Toàn cầu hóa và tự do hóa dòng vốn: Ảnh hưởng đến đầu tư tại Việt Nam (ĐH Kinh tế Quốc Dân)

Tài liệu nghiên cứu Chủ đề toàn cầu hóa và tự do hóa dòng chảy vốn ảnh hưởng như thế nào đến đầu tư tại 1 quốc gia liên, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Kinh tế học cho người ra quyết định đầu tư

Tác giả

Phạm Minh Trang

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài tập nhóm

2024

49
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TOÀN CẦU HÓA VÀ TỰ DO HÓA DÒNG CHẢY VỐN

1.1. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.1. Một số đặc trưng của toàn cầu hóa

1.1.2. Bản chất kinh tế của toàn cầu hóa

1.1.3. Tác động của toàn cầu hóa đến hoạt động đầu tư

1.2. Hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.1. Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.2. Các loại hình hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.3. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế

1.3. Tự do hóa dòng chảy vốn - kết quả của xu hướng toàn cầu hóa

1.4. Tác động của tự do hóa dòng chảy vốn đến hoạt động đầu tư của các quốc gia

1.4.1. Tác động tích cực

1.4.2. Tác động tiêu cực

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA VÀ TỰ DO HÓA DÒNG CHẢY VỐN ĐẾN ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM

2.1. Tác động chung của xu thế toàn cầu hóa tới Việt Nam

2.2. Sự cần thiết, nguyên tắc và cơ sở trong tham gia quan hệ đầu tư quốc tế của Việt Nam

2.2.1. Sự cần thiết trong tham gia quan hệ đầu tư

2.2.2. Cơ sở trong tham gia quan hệ đầu tư

2.3. Một số chính sách của nhà nước

2.3.1. Chính sách của Việt Nam với dòng chảy vốn

2.3.2. Các chính sách đối ngoại của Việt Nam

2.3.3. Việt Nam trong cuộc chiến dành FDI và các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài

2.4. Thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ tại Việt Nam trong giai đoạn 2013-2023

2.4.1. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2013-2023

2.4.1.1. Tổng quan tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
2.4.1.2. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư
2.4.1.3. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài về đối tác đầu tư

2.4.2. Tình hình chuyển giao công nghệ giai đoạn 2013-2023

2.4.2.1. Thực trạng chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
2.4.2.2. Một số tồn tại trong quá trình chuyển giao công nghệ tại Việt Nam

2.5. Kết quả và hiệu quả đầu tư tại Việt Nam

2.5.1. Kết quả đầu tư

2.5.2. Hiệu quả đầu tư

2.6. Những tác động của hoạt động đầu tư nước ngoài và tự do hóa dòng chảy vốn tại Việt Nam

2.6.1. Tác động của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

2.6.1.1. Những tác động tích cực của hoạt động đầu tư nước ngoài
2.6.1.2. Những tác động tiêu cực của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

2.6.2. Tác động của tự do hóa dòng chảy vốn tại Việt Nam

2.6.2.1. Những tác động tích cực của tự do hóa dòng chảy vốn
2.6.2.2. Những tác động tiêu cực của tự do hóa dòng chảy vốn

3. CHƯƠNG 3: BÀI HỌC RÚT RA ĐỂ NÂNG CAO KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM

3.1. Bài học kinh nghiệm

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Toàn cầu hóa và Đầu tư Tổng quan ảnh hưởng đến Việt Nam

Toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu, hội nhập kinh tế quốc tế là một phần không thể thiếu của quá trình này. Theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa là sự liên kết gia tăng giữa các quốc gia, dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Theo nghĩa hẹp, đó là sự hình thành thị trường toàn cầu, làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Bài viết này phân tích ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến kinh tế Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư. Việt Nam, với vị trí chiến lược và nền kinh tế đang phát triển, đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra những thách thức nhất định. Tự do hóa dòng chảy vốn, một kết quả của toàn cầu hóa, tạo điều kiện cho vốn đầu tư di chuyển dễ dàng hơn qua biên giới, mang lại cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro. Việc quản lý hiệu quả các dòng vốn này là chìa khóa để đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững. Mối quan tâm về toàn cầu hóa đã tăng lên do tình hình thương mại quốc tế, nghèo đói, bất bình đẳng, khác biệt văn hóa, ảnh hưởng môi trường, an ninh… Theo cách này, các hiệu ứng toàn cầu hóa đã trở thành vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau, dẫn đến không có sự đồng thuận. Một số nhà nghiên cứu thấy rằng, toàn cầu hóa làm tăng trưởng kinh tế bằng cách đóng góp vào mở rộng ngoại thương, tăng đầu tư, tăng năng suất và sức mạnh cạnh tranh toàn cầu.

1.1. Bản chất kinh tế của Toàn cầu hóa và tác động đầu tư

Bản chất kinh tế của toàn cầu hóa là sự dịch chuyển tự do các yếu tố sản xuất (hàng hóa, vốn, công nghệ, lao động) giữa các quốc gia. Các nước cam kết bãi bỏ các hàng rào phi quan thuế, giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường dịch vụ theo ba phương thức chính. Điều này tạo ra một môi trường pháp lý tự do hơn cho hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế. Toàn cầu hóa tài chính được thúc đẩy thông qua việc tự do hóa các giao dịch tài chính quốc gia và phát triển các thị trường tài chính quốc tế. Quá trình này dẫn đến hệ thống các nền tài chính quốc gia hội nhập và tùy thuộc, tác động lẫn nhau ngày càng mạnh mẽ. Mặt khác, toàn cầu hóa kinh tế dẫn đến sự phân phối không công bằng các cơ hội đón nhận đầu tư và lợi ích kinh tế giữa các khu vực, quốc gia. Nó có thể mang đến những tác động xấu tới nền kinh tế các quốc gia, kể cả quốc gia giàu lẫn nghèo. Bởi vì, nó đưa đến tình trạng cạnh tranh gay gắt, nảy sinh vấn đề phá sản, thất nghiệp, làm trầm trọng thêm các vấn đề về lao động, xã hội.

1.2. Hội nhập kinh tế quốc tế Tính tất yếu và các loại hình

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết, giao lưu, hợp tác giữa nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế quốc gia khác hay tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những xu thế lớn và tất yếu trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức phát triển phổ biến của các nước, nhất là các nước đang và kém phát triển trong điều kiện hiện nay. Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường có thể giúp cho các nước đang và kém phát triển có thể tận dụng thời cơ phát triển rút ngắn, thu hẹp khoảng cách với các nước tiên tiến, khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng rõ rệt. Các loại hình hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm hợp tác kinh tế song phương, hội nhập kinh tế khu vực (thỏa thuận thương mại ưu đãi, khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế, liên minh tiền tệ, diễn đàn hợp tác kinh tế). Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế- xã hội.

II. FDI tại Việt Nam Thực trạng thu hút và Chuyển giao công nghệ

Việt Nam đã trở thành một điểm đến hấp dẫn cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhờ môi trường đầu tư thông thoáng và ổn định. Trong giai đoạn 2013-2023, dòng vốn FDI vào Việt Nam có xu hướng tăng lên, đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại tự do. Công nghiệp chế biến, chế tạo luôn là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài nhất. Bên cạnh việc thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh của Việt Nam. Mặc dù đã có những thành công nhất định trong việc tiếp nhận công nghệ tiên tiến, vẫn còn tồn tại những hạn chế cần khắc phục để nâng cao hiệu quả của quá trình này.

2.1. Phân tích tình hình thu hút đầu tư nước ngoài FDI tại VN

Trong giai đoạn 2013 – 2020 vừa qua, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành lĩnh vực, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo luôn là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài nhất với tổng số vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm luôn dao động trong khoảng 21 ~ 38 tỷ USD, chiếm tỷ lệ phần trăm cao trong tổng số vốn đầu tư đăng ký. Ngoài ra, các lĩnh vực như bán buôn, bán lẻ hay sản xuất phân phối điện cũng khá nổi bật trong các ngành nhận được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên lĩnh vực bất động sản vẫn chưa thực sự nhận được nhiều sự quan tâm . Trong năm 2023, đã có 111 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 6,8 tỷ USD, chiếm 18,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, tăng 5,4% so với cùng kỳ 2022; Nhật Bản đứng thứ hai với gần 6,57 tỷ USD, chiếm hơn 17,9% tổng vốn đầu tư, tăng 37,3% so với cùng kỳ.

2.2. Chuyển giao công nghệ Thực trạng và hạn chế tại Việt Nam

Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, FDI đóng vai trò rất quan trọng và đã góp phần thúc đẩy CGCN, từng bước nâng cao trình độ công nghệ sản xuất trong nước. Một số ngành đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến của thế giới như: bưu chính - viễn thông, dầu khí, xây dựng, cầu đường, khách sạn, văn phòng cho thuê. Tuy nhiên, một số dự án FDI chủ yếu tập trung vào lắp ráp, gia công, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, giá trị tạo ra tại Việt Nam không cao. Mặt khác, vấn đề CGCN từ nước ngoài cũng đặt ra nhiều thách thức đối với chúng ta, nếu không biết lựa chọn, giám định thì có thể tiếp nhận công nghệ lạc hậu, công nghệ không phù hợp với nhu cầu của đất nước, tiêu hao nhiều năng lượng, phát thải nhiều khí gây hiệu ứng nhà kính, gây ô nhiễm môi trường.

2.3. Ảnh hưởng hoạt động đầu tư nước ngoài đến phát triển

Việt Nam những năm qua đã thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau. Tăng trưởng FDI qua các năm đều có kết quả khả quan. Việt Nam cũng có tiềm lực phát triển kinh tế lớn mạnh, được nhiều đối tác hợp tác về các thoả thuận kinh tế có lợi, đồng thời liên tục được hấp thu, chuyển giao công nghệ sản xuất hiện đại giúp đất nước nhanh chóng bắt kịp với xu thế phát triển của thế giới hiện nay. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực mà FDI mang lại cũng có rất nhiều mặt tiêu cực ảnh hưởng đáng kể đến nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường… của nước ta.

III. Tác động của Toàn cầu hóa đến chính sách và đầu tư VN

Toàn cầu hóa đã tác động mạnh mẽ đến chính sách kinh tế và đầu tư của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp để thu hút FDI và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cũng cần có những chính sách phù hợp để quản lý và kiểm soát dòng chảy vốn, đảm bảo lợi ích quốc gia và phát triển bền vững. Các chính sách đối ngoại của Việt Nam cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và thu hút đầu tư.

3.1. Chính sách của Việt Nam đối với dòng chảy vốn FDI

Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, bao gồm giảm thuế, cung cấp đất và các ưu đãi thuế khác cho các doanh nghiệp nước ngoài. Xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất với các tiện ích hỗ trợ nhằm thuận tiện cho các doanh nghiệp nước ngoài. Quản lý chặt chẽ các dự án đầu tư nước ngoài để đảm bảo rằng chúng đáp ứng với mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt chẽ để tránh rủi ro liên quan đến việc chuyển giá, tránh thuế và làm giảm lợi nhuận ảnh hưởng đến ngân sách quốc gia.

3.2. Vai trò của chính sách tài chính và ngân hàng Việt Nam

Chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ương Việt Nam có tác động mạnh mẽ đến nguồn cung cấp và chi phí vốn trong nước. Các quyết định về lãi suất này không chỉ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nội địa mà còn tác động đến sự hấp dẫn của Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài. Chính sách tài chính của chính phủ, bao gồm cả quản lý chi ngân sách và quản lý nợ công, chịu trách nhiệm đối với sự ổn định tài chính của Việt Nam. Các biện pháp ưu đãi thuế, cùng với các chương trình tài trợ phát triển, có thể làm tăng cường sự toàn cầu hóa của Việt Nam và giúp quốc gia này tích hợp mạnh mẽ hơn vào cộng đồng kinh tế quốc tế.

IV. Toàn cầu hóa Cơ hội và thách thức cho Doanh nghiệp VN

Toàn cầu hóa mang lại cả cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tiếp cận thị trường quốc tế, và học hỏi kinh nghiệm quản lý là những cơ hội lớn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ quốc tế, rủi ro phụ thuộc vào thị trường nước ngoài, và các vấn đề xã hội liên quan đến toàn cầu hóa.

4.1. Tác động tích cực và tiêu cực của Toàn cầu hóa đối với VN

Tham gia toàn cầu hoá chúng ta sẽ tranh thủ: vốn, công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lý. Đồng thời phát huy lợi thế của ta, thế mạnh của ta. Tuy nhiên, toàn cầu hoá hiện nay do các nước tư bản chi phối – đây là cuộc chơi không cân sức giữa các nước giàu và các nước nghèo, các nước giàu tìm cách ép các nước nghèo. Doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh với các đối thủ quốc tế. Mang đến nhiều cơ hội như: Mở rộng thị trường xuất khẩu; Hợp tác quốc tế và đầu tư nước ngoài; Đa dạng hóa nguồn thu nhập; Tiếp cận công nghệ mới; Học hỏi và phát triển nguồn nhân lực; Tăng cường văn hóa và giáo dục quốc tế. Mang đến nhiều thách thức như: Nguy cơ thất nghiệp và việc làm; Khả năng bị hòa tan văn hóa; Vấn đề xã hội: Phân hóa giàu nghèo, lan truyền dịch bệnh,.

4.2. Bài học kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả đầu tư tại VN

Cần phải có một chiến lược toàn diện và linh hoạt để hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng những cơ hội và đối phó với những thách thức của toàn cầu hóa và tự do hóa dòng vốn. Cần phải đổi mới và phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh, minh bạch, thuận lợi và an toàn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục cải cách thể chế, hoàn thiện pháp luật, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân phát huy vai trò của mình trong nền kinh tế.

V. Tương lai Đầu tư tại VN Phát triển bền vững và Hội nhập

Để đảm bảo sự phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam cần tập trung vào việc thu hút FDI chất lượng cao, thân thiện với môi trường và mang lại giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế. Đồng thời, cần có những chính sách hiệu quả để quản lý rủi ro tài chính và xã hội liên quan đến tự do hóa dòng chảy vốn. Hội nhập kinh tế quốc tế cần đi đôi với việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đảm bảo an ninh quốc gia.

5.1. Giải pháp nâng cao kết quả và hiệu quả đầu tư bền vững

Cần phải có một chiến lược toàn diện và linh hoạt để hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải nắm bắt cơ hội và ứng phó với thách thức từ các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại Tự do với Liên minh châu Âu (EVFTA). Cần phải đổi mới và phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh, minh bạch, thuận lợi và an toàn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục cải cách thể chế, hoàn thiện pháp luật, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân phát huy vai trò của mình trong nền kinh tế.

5.2. Toàn cầu hóa Kết luận và những vấn đề cần quan tâm

Toàn cầu hóa và tự do hóa dòng chảy vốn là hai xu hướng không thể đảo ngược của kinh tế thế giới hiện nay, tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Đối với Việt Nam, để tận dụng được những lợi ích từ toàn cầu hóa và tự do hóa dòng chảy vốn, cần phải có những chính sách và biện pháp phù hợp, nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn nước ngoài, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển bền vững xã hội. Như vậy, toàn cầu hóa và tự do hóa dòng chảy vốn là một thực tế không thể tránh khỏi, đòi hỏi các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, phải chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong hội nhập, để phát huy được lợi thế so sánh, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển kinh tế, xã hội một cách toàn diện và bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

11/09/2025
Chủ đề toàn cầu hóa và tự do hóa dòng chảy vốn ảnh hưởng như thế nào đến đầu tư tại 1 quốc gia liên hệ với thực tiễn việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TOÀN CẦU HÓA VÀ TỰ DO HÓA DÒNG CHẢY VỐN. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế 1. Khái niệm Theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa là một hiện tượng, một quá trình, một xu thế liên kết trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hoá đến môi trường, v.v…) giữa các quốc gia. Nói một cách khác, “Toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phát sinh một loạt điều kiện mới”.

Theo nghĩa hẹp, toàn cầu hoá là một khái niệm kinh tế chỉ quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia. Biểu hiện của toàn cầu hoá có thể dưới dạng khu vực hoá – việc liên kết khu vực và các định chế, các tổ chức khu vực, hay cụ thể, toàn cầu hoá là “quá trình hình thành và phát triển các thị trường toàn cầu và khu vực, làm tăng sự tương tác và tùy thuộc lẫn nhau, trước hết về kinh tế, giữa các nước thông qua sự gia tăng các luồng giao lưu hàng hoá và nguồn lực qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các định chế, tổ chức quốc tế nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế ”. Một số đặc trưng của toàn cầu hóa Trên cơ sở thực tiễn của tiến trình toàn cầu hoá trong những năm qua, có thể xác định một số đặc trưng cơ bản của tiến trình toàn cầu hoá như sau: Một là, Sự gia tăng nhanh chóng chưa từng có của các thể chế quốc tế và khu vực điều tiết các quan hệ kinh tế khu vực và toàn cầu (gần 40 thể chế trong vòng một thập kỷ), số lượng thành viên ngày càng đông đảo, mức độ liên kết đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung, thang bậc ngày càng cao (liên kết xuyên quốc gia, khu vực và toàn cầu, hợp tác đa phương, song phương…lan tỏa sang những lĩnh vực trước đây chưa từng có hoặc còn hạn chế như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…) Hai là, sự gia tăng nhanh chóng của các công ty xuyên quốc gia và các luồng lưu chuyển khổng lồ về thương mại, dịch vụ, vốn, công nghệ, nguồn nhân lực… giữa các nước trên phạm vi toàn cầu và khu vực, được dẫn dắt bởi hệ thống các thiết chế quốc tế và các công ty xuyên quốc gia dày đặc khắp toàn cầu. Ba là, sự bùng nổ của khoa học thông tin, những thay đổi mang tính cách mạng của công nghệ thông tin kỹ thuật số, cách mạng thông tin siêu tốc toàn cầu đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, kinh doanh truyền thống bằng tin học, tri thức và xoá bỏ mọi rào cản, lu mờ biên giới quốc gia.

Bốn là, xu thế toàn cầu hoá hiện nay là do các công ty xuyên quốc gia chi phối, các nước tư bản phát triển đứng đầu là Mỹ, Nhật Bản, EU chi phối. Mỹ công khai áp đặt chủ nghĩa tự do lên các nước khác bằng cách gián tiếp hoặc trực tiếp buộc các nước phải tuân theo. Do đó, lợi ích toàn cầu hoá về cơ bản phân phối không công bằng. Nguồn lợi khổng lồ tập trung vào các nước phát triển có điều kiện kinh tế lớn, ngược lại các nước đang phát triển gặp nhiều khó khăn và bất lợi trong hội nhập toàn cầu.

Vai trò Mối quan tâm về toàn cầu hóa đã tăng lên do tình hình thương mại quốc tế, nghèo đói, bất bình đẳng, khác biệt văn hóa, ảnh hưởng môi trường, an ninh… Theo cách này, các hiệu ứng toàn cầu hóa đã trở thành vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau, dẫn đến không có sự đồng thuận. Một số nhà nghiên cứu thấy rằng, toàn cầu hóa làm tăng trưởng kinh tế bằng cách đóng góp vào mở rộng ngoại thương, tăng đầu tư, tăng năng suất và sức mạnh cạnh tranh toàn cầu. Tuy nhiên, toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan do sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất, của phân công lao động quốc tế. Việc hội nhập kinh tế toàn cầu thể hiện sự thích ứng của nền kinh tế quốc gia với xu thế của thế giới là không thể chậm trễ.

Đây là quá trình thông qua các nỗ lực thực hiện tự do hóa nền kinh tế của mỗi nước trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương. Do đó, vấn đề toàn cầu hóa kinh tế phải được thực hiện thông qua hoạt động của Nhà nước, các chủ thể kinh tế-xã hội và cả người dân. Trong đó, vai trò Nhà nước là vô cùng quan trọng để định hướng các chính sách phát triển kinh tế nhằm phân tích và đánh giá đúng đắn bối cảnh quốc tế và xu hướng tự do hóa thương mại, từ đó nhận diện các cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do. Bản chất kinh tế của toàn cầu hóa Do tình phức tạp của nó mà mỗi người có cách tiếp cận khác nhau nên cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về toàn cầu hoá.

Tuy nhiên, xét về bản chất kinh tế, toàn cầu hoá là sự dịch chuyển tự do các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hoá và dịch vụ (gồm: hàng hoá, vốn, công nghệ và cả lao động nữa) từ nước này sang nước khác trong phạm vi toàn cầu thông qua các cam kết về mở cửa thị trường về hàng hoá, dịch vụ và đầu tư theo các hiệp định mậu dịch tự do song phương (FTA) hiệp định mậu dịch tự do khu vực (RTA ) và rộng hơn là trên quy mô toàn cầu là tổ chức thương mại thế giới (WTO). +) Mở cửa thị trường về hàng hoá: Thứ nhất, Các nước cam kết bãi bỏ các hàng rào phi quan thuế ( như quota, giấy phép nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, tạo thuận lợi cho xuất, nhập khẩu, … Thứ hai, Giảm thuế nhập khẩu, đưa thuế suất giảm thấp, thậm chí xuống 0% theo một lộ trình thỏa thuận, tham gia các hiệp định giảm thuế theo ngành- đưa ngay thuế nhập khẩu xuống 0% hoặc theo lộ trình được rút ngắn. +) Mở cửa thị trường về dịch vụ theo ba yêu cầu còn gọi là 3 phương thức: Phương thức 1: Cung ứng qua biên giới: các tổ chức và cá nhân nước ngoài không đăng ký kinh doanh ở một nước nhưng có quyền cung cấp dịch vụ cho các tổ chức và cá nhân nước này (ví dụ một công ty luật không lập trụ sở và đăng ký kinh doanh ở Việt nam, không phải nộp thuế cho chính phủ Việt nam nhưng vẫn có quyền cung ứng dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp việt nam hay một công ty phân phối nước ngoài không đăng ký kinh doanh ở một nước vẫn có thể bán hàng qua mạng cho người tiêu dùng của nước đó nếu điều này được ghi vào cam kết). Phương thức 2: Sử dụng ngoài lãnh thổ: Tổ chức và cá nhân của một nước được quyền sử dụng các dịch vụ ngoài lãnh thổ nước mình do những tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài cung cấp.

Ví dụ một công ty vận tải biển của Việt nam có thể mang tàu ra nước ngoài để sửa chữa , các công dân Việt nam có thể ra nước ngoài học tập, chữa bệnh, mua các loại hình bảo hiểm hoặc sử dụng các dịch vụ ngân hàng ở nước ngoài. Phương thức 3: Hiện diện thương mại: Các tổ chức và cá nhân nước ngoài có thể lập cơ sở kinh doanh ở một nước khác. Ví dụ mở ngân hàng, các công ty bảo hiểm, lập các trung tâm phân phối tại nước khác. Phương thức 4: Hiện diện thể nhân (còn gọi là di chuyển thể nhân): Công dân người nước ngoài có thể vào nước khác để hoạt động dịch vụ.

Tuy nhiên, đây là lĩnh vực nhạy cảm nên việc mở cửa cho di chuyển thể nhân hiện còn rất hạn chế. +) Mở cửa thị trường đầu tư Các tổ chức và cá nhân nước ngoài có quyền đầu tư vào các lĩnh vực của nền kinh tế của nước khác, trừ những lĩnh vực có liên quan đến an ninh quốc gia, vi phạm đến truyền thống văn hoá và đạo đức của quốc gia đó. Để bảo đảm cho việc mở cửa thị trường là đúng thực chất và công bằng, khi mở cửa thị trường các nước phải tuân thủ 4 nguyên tắc sau đây: Một là, không phân biệt đối xử. Bao gồm: (1) không phân biệt hàng hoá, dịch vụ và doanh nghiệp của nước này với hàng hoá , dịch vụ và doanh nghiệp nước khác về thuế, các loại phí và các điều kiện tiếp cận thị trường.

và được gọi là nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) (2) không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ nước mình với hàng hoá dịch vụ nước khác, giữa doanh nghiệp nước mình với doanh nghiệp nước khác đây là nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) Hai là, thực hiện minh bạch, công khai các cơ chế chính sách quản lý để mọi người (kể cả người nước ngoài) có cơ hội tiếp cận như nhau, có quyền góp ý về các chính sách đó. Ba là, bảo vệ quyền sở hữu tài sản trí tuệ. Thông qua việc cam kết thực hiện hiệp định về bảo vệ quyền sở hữu tài sản trí tuệ ( hiệp định Trips ) có chế tài quốc gia đủ mạnh kể cả xử theo luật hình sự để xử lý các trường hợp vi phạm tài sản trí tuệ. Bốn là, tuân thủ cơ chế giải quyết tranh chấp chung do tổ chức mà mình tham gia quy định và phải thực thi các phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp của tổ chức này.

Tác động của toàn cầu hóa đến hoạt động đầu tư +) Tác động tích cực Môi trường pháp lý cho hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế trong tiến trình toàn cầu hoá kinh tế được điều chỉnh theo hướng tự do hơn. Trong xu hướng này, nhiều thể chế kinh tế, thương mại, tài chính toàn cầu được hình thành mới, được kế thừa từ một số tổ chức vốn trước đó chỉ mang tính khu vực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ