CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ THÔNG MINH 1. Sự cần thiết xây dựng đô thị thông minh ở nước ta hiện nay Theo Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa nước ta đã tăng từ 19,6% với 629 đô thị, lên khoảng 36,6% với 802 đô thị, từ năm 2009 đến năm 2016, với khoảng 39 triệu người, chiếm khoảng 41% dân số cả nước; dự kiến đến năm 2020 dân cư đô thị chiếm 45% và năm 2025 chiếm 50% dân số cả nước. Diện tích của các đô thị chỉ chiếm hơn 10% tổng diện tích cả nước, song lại đóng góp tới hơn 70% tổng thu ngân sách. Bên cạnh những lợi ích thiết thực như đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựng đời sống xã hội văn minh, hiện đại, thì quá trình đô thị hóa gia tăng còn tạo ra nhiều thách thức đối với chính quyền các cấp như sức ép về ô nhiễm môi trường, giao thông, nhà ở, giáo dục, y tế, thiếu hụt các nguồn lực về đất đai, nước sạch, không gian, năng lượng.v, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.
Hồ Chí Minh. Từ thực trạng của quá trình đô thị hóa ở nước ta, cùng với những kết quả đạt được ở các nước trên thế giới, vấn đề về xây dựng đô thị thông minh ở Việt Nam trong thời gian qua đã được các nhà khoa học, các ngành, các cấp quan tâm nghiên cứu, triển khai thực hiện, xuất phát từ những lợi ích cũng như yêu cầu phát triển đô thị trong tình hình mới, cụ thể như sau: Thứ nhất, việc xây dựng đô thị thông minh có thể giải quyết cơ bản các vấn đề thách thức nảy sinh trong quá trình đô thị hóa của Việt Nam, tạo niềm tin của nhân dân vào hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền các cấp, ví dụ như: nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp; giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông; kiểm soát tốt hơn môi 12 trường sống; tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả các nguồn lực về con người cũng như vật chất…v. Thứ hai, trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin - truyền thông, đặc biệt là các nước phát triển trên thế giới đang bước vào nền công nghiệp 4.0, Việt Nam đang có cơ hội lớn để tiến hành đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, đổi mới cách thức quản lý, điều hành xã hội, nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh đô thị, cạnh tranh quốc gia, thu hút đầu tư, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững theo mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Thứ ba, xuất phát từ đòi hỏi ngày càng cao của người dân về nâng cao chất lượng cuộc sống đô thị, tham gia xây dựng xã hội, giám sát hoạt động của chính quyền.
Do đó, việc xây dựng và quản lý đô thị theo cách truyền thống đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạo, quản lý phải tìm kiếm những chiến lược, giải pháp mới phù hợp với bối cảnh hiện nay và xu hướng phát triển đô thị trong tương lai. Ngay sau khi có chủ trương từ Chính phủ, một số tỉnh, thành phố lớn ở nước ta đã bắt đầu tìm hiểu và bắt tay vào triển khai thực hiện. Cho tới nay, hơn 20 tỉnh, thành phố đã và đang triển khai dưới hình thức như vậy.
Trong đó, một số tỉnh, thành phố đã bắt đầu triển khai xây dựng Đề án Đô thị thông minh như Đà Nẵng (7/2014), Huế (2015), Quảng Ninh (8/2016), Thành phố Hồ Chí Minh (9/2016), Kiên Giang (Huyện đảo Phú Quốc - 9/2016), Lâm Đồng (Thành phố Đà Lạt - 10/2016), Bình Dương (9/2016), Thanh Hóa (Thành phố Thanh Hóa - thị xã Sầm Sơn, thị xã Bỉm Sơn - 9/2016), Hải Phòng (11/2016), Vĩnh Phúc (3/2017), Đăk Lăk (Thành phố Buôn Ma Thuột - 1/2017), Tiền Giang (Thành phố Mỹ Tho - 2/2017), …v. Ngoài ra, với một thị trường công nghệ thông tin - truyền thông ngày càng sôi động và phát triển mạnh mẽ, với các nhà đầu tư có tiềm lực, uy tín 13 cả trong và ngoài nước như IBM, FPT, VNPT, Viettel, Cisco, Bkav….v, đã đặt ra nhiều sự lựa chọn, cơ hội đối với các địa phương tại Việt Nam trong việc hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đô thị thông minh trong thời gian đến. Có thể nói, việc xây dựng đô thị thông minh là hết sức cần thiết đối với các đô thị tại Việt Nam hiện nay, xuất phát từ lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu phát triển lâu dài, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của đô thị trong thời đại toàn cầu hóa, đồng thời đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của người dân về một môi trường sống thuận lợi, an toàn, tiết kiệm hơn. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của chính sách xây dựng đô thị thông minh 1.
Khái niệm chính sách xây dựng đô thị thông minh Để đưa ra được cách hiểu về chính sách xây dựng đô thị thông minh thì Luận văn sẽ làm rõ một số khái niệm sau: - Khái niệm về chính sách Để quản lý xã hội, bộ máy nhà nước phải ban hành các chính sách phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Tác động của nhà nước đến các đối tượng có thể mang tính chính trị, hành chính, kinh tế và được lồng ghép vào các cơ chế quản lý điều hành thống nhất. Thuật ngữ chính sách được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội. Dưới đây, là một số khái niệm của các học giả trong và ngoài nước: + Theo William Jenkin, "Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau, được ban hành bởi một hoặc nhóm các nhà hoạt động chính trị cùng hướng đến lựa chọn mục tiêu và các giải pháp để đạt được mục tiêu đó"; Thomas R.
Dye lại cho rằng: "Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm". Còn theo Krafty Furloy: “Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của 14 chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng”. Jones định nghĩa: "Chính sách công là một tập hợp các yếu tố gồm: Dự định, Mục tiêu, Đề xuất, Các quyết định hay các lựa chọn, Hiệu lực". Cuy Peters định nghĩa: "Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của chính quyền, dù thực hiện trực tiếp hay gián tiếp qua các đại lý, tác động đến cuộc sống của mọi người".
Còn theo Doctor Eric: "Chính sách công là một sản phẩm của một tiến trình tương tác giữa các cá nhân theo các nhóm làm việc nhỏ trong một khuôn khổ do các tổ chức đặt ra - các tổ chức này hoạt động trong một hệ thống thể chế chính trị, luật pháp và chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa - xã hội", "Chính sách công có thể coi như là một khái niệm có thể dùng thay thế các khái niệm hành chính công và quản lý công, hoặc có thể hiểu là một bộ công cụ phân tích dùng trong hai lĩnh vực trên"[8]. + Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về chính sách công, đặc biệt là những năm gần đây, khi nước ta chủ trương đẩy mạnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong cuốn sách Chính sách kinh tế - xã hội, các tác giả đồng nhất chính sách công với chính sách kinh tế - xã hội và đưa ra định nghĩa: “Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu tổng thể của xã hội”. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: “Chính sách công là chiến lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu bớt những vấn đề quốc gia hay mối quan tâm của Nhà nước.
Chính sách công cho phép Chính phủ đảm nhiệm vai trò người cha đối với cuộc sống của nhân dân. Nó tạo thời cơ, giữ gìn hạnh phúc và an toàn cho mọi người; tạo ra an toàn cho tài chính và bảo vệ an toàn cho Tổ quốc”. Các nhà khoa học của Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành 15 chính quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Chính sách công là chương trình hành động của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể”; “Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu đã xác định”[8]. Mặc dù những quan niệm trên còn có nhiều điểm khác nhau, nhưng tất cả các ý kiến đều nghiên cứu, xem xét chính sách công với tư cách là sản phẩm có mục đích của chủ thể nắm quyền lực công để tác động đến các mặt đời sống xã hội.
Trong các chủ thể quyền lực công đó thì Nhà nước do tính chất đặc biệt nên được đưa vào vị trí trung tâm. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu thuật ngữ chính sách công như sau: Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công, nhằm giải quyết vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định. Từ cách hiểu trên, ta có thể thấy chính sách công có những đặc trưng cơ bản sau: Chính sách công là sản phẩm của chủ thể quyền lực công, nên bất kỳ chủ thể nào nắm quyền lực công đều có khả năng ban hành chính sách công; chính sách công bao gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau – đó là một chuỗi các quyết định cùng hướng vào giải quyết vấn đề của chính sách, luôn gắn với từng thời kỳ và giai đoạn lịch sử cụ thể; chính sách công thường tập trung giải quyết một vấn đề nhất định đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định và phương pháp cụ thể. - Khái niệm đô thị: Đô thị là không gian cư trú của một cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp [23].