CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Doanh nghiệp và Công ty cổ phần Theo khoản 10 điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, định nghĩa về doanh nghiệp được nêu đầy đủ như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.”[6] Tại Việt Nam, theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 thì có 4 loại hình DN chính như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân Công ty cổ phần là 1 loại hình DN nằm trong 4 loại hình trên. Dựa theo điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020 thì Công ty cổ phần được định nghĩa như sau: Công ty cổ phần là DN, có tư cách pháp nhân, trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN, có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác. Công ty có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty. Các loại hình doanh nghiệp còn lại là Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân cũng được quy định theo Luật Doanh nghiệp 2020 1. Người lao động, người sử dụng lao động a.
Người lao động Theo khoản 1 điều 3 Luật Lao động 2019 định nghĩa về người lao động như sau: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này. 6 Vậy người lao động là người làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ. Độ tuổi lao động tối thiểu của NLĐ là đủ 15 tuổi, trừ một số trường hợp lao động chưa thành niên được quy định theo luật định.
NLĐ có vai trò quan trọng khi là người tác động trực tiếp lên tư liệu sản xuất để tạo ra giá trị thặng dư, tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp cũng như NSDLĐ. Người sử dụng lao động Theo khoản 2 điều 3 Luật Lao động 2019 định nghĩa về người lao động như sau: “Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”[7]. Vậy NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng NLĐ làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp NSDLĐ là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. NSDLĐ trả lương cho NLĐ, làm NLĐ có động lực làm việc bằng cách đảm bảo đời sống NLĐ.
Chính sách của NSDLĐ giúp NLĐ đảm bảo về đời sống vật chất và tinh thần của mình. Khái niệm tiền lương Tiền lương có vai trò rất quan trọng với NLĐ, DN và xã hội, cụ thể như sau: Định nghĩa về tiền lương được Tổ chức Lao động quốc tế quy định trong Điều 1 Công ước số 95 năm 1949 về bảo vệ tiền lương đã nêu rõ: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng lời nói cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”[16]. Trong cuốn Giáo trình Tiền lương - Tiền công của PGS.TS Nguyễn Tiệp có ghi:“Tiền lương là giá cả của sức lao động, được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động (bằng 7 văn bản hoặc bằng miệng), phù hợp với quan hệ cung - cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với các quy định tiền lương của pháp luật lao động. Tiền lương được người sử dụng lao động trả cho người lao động một cách thường xuyên, ổn định trong khoảng thời gian hợp đồng lao động (tuần, tháng, năm.
Ngày nay tiền lương tại Việt Nam được quy định trong khoản 1 điều 90 Bộ Luật Lao Động 2019 như sau: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”[7]. Từ những khái niệm nêu trên, tiền lương có thể hiểu là giá cả của sức lao động, là số tiền mà NSDLĐ trả cho người lao động trên cơ sở thoả thuận giữa hai phía để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Tiền lương có vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp cụ thể là hoạt động quản trị nhân lực, có vai trò quan trọng đối với người lao động và toàn xã hội. Vậy nên cần phải có chính sách để quản trị vấn đề tiền lương một cách hợp lý và có hiệu quả.
Chính sách và chính sách tiền lương trong doanh nghiệp a. Chính sách Theo từ điển Cambridge: "Chính sách là một tập hợp các ý tưởng hoặc kế hoạch về điều gì sẽ được thực hiện trong các tình huống cụ thể đã được đồng ý chính thức bởi một nhóm người, tổ chức kinh doanh, chính phủ hoặc một đảng chính trị"[23]. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2003), chính sách là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [17]. Giáo trình chính sách kinh tế xã hội của Trường Đại học kinh tế quốc dân do Đoàn thị Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền biên soạn (2007) định nghĩa “chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại” [11, tr.
Như vậy, chính sách là sách lược hay kế hoạch và phương thức hành động được cụ thể hóa và thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề và đạt được mục tiêu đề ra, được ban hành chính thức bởi một nhóm người, tổ chức kinh doanh, chính phủ hoặc một đảng chính trị. Chính sách đóng vai trò rất quan trọng khi thực hiện một chương trình 8 hay một mục tiêu vì nó chính là những kế hoạch được sắp xếp và cụ thể hóa và ban hành. Nếu chính sách không đúng hướng mục tiêu sẽ không thực hiện được, nếu chính sách không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến các bên liên quan. Vậy nên việc hoạch định tất cả các loại chính sách là rất quan trọng trong đó có chính sách tiền lương.
Chính sách tiền lương trong doanh nghiệp Theo Nguyễn Tuấn Doanh, chính sách tiền lương được định nghĩa như sau: “Chính sách tiền lương nói chung, xét theo phạm vi và chủ thể ban hành thì có 2 loại: CSTL nhà nước (hay còn gọi là CSTL vĩ mô) và CSTL trong các cơ quan, DN”[10, tr31]. Trong đó chính sách tiền lương vĩ mô tức là các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan quản lý Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về tiền lương. CSTL vĩ mô chính là cơ sở pháp lý chung cho các CSTL trong các cơ quan, DN. Cũng theo Nguyễn Tuấn Doanh thì: “Chính sách tiền lương trong DN ít được đề cập một cách đầy đủ về nội dung, khái niệm hay quan điểm trong các nghiên cứu nhưng được sử dụng rất nhiều trong các nghiên cứu cả trong và ngoài nước.
CSTL trong DN được hiểu là sách lược và kế hoạch cụ thể của DN về vấn đề tiền lương, được biểu hiện thông qua các quyết định quản trị trong DN nhằm đạt được mục tiêu của DN về các vấn đề quản trị liên quan đến quan hệ tiền lương”[10, tr31-32]. Như vậy chính sách tiền lương chưa có một định nghĩa chính xác và đồng bộ rộng rãi của cơ sở pháp luật, cơ sở khoa học nhưng thường được hiểu là sách lược và kế hoạch cụ thể của doanh nghiệp về vấn đề tiền lương được thể hiện bởi quyết định quản trị về vấn đề tiền lương. Trong phạm vi của khóa luận này: “Chính sách tiền lương trong DN được xác định là các quyết định quản trị liên quan đến toàn bộ các nội dung quản lý về tiền lương đối với NLĐ trong DN, bao gồm: quỹ tiền lương và quy chế trả lương. Chủ thể ban hành CSTL trong DN là DN hay NSDLĐ, được biểu hiện thông qua các quyết định quản trị của DN này nhằm thực hiện mục tiêu trong quản lý tiền lương”.
Nội dung chính sách tiền lương trong doanh nghiệp Nội dung chính sách tiền lương bao gồm 2 nội dung chính gồm: hình thành quỹ tiền lương và quy chế trả lương. Cụ thể như sau: 1. Hình thành quỹ tiền lương Theo PGS. Trần Xuân Cầu: “Quỹ lương là tổng số tiền dùng để trả lương cho người lao động ở cơ quan, doanh nghiệp trong một thời kì nhất định”[9, tr.
Theo Nguyễn Tuấn Doanh: “Quỹ tiền lương được hiểu là tổng chi phí tiền lương mà DN sử dụng để chi trả cho NLĐ theo định kỳ”[10,tr. Hình thành quỹ tiền lương là nội dung thể hiện sự hình thành tiền lương của NLĐ, biểu hiện khả năng chi trả của NSDLĐ cho tập thể NLĐ nói chung. Nội dung này cũng tác động đến sự cạnh tranh về năng lực và khả năng chi trả của NSDLĐ cho tập thể NLĐ trong doanh nghiệp. Theo Nguyễn Tuấn Doanh thì việc xác định quỹ tiền lương gồm có thể xác định trên 2 góc độ chính là xác định quỹ tiền lương dưới góc độ là chi phí sản xuất và xác định quỹ tiền lương dưới góc độ phân phối lợi ích.
Xác định quỹ tiền lương dưới góc độ là chi phí sản xuất là góc nhìn tiền lương là một loại chi phí, chi phí càng giảm, lợi nhuận càng tăng.