiểu, gây thương tích là gây ra, để lại các dấu vết trên thân thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, còn gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là làm mất mát, hư hại một phần, không còn nguyên vẹn như trước nữa đối với sức khỏe con người.Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tuy là hai tội, song hành vi khách quan và hậu quả của nó rất giống nhau, có nhiều điểm tương đồng nhau. Do vậy, các nhà làm luật đã xếp trong cùng một điều luật.
Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì phải xác định được tội danh mà người đó đã phạm phải, được quy định trong BLHS. Căn cứ để xác định tội danh phải dựa vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm pháp lý cơ bản đặc trưng nhất của một tội cụ thể. Khoa học hình sự gọi những dấu hiệu đặc trưng đó là các yếu tố cấu thành tội phạm. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người kháclà hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm hại sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác.
Vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là vụ việc phát sinh khi có các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm xâm hại sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác. Khái niệm chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác Để xây dựng khái niệm chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì cần phải làm rõ khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự và khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Trước hết, nói đến chứng minh là nói đến “dùng lý lẽ, suy luận, bằng cứ để chỉ rõ điều gì đó là đúng hay không đúng” [40, tr.