Chương 1. Tổng quan về Bộ luật Hồng Đức Chương 2. Nội dung cơ bản, giá trị kế thừa của Bộ luật Hồng Đức về quan chế, bảo vệ quyền lợi của các nhóm xã hội yếu thế Chương 3. Nội dung cơ bản, giá trị kế thừa của Bộ luật Hồng Đức về dân sự, hôn nhân gia đình; thủ tục tố tụng và kỹ thuật pháp lý Phần Kết luận Tài liệu tham khảo 7 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC 1.
Sự hình thành của Bộ luật Hồng Đức Vua Lê Thánh Tông sinh năm 1442. Ông được tôn lên làm vua vào năm 1460, trong hoàn cảnh đặc biệt éo le, đầy biến cố nguy hiểm. Sau đại thắng quân xâm lược nhà Minh, tưởng chừng như cả nước được sống dài lâu trong cảnh thái bình yên vui. Người người đều nghĩ rằng kẻ thù hung bạo nhất, đông đúc nhất đã bị quân dân Đại Việt đánh bại thì từ nay về sau chẳng có thế lực xâm lược nào dám nhòm ngó đến xứ này nữa.
Nhưng trớ trêu thay, tình hình xảy ra không như mọi người đương thời suy nghĩ và mong đợi. Nguy cơ bên ngoài tạm yên, mối họa bên trong bắt đầu âm ỷ. Lê Lợi - vị vua đầu tiên trị vì được 6 năm (1428 – 1433). Vào những năm cuối đời, Lê Lợi mắc tính đa nghi, hiếu sát.
Những đám mây đen xuất hiện trên bầu trời Việt. Lê Lợi chết, Lê Thái Tông (1434 – 1442), con thứ của Lê Lợi lên nối ngôi lúc 11 tuổi. Vị vua với tuổi đời còn quá non nớt như vậy, đã không nhìn thấy được nguy cơ đối với xã tắc do vua cha gây ra. Vào tuổi lớn hơn, ông còn làm cho đất nước lún sâu vào những cuộc rối ren.
Lê Thái Tông là người say đắm tửu sắc, ưa xu nịnh. Lê Thái Tông chết lúc 20 tuổi. Khi còn tại vị, ông đã phế bỏ chính cung là Dương Thị Bí, lập thứ phi Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu, phế con trưởng Nghi Dân, lập con thứ Bang Cơ làm hoàng tử nối ngôi. Chính điều này đã gây ra họa tranh giành ngôi báu dẫn đến việc anh giết em để chiếm ngai vàng xảy ra 16 năm sau khi Lê Thái Tông chết.
Ở chốn quan trường, trong kinh ngoài đạo, trăm quan chia bè kết cánh bức hại lẫn nhau một cách triền miên. Nguyễn Trãi, đại công thần triều Lê cùng vợ là bà Nguyễn Thị Lộ bị vu oan là đầu độc vua. Nguyễn Trãi bị nạn tru di tam tộc. Án oan Lệ Chi viên còn lưu mãi vết nhơ của triều hậu Lê dưới thời Lê Thái Tông.
Chốn nông thôn sản xuất bị đình đốn, người tha phương cầu thực nhan nhản khắp ngõ ngách thị thành, trộm cướp nổi lên như ong. Lê Thái Tông chết, con thứ là Bang Cơ, tức vua Lê Nhân Tông (1443 – 1459) được đặt lên ngai vàng khi mới hai tuổi. Mọi công việc triều chính đều do Nguyễn Thị Anh - mẹ Bang Cơ và phe lũ nắm giữ. Nội tình đất nước đã nát nay lại càng nát hơn.
Bài Trùng hưng ký năm Quang Thuận viết: “ Nhân Tông lên hai tuổi 8 z đã sớm nối ngôi vua. Thái hậu Nguyễn Thị Anh là gà mái gáy sớm. Đô đốc Lê Khuyển như thỏ khôn giữ mệnh. Vua đàn bà mắt quáng buông rèm ngồi chốn thâm khuê.
Bọ họ ngoài long tham, khoác lác, hoành hành khắp cõi. Kẻ thân yêu nắm quyền vị. Nạn hối lộ được công khai. Việc văn giáo lặng lẽ như băng hàn, người hiền từ phải bó cánh.
Bậc túc nho như Lý Tử Tấn, Trịnh Thuấn Du thì đẩy vào chỗ nhàn, phường dốt đặc như đàn ong nổi dậy, như chó chuột nhe nanh. Tể thần như Lê Sủng, Lê Sát thì ngu si, không phân biệt được sáu loại súc vật. Chưởng binh Lê Diên, Lê Luyện thì mù tịt, chẳng sao hiểu được bốn mùa một năm. Bậc lương thần như Trịnh Khả, Khắc Phục thì kèn cựa mà giết đi.
Người tài sĩ như Nguyễn Mộng Tuân thì đẩy vào vòng tai họa. Oan uổng không chỉ kêu xin, mọi việc thảy đều đổ nát. Văn giai như Công Soạn tuổi gần 80, tể thần như Lê Ê không biết một chữ. Bọn trẻ không biết nghĩ, làm bậy, ngông cuồng, người già chẳng chết đi, trở thành mối họa.
Bán quan, mua kiện, ưa giàu, ghét nghèo. Hiền tài là rường cột của triều đình mà sạch không như quét đất. Văn chương là khí vận của nước nhà mà im ắng tựa cỏ khô. Bọn xiểm nịnh được tin dùng, kẻ đao búa được tiến cử…”[24].
Vào tháng 12 năm 1459, Nghi Dân, con cả của vua Lê Thái Tông bị cha truất quyền kế vị, nửa đêm đã cùng thân tín đột nhập hoàng thành giết thái hậu, giết vua em rồi tự xưng làm vua. Nghi Dân tính tình tàn bạo, hay vô cớ chém giết. Trăm quan oán hận, lòng dân ly tán, trộm cướp, giặc giã hoành hành khắp nơi. Nội tình bất ổn, giặc ngoài kéo đến.
Bốn phía Đông, Bắc, Tây, Nam đều có kẻ thù. Chúng hè nhau vào cướp phá, giết hại dân lành như đi vào chỗ không người. Chúng xâm lấn đất đai bờ cõi, gặm dần từng miếng, lấn dần từng bước, cắt thịt, xẻo da non sông Đại Việt. Tháng 6 năm 1460, xảy ra đảo chính cung đình một lần nữa.
Một số đại thần cựu trào như Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm cùng nhiều văn thần, võ tướng khác huy động lực lượng bắt giết Nghi Dân cùng đồng bọn. Giết Nghi Dân xong, các quan đem xa giá đón Cung vương Khắc Xương, con trai thứ ba của Lê Thái Tông lên làm vua. Cung vương Khắc Xương cả sợ, cả lo, một mực từ chối ngồi vào ngai vàng. Các quan đem xa giá đi đón Gia vương Tư Thành, con trai thứ tư của Lê Thái Tông lên làm vua, tức vua Lê Thánh Tông sau này.
9 z Khác với vua cha lên ngôi lúc 11 tuổi, vua anh lên ngôi lúc 02 tuổi, Lê Thánh Tông được tôn lên ngôi vua lúc tròn 18 tuổi. Gia vương Tư Thành sinh ra không phải để làm vua. Mẹ ông chỉ là một Tiệp dư, gọi nôm là nàng hầu. Ông lại là con trai thứ tư của vua Lê Thái Tông.
Do lo sợ bị mưu hại vì nạn tranh giành ngôi báu nơi cung đình nên mẹ con Ông phải trốn khỏi kinh thành và mai danh ẩn tích, tự giấu kín mình trong trốn dân dã. Trong mọi cử chỉ, lời nói, mẹ con Ông phải hết sức đề phòng, không hề để lộ cho xung quanh biết lai lịch, nguồn gốc xuất thân, nói gì đến việc nối ngôi vua. Nhưng tư chất thông minh, ham hiểu biết là trời phú cho Ông. Thiếu thời, Ông đã là người ham học và chịu khó quan sát.
Sử thần Vũ Quỳnh viết: “ Vua tự trời cao siêu, anh minh quyết đoán, có hùng tài, đại lược, võ giỏi, văn hay mà cái học của thánh hiền lại đặc biệt siêng năng, tay không lúc nào rời quyển sách. Các tập kinh sử, các sách lý toán, những việc thánh thần không có gì không bao quát tinh thông…”[24]. Việc Ông được tôn lên ngôi vua hoàn toàn là điều bất ngờ. Động cơ ham học từ bé của Ông không phải là sự chuẩn bị cho việc làm vua về sau của Ông.
Nhưng do run rủi của số phận, việc học hành cũng như cuộc sống gần gũi, hoà mình với dân thường trong những năm lánh mình nơi thôn giã là sự chuẩn bị một cách tốt nhất cho 38 năm làm vua về sau của Ông. Khi được tôn lên ngôi vua vào năm 18 tuổi, tuổi trưởng thành của con người, ở Ông đã hình thành những nhân sinh quan tiến bộ rút ra từ kho tri thức của nhân loại được chứa đựng trong các sách vở mà Ông đã học, đã đọc và những điều Ông đã trực tiếp quan sát, chứng kiến trong cuộc sống thực tiễn hàng ngày. Đây chính là những nhân tố đem lại lòng tự tin, sự chủ động, tính kiên quyết và kiên trì - những phẩm chất nổi trội trong hành động hàng ngày của Ông. Khi được đặt vào ngai vàng, Ông đã có đủ trí khôn, đủ bản lĩnh để nhận định, đánh giá tình hình đất nước đang lâm vào tình trạng nước sôi, lửa bỏng.
Ngay từ những ngày đầu lên ngôi, Ông đã hành động theo những chính kiến và quan điểm riêng, Ông không để cho những người đã tôn Ông lên làm vua cậy công để lấn át, thao túng quyền hành. Ngày 8 tháng 6 năm 1460, vừa làm lễ lên ngôi xong, Lê Thánh Tông làm lễ phát tang cho vua Lê Nhân Tông và Thái hậu bị Nghi Dân giết vào tháng 12 năm trước. Một tháng sau khi lên ngôi, tức vào tháng 7 năm đó, Vua lập tức ra Sắc chỉ 10 z cho các vệ quân thuộc năm đạo, các phủ, trấn, các Tổng quản, Tổng chi rằng: “Có quốc gia là có võ bị. Nay phải theo trận đồ trong nước đã ban trong địa phận của vệ mình, phải chỉnh đốn đội ngũ, dạy cho quân lính phép đi, đứng, đâm, đánh, hiểu được hiệu lệnh tiếng chuông, tiếng trống khiến cho binh lính tập quen cung tên, không quên võ bị…” Lịch sử các triều đại phong kiến cho thấy những người sống sót sau những cuộc đảo chính cung đình, do lo sợ bị trả thù nên trước hết họ tìm mọi cách tận diệt vây cánh của kẻ thù địch.
Các cuộc trả thù như vậy thường tắm máu. Lê Thánh Tông có nhiều lý do để trả thù riêng cho mẹ con Ông nhưng Ông đã không hành động như thế. Điều trước tiên là Ông lo nghĩ đến quyền lợi chung của dân tộc, của đất nước. Với Lê Thánh Tông, trước mắt Ông có ba mối họa đang đe dọa sự tồn vong của nước nhà: - Ngoại xâm đã đến tận cửa; - Bộ máy trị vì của đất nước bất lực, tê liệt.
Quan lại tham nhũng. Dân chúng lầm than, đời sông của nhân dân rơi xuống tận đáy khổ cực; - Kỷ cương phép nước rối bời [21,24]. Trong suốt 38 năm trị vì, Vua Lê Thánh Tông luôn canh cánh trong lòng về ba mối họa thường trực đó của đất nước. Tự thân Ông ngày đêm suy nghĩ và thúc dục đội ngũ quan lại tận tâm, tận lực tìm ra kế sách để giải trừ ba mối họa đó.
Ông đã tạo ra một khí thế hừng hực, trên là vua, dưới là quan lại, nhân dân bá tính, mọi người luôn chăm lo lao động, tìm ra các đường lối, chủ trương trị nước, an dân có hiệu quả nhất. Chấn chỉnh võ bị quốc gia là điều cần phải làm ngay trong lúc giặc ngoài đang thập thò ở cửa. Chủ trương của Ông không mang tính cảm tính, trực giác.