Tổng quan luận án

Công trình thuộc thể loại Luận án Tiến sĩ Luật học với đề tài "Chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam hiện nay", do nghiên cứu sinh Cao Mạnh Linh thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Tư pháp) năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Hồi. Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử về nhà nước và pháp luật, mã số 9.06.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản nêu rõ Ủy ban Tư pháp là cơ quan được thành lập và đi vào hoạt động từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (năm 2007). Bên cạnh chức năng thẩm tra và kiến nghị, giám sát là chức năng quan trọng và chủ yếu của Ủy ban Tư pháp nhằm kiểm soát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động tư pháp và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động giám sát của Ủy ban Tư pháp bộc lộ nhiều hạn chế: phạm vi giám sát rộng so với năng lực thực tiễn của bộ máy; nội dung giám sát chủ yếu tập trung vào việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp mà chưa chú trọng đúng mức đến việc giám sát ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hiệu quả giám sát công tác phòng, chống tham nhũng và giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa cao; phương thức giám sát chưa đồng bộ, nặng về thu thập thông tin qua báo cáo mà thiếu chiều sâu; các kiến nghị sau giám sát còn chung chung, thiếu chỉ tiêu và địa chỉ cụ thể; công tác theo dõi việc thực hiện kiến nghị chưa thường xuyên. Về mặt lý luận, các vấn đề về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp chưa được nghiên cứu toàn diện và có hệ thống, nhận thức về vai trò thực tiễn còn chưa đầy đủ, dẫn đến lúng túng trong triển khai.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam, từ đó đề xuất và luận chứng những giải pháp hoàn thiện chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua bốn nội dung:

  1. Làm sáng tỏ lý luận về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam: sự cần thiết, yêu cầu khách quan phải thành lập Ủy ban Tư pháp và giao Ủy ban thực hiện chức năng giám sát; khái niệm, đặc điểm, nội dung và phương thức thực hiện chức năng giám sát; vai trò giám sát; mối quan hệ và sự khác biệt giữa giám sát của Ủy ban Tư pháp với một số cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước khác; các yếu tố tác động đến chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp.
  2. Đánh giá thực trạng chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam kể từ khi thành lập cho đến nay, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
  3. Đề xuất các quan điểm, giải pháp phù hợp để hoàn thiện chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
  4. Tìm hiểu về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp (hoặc Ủy ban tương ứng) của Quốc hội/Nghị viện một số nước để rút ra kinh nghiệm có thể tham khảo cho Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam trong bối cảnh đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đẩy mạnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp kể từ khi Ủy ban được thành lập và đi vào hoạt động (nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII năm 2007) cho đến thời điểm nghiên cứu (năm 2020).
  • Phạm vi không gian và nội dung so sánh: Nghiên cứu hoạt động giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam; đồng thời tìm hiểu, so sánh chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp (hoặc cơ quan tương ứng) của Quốc hội/Nghị viện một số quốc gia trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành điểm luận và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung:

Nhóm công trình Tác giả, công trình tiêu biểu và năm công bố Nội dung chính được điểm lại
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ - Trần Thị Quốc Khánh (chủ nhiệm, 2013)
- Trần Hồng Nguyên (chủ nhiệm, 2012)
- Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.
- Vai trò của cơ quan dân cử đối với tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp; giới hạn giám sát không làm ảnh hưởng tính độc lập của Tòa án.
Sách chuyên khảo và kỷ yếu hội thảo trong nước - Trương Thị Hồng Hà (2009, 2015)
- Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên, 2003)
- Viện Chính sách công và Pháp luật (2014)
- Nguyễn Sĩ Dũng (2004, 2016, 2017)
- Nguyễn Đăng Dung (2007)
- Phan Trung Lý (2010)
- Đinh Xuân Thảo, Lê Như Tiến (đồng chủ biên, 2010)
- Đinh Xuân Thảo (chủ biên, 2011)
- Văn phòng Quốc hội – Viện Chính sách công và Pháp luật (2015)
- Khái niệm, đặc điểm, cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của Quốc hội.
- Phân định chức năng giám sát giữa Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các Ủy ban.
- Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước đối với hoạt động tư pháp và cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính.
- Giới hạn giám sát tư pháp và yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ - Phạm Văn Hùng (Luận án Tiến sĩ, 2004)
- Tường Duy Kiên (Luận án Tiến sĩ, 2003)
- Trần Tuyết Mai (Luận án Tiến sĩ, 2009)
- Trần Văn Thuân (Luận án Tiến sĩ, 2015)
- Nguyễn Xuân Thủy (Luận án Tiến sĩ, 2019)
- Trịnh Thị Hải Yến (Luận văn Thạc sĩ, 2011)
- Cao Huyền Phương (Luận văn Thạc sĩ, 2015)
- Đỗ Thị Như Hảo (2011), Đoàn Thu Huyền (2010), Nguyễn Thị Phương Thảo (2004)
- Quyền giám sát của Quốc hội đối với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.
- Đảm bảo quyền con người trong hoạt động của Quốc hội.
- Hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.
- Tổ chức, hoạt động và chức năng thẩm tra của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.
Bài viết tạp chí chuyên ngành - Nguyễn Đình Quyền (2011)
- Trần Ngọc Đường (2008)
- Hoàng Nam Hải (2015)
- Lê Thị Nga (2008, 2012)
- Dương Ngọc Ngưu (2010)
- Tô Văn Châu (2016)
- Bùi Xuân Đức (2018)
- Trần Nho Thìn (2018)
- Trần Đức Hiếu, Bùi Tiến Đạt (2018)
- Thẩm quyền và phạm vi giám sát của Ủy ban Tư pháp đối với hoạt động tư pháp và giải quyết khiếu nại, tố cáo tư pháp.
- Cơ chế và phạm vi giám sát việc phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng.
- Thực trạng giám sát tố tụng hình sự và bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án.
Tài liệu và nghiên cứu quốc tế - Randall Peerenboom (2011)
- Hironori Yamamoto (IPU, 2007)
- Riccardo Pelizzo, Rick Stapenhurst (World Bank, 2004)
- Roger H. Davidson, Walter J. Oleszek (2002)
- James Fallows, David R. Zwich (2001)
- Cristina Leston-Bandeiras, Lord Philip Norton (2005)
- Francois DuLuc (2011)
- Đậu Công Hiệp (2018)
- Báo cáo nghiên cứu của Thư viện Quốc hội (2015)
- Nghiên cứu kinh nghiệm của Quốc hội Trung Quốc về giám sát các vụ kiện riêng lẻ.
- So sánh công cụ giám sát nghị viện tại 88 quốc gia (IPU) và nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới.
- Giám sát của Nghị viện đối với nhánh quyền lực tư pháp tại Vương quốc Anh, Cộng hòa Pháp và Hoa Kỳ.
- Báo cáo mô hình hoạt động giám sát của Ủy ban Tư pháp tại 12 quốc gia.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định và lựa chọn giải quyết: Các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào chức năng giám sát của Quốc hội nói chung hoặc nghiên cứu về Ủy ban Pháp luật trước thời điểm thành lập Ủy ban Tư pháp. Một số công trình nghiên cứu về Ủy ban Tư pháp nhưng chỉ đánh giá một nhiệm kỳ (nhiệm kỳ khóa XII), tiếp cận đơn lẻ một vài phương thức giám sát hoặc được thực hiện trước khi ban hành Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp, đặc biệt là giới hạn giám sát đối với hoạt động xét xử của Tòa án, việc giám sát các vụ án cụ thể, sự phân định với các cơ chế kiểm soát quyền lực khác và giải pháp hoàn thiện thể chế đồng bộ trong giai đoạn hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; tiếp thu các tư tưởng chính trị - pháp lý tiến bộ gồm tư tưởng phân chia và kiểm soát quyền lực nhà nước, tư tưởng nhà nước pháp quyền, tư tưởng chủ quyền nhân dân và tư tưởng nhân quyền. Nghiên cứu quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu lực hoạt động của Quốc hội, cải cách tư pháp và phòng, chống tham nhũng.

Về cơ sở pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào quy định của Hiến pháp năm 2013 (Điều 69 quy định Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định vấn đề quan trọng và giám sát tối cao; Điều 94 về cơ quan hành pháp; khoản 1 Điều 102 quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp; khoản 2 Điều 103 quy định nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật); Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 (khoản 3 Điều 3 quy định nguyên tắc giám sát không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng chịu sự giám sát); cùng các luật tố tụng và Nghị quyết số 96/2015/QH13 của Quốc hội về phòng, chống oan, sai.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm 8 phương pháp:

  1. Phương pháp thống kê: Sử dụng để nhận thức và đánh giá các số liệu, thông tin thực tiễn thu thập được về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp, làm cơ sở dự báo tình hình.
  2. Phương pháp tổng hợp: Xâu chuỗi, hệ thống hóa các dữ liệu, thông tin thực tiễn để tìm ra mối liên hệ thống nhất giữa các nội dung nghiên cứu.
  3. Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các khía cạnh lý luận và thực tiễn về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp.
  4. Phương pháp lịch sử: Xem xét quá trình hình thành, phát triển các quy định pháp luật và hoạt động giám sát của Ủy ban Tư pháp qua các giai đoạn tổ chức Quốc hội.
  5. Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định pháp luật và thực tiễn giám sát qua các thời kỳ, đồng thời so sánh chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp Việt Nam với các cơ quan tương đương tại một số quốc gia.
  6. Phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn: Đánh giá nội dung nghiên cứu trong sự gắn kết giữa quy định pháp lý và kết quả thực hiện thực tế.
  7. Phương pháp điều tra khảo sát: Luận án sử dụng phiếu khảo sát (Phụ lục 7) lấy ý kiến của đại biểu Quốc hội, cán bộ, công chức tại các cơ quan tư pháp và cơ quan hữu quan, kết quả thống kê tại Phụ lục 9 ghi nhận: 44,3% số người được hỏi đánh giá hoạt động giám sát của Ủy ban Tư pháp thời gian qua ở "mức bình thường", 4,3% đánh giá ở mức "chưa tốt".
  8. Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Sử dụng phiếu phỏng vấn (Phụ lục 8) để phỏng vấn sâu 01 nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội (TS. Trần Văn Thuân) và 01 lãnh đạo Vụ Tư pháp thuộc Văn phòng Quốc hội.

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm các văn kiện của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết nhiệm kỳ và báo cáo giám sát chuyên đề của Ủy ban Tư pháp (như Báo cáo số 4745/BC-UBTP12 ngày 15/3/2011), tài liệu kỷ yếu hội thảo, dữ liệu điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên gia.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tình hình nghiên cứu các vấn đề của đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chức năng giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Ủy ban Tư pháp; phân tích các công trình về quan điểm, giải pháp hoàn thiện chức năng giám sát. Trên cơ sở nhận xét khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác định giả thuyết khoa học và xây dựng hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 3 nhóm vấn đề: lý luận về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp trong cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực; thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện chức năng giám sát cùng nguyên nhân; hệ thống quan điểm, giải pháp hoàn thiện chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp hiện nay.

Chương 2: Lý luận về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam

Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Khái quát chức năng giám sát của Quốc hội và các Ủy ban: Phân tích cơ sở hiến định về kiểm soát quyền lực nhà nước, tính chất của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân nên chức năng giám sát bắt nguồn từ chức năng đại diện. Các Ủy ban của Quốc hội có 3 chức năng chính gồm thẩm tra, giám sát và kiến nghị; trong đó giám sát của Ủy ban vừa mang tính trợ giúp cho giám sát tối cao của Quốc hội, vừa có tính độc lập tương đối theo luật định.
  • Sự cần thiết thành lập Ủy ban Tư pháp từ Quốc hội khóa XII nhằm chuyên môn hóa hoạt động giám sát đối với lĩnh vực tư pháp và công tác phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng.
  • Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Ủy ban Tư pháp: Phân định ranh giới giữa giám sát của Ủy ban Tư pháp với kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước; kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân; và giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân (trình bày tại Phụ lục 2).
  • Nội dung, phương thức và bộ máy thực hiện: Nội dung gồm giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án); giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng; giám sát ban hành văn bản quy phạm pháp luật; giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các phương thức gồm thẩm tra báo cáo, giám sát chuyên đề, tổ chức phiên giải trình, xem xét văn bản quy phạm pháp luật và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, án cụ thể.
  • Vấn đề giới hạn giám sát đối với Tòa án nhân dân và giám sát vụ án cụ thể: Tác giả phân tích nguyên tắc hiến định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 (Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật). Giới hạn đặt ra là Quốc hội và Ủy ban Tư pháp không làm thay chức năng xét xử, không can thiệp hoặc định hướng xử lý khi vụ án đang diễn ra, không tự hủy bỏ hay sửa đổi bản án mà chỉ đưa ra yêu cầu, kiến nghị để Tòa án có thẩm quyền xem xét theo luật tố tụng. Dẫn chứng Hộp 2.1 ghi nhận ý kiến của TS. Trần Văn Thuân: giám sát vụ án cụ thể là mối quan hệ hai chiều nhằm bảo vệ tính thượng tôn pháp luật và bảo vệ quyền con người, các cơ quan tư pháp có quyền bảo vệ tính đúng đắn trong hoạt động của mình nếu giám sát không phù hợp. Luận án cũng dẫn kinh nghiệm giám sát vụ án oan sai năm 2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (vụ án NVC) và kinh nghiệm giám sát án riêng lẻ tại Trung Quốc để khẳng định tính cần thiết của việc giám sát án cụ thể trong giai đoạn hiện nay nhằm bảo vệ công lý khi tình trạng oan, sai chưa chấm dứt.
  • Các yếu tố tác động đến chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp: Sự lãnh đạo của Đảng; năng lực tổ chức bộ máy và đại biểu; chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp và cơ quan phòng, chống tham nhũng; hệ thống pháp luật thực định; môi trường chính trị - xã hội.

Chương 3: Thực trạng chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam

Chương 3 đánh giá thực trạng trên ba khía cạnh:

  • Thực trạng pháp luật về chức năng giám sát: Khẳng định sự hoàn thiện từng bước của khung pháp lý qua Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014. Tồn tại hạn chế gồm: quy định về trình tự, thủ tục phiên giải trình còn sơ lược; thiếu cơ chế và chế tài bắt buộc thực hiện các kiến nghị giám sát; thẩm quyền và cơ chế giám sát đối với Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao còn khoảng trống.
  • Thực trạng thực hiện chức năng giám sát:
    • Kết quả đạt được: Hoạt động thẩm tra báo cáo hàng năm của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chính phủ về phòng chống tội phạm, thi hành án, phòng chống tham nhũng ngày càng thực chất; tổ chức các đợt giám sát chuyên đề có tác động xã hội lớn (về oan, sai và bồi thường oan sai theo Nghị quyết số 96/2015/QH13, về chấp hành pháp luật tố tụng hình sự, thi hành án hình sự); tiếp nhận và xử lý hàng ngàn đơn thư khiếu nại, tố cáo, chuyển và đôn đốc giải quyết nhiều vụ án có dấu hiệu oan, sai nghiêm trọng.
    • Tồn tại, hạn chế: Hoạt động giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật chưa được thực hiện thường xuyên; giám sát công tác phòng, chống tham nhũng còn mang tính hình thức, chủ yếu dựa trên báo cáo hành chính (Hộp 3.1); việc tổ chức phiên giải trình còn ít; hoạt động thẩm tra còn phụ thuộc nhiều vào số liệu do các cơ quan chịu sự giám sát cung cấp; kiến nghị giám sát có trường hợp còn chung chung; thiếu cơ chế theo dõi thường xuyên kết quả xử lý sau kiến nghị.
    • Nguyên nhân: Nhận thức lý luận chưa thống nhất; áp lực công việc quá lớn trong khi bộ máy Ủy ban Tư pháp hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm là chủ yếu; biên chế cơ quan tham mưu, giúp việc trực tiếp (Vụ Tư pháp thuộc Văn phòng Quốc hội) còn hạn chế.
  • Thực trạng các yếu tố tác động: Phân tích sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động tư pháp; cơ cấu thành viên Ủy ban Tư pháp qua các nhiệm kỳ (Phụ lục 6); chất lượng hoạt động của cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án, thi hành án; thực trạng hệ thống pháp luật hình sự, tố tụng và tác động từ áp lực dư luận, báo chí.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam hiện nay

Chương 4 đề xuất hai nhóm quan điểm chỉ đạo và ba nhóm giải pháp:

  • Quan điểm chỉ đạo: (1) Đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; (2) Đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp và công tác phòng, chống tham nhũng.
  • Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chức năng giám sát: Hoàn thiện quy định về thẩm quyền, tiêu chí giám sát các vụ án cụ thể; hoàn thiện cơ chế giám sát đối với Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Hộp 4.1); làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm giám sát công tác phòng, chống tham nhũng giữa các cơ quan của Quốc hội, nghiên cứu việc hình thành Ủy ban chuyên trách về phòng, chống tham nhũng khi có điều kiện (Hộp 4.2); luật hóa quy trình tổ chức phiên giải trình và bổ sung chế tài pháp lý bắt buộc thực hiện kết luận, kiến nghị sau giám sát.
  • Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chức năng giám sát: Đổi mới phương thức thẩm tra báo cáo, tăng cường tự thu thập thông tin độc lập; đẩy mạnh giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật; thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu theo dõi việc thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát; tăng cường tổ chức phiên giải trình; tăng cường phối hợp với Kiểm toán nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan tư pháp.
  • Giải pháp hoàn thiện các yếu tố tác động: Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao năng lực bộ máy của Ủy ban Tư pháp (tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách, thu hút chuyên gia pháp lý giỏi, kiện toàn Vụ Tư pháp); nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng; hoàn thiện các đạo luật về tổ chức bộ máy tư pháp, pháp luật tố tụng; mở rộng dân chủ và phát huy vai trò của báo chí trong việc cung cấp thông tin giám sát.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn của luận án gồm:

Thứ nhất, luận án khái quát lại một số vấn đề lý luận về chức năng giám sát của Quốc hội dưới góc độ là phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước; phân tích sâu sắc các giới hạn hiến định trong giám sát của Quốc hội đối với Tòa án nhân dân (cơ quan thực hiện quyền tư pháp) nhằm giải quyết mối quan hệ giữa yêu cầu bảo đảm tính độc lập của hoạt động xét xử với yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Đồng thời, luận án làm rõ lý luận về chức năng giám sát của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong mối quan hệ với chức năng giám sát tối cao của Quốc hội.

Thứ hai, luận án nghiên cứu, đánh giá toàn diện lịch sử hình thành và sự cần thiết khách quan của việc thành lập Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam; luận giải các vấn đề về khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, phương thức và bộ máy thực hiện chức năng giám sát của Ủy ban; phân tích rõ các điểm khác biệt giữa giám sát của Ủy ban Tư pháp với thanh tra hành chính, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân và giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân; làm sáng tỏ các yếu tố tác động đến hiệu quả giám sát.

Thứ ba, luận án đánh giá có hệ thống thực trạng chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp từ khi thành lập (khóa XII) đến năm 2020 trên cả phương diện quy định pháp luật, thực tiễn thực hiện và các yếu tố tác động; chỉ rõ các mặt hạn chế (như kết quả khảo sát 44,3% đánh giá mức bình thường, 4,3% đánh giá chưa tốt) và nguyên nhân; xây dựng hệ thống quan điểm, giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế pháp luật đến đổi mới tổ chức thực hiện và nâng cao năng lực bộ máy của Ủy ban Tư pháp.

Về kiến nghị và giải pháp đề xuất, công trình kiến nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, hoàn thiện các quy định về giám sát bản án cụ thể, chế tài xử lý việc không thực hiện kiến nghị giám sát; đề xuất tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách cho Ủy ban Tư pháp và tăng cường nguồn lực chuyên môn cho Vụ Tư pháp thuộc Văn phòng Quốc hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án bị giới hạn bởi phạm vi thời gian nghiên cứu từ khi Ủy ban Tư pháp thành lập năm 2007 đến năm 2020, do đó chưa phản ánh những thay đổi trong thực tiễn giám sát của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV. Về nội dung, nghiên cứu chỉ tập trung chuyên sâu vào chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp trong hai lĩnh vực chính là hoạt động tư pháp và công tác phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng, không đi sâu nghiên cứu độc lập về chức năng thẩm tra dự án luật hay chức năng kiến nghị của Ủy ban. Việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế mới dừng lại ở mức độ so sánh, tham chiếu mô hình nghị viện một số nước điển hình (Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Trung Quốc) mà chưa đánh giá sâu toàn diện hệ thống tư pháp của từng nước.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra từ đề tài bao gồm:

  • Tiếp tục nghiên cứu cơ chế pháp lý quy định chế tài cụ thể và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chịu sự giám sát khi không thực hiện các kết luận, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp.
  • Nghiên cứu mô hình tổ chức và thẩm quyền của cơ quan chuyên trách giám sát công tác phòng, chống tham nhũng của Quốc hội trong tương lai (theo định hướng thảo luận tại Hộp 4.2 của luận án).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Luật học, đặc biệt là chuyên ngành Lý luận và Lịch sử về nhà nước và pháp luật, Luật Hiến pháp và Luật Tố tụng: Luận án cung cấp hệ thống lý luận chuyên sâu về kiểm soát quyền lực nhà nước đối với quyền tư pháp, giới hạn giám sát và mối quan hệ giữa giám sát lập pháp với nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án (nội dung Chương 2, Phụ lục 1, Phụ lục 2).
  • Đối với đại biểu Quốc hội, thành viên Ủy ban Tư pháp, đại biểu Hội đồng nhân dân, cán bộ tham mưu của Văn phòng Quốc hội, Ban Dân nguyện và Viện Nghiên cứu lập pháp: Luận án cung cấp các phân tích thực trạng, quy trình, kỹ năng áp dụng các phương thức giám sát (thẩm tra báo cáo, giám sát chuyên đề, tổ chức giải trình, giám sát vụ án cụ thể) và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát (nội dung Chương 3, Chương 4).
  • Đối với cán bộ lãnh đạo và công chức tại các cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án): Tài liệu giúp nhận thức rõ hơn về thẩm quyền, ranh giới pháp lý của hoạt động giám sát, từ đó nâng cao trách nhiệm giải trình và phối hợp hiệu quả trong hoạt động tư pháp.

Câu hỏi thường gặp

Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam được thành lập vào thời điểm nào và tiếp nhận nhiệm vụ từ cơ quan nào trước đó?
Ủy ban Tư pháp được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (năm 2007). Trước thời điểm này, các nhiệm vụ giám sát hoạt động tư pháp do Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đảm nhiệm; việc thành lập Ủy ban Tư pháp xuất phát từ yêu cầu chuyên môn hóa sâu về hoạt động tư pháp và công tác phòng, chống tham nhũng.

Quan điểm của tác giả về việc Quốc hội và Ủy ban Tư pháp có nên giám sát các vụ án cụ thể hay không?
Tác giả khẳng định việc giám sát các vụ án cụ thể trong giai đoạn hiện nay là cần thiết và phù hợp với vai trò của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh thực tiễn vẫn còn xảy ra oan, sai. Tuy nhiên, giám sát phải tuân thủ giới hạn: không can thiệp khi vụ án đang xét xử, không làm thay Tòa án, không tự ý sửa đổi hay hủy bỏ bản án mà chỉ đưa ra yêu cầu, kiến nghị để cấp Tòa án có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo đúng trình tự tố tụng.

Kết quả điều tra khảo sát trong luận án phản ánh đánh giá của các đối tượng khảo sát về hoạt động giám sát của Ủy ban Tư pháp như thế nào?
Theo số liệu khảo sát tại Phụ lục 9 của luận án, khi được hỏi về cảm nhận chung đối với hoạt động giám sát của Ủy ban Tư pháp, có 44,3% số người được hỏi (gồm đại biểu Quốc hội, cán bộ, công chức tại các cơ quan tư pháp và cơ quan hữu quan) đánh giá hoạt động giám sát ở mức "bình thường" và 4,3% đánh giá ở mức "chưa tốt".

Những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào đã được tác giả sử dụng trong luận án?
Luận án sử dụng 8 phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi (Phụ lục 7) và phương pháp phỏng vấn chuyên gia sâu (Phụ lục 8) đối với 01 nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội và 01 lãnh đạo Vụ Tư pháp thuộc Văn phòng Quốc hội.

Ủy ban Tư pháp thực hiện những nội dung giám sát chủ yếu nào theo quy định pháp luật và luận án?
Nội dung giám sát của Ủy ban Tư pháp bao gồm: giám sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động của các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án); giám sát công tác phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng; giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực phụ trách; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong hoạt động tư pháp.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Cao Mạnh Linh là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Việt Nam kể từ khi thành lập khóa XII (năm 2007) đến năm 2020. Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về kiểm soát quyền lực đối với hoạt động tư pháp, phân tích nguyên tắc bảo đảm tính độc lập của Tòa án trong mối tương quan với giới hạn giám sát lập pháp và việc xem xét các vụ án cụ thể. Trên cơ sở phân tích toàn diện thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai với các dữ liệu khảo sát khách quan, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện thể chế pháp lý, đổi mới phương thức giám sát và nâng cao năng lực bộ máy của Ủy ban Tư pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.