CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DNNN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến Chính sách phát triển và quản trị nhà nước đối với DNNN Nghiên cứu “DNNN – Công cụ tạo ra giá trị cho công cộng?” của tác giá Jan Sturesson, Scott McIntyre, Nick C Jones của PWC DNNN là một lực lượng có ảnh hưởng và đang tăng trưởng trên toàn cầu. Ví dụ, tỷ trọng các DNNN trong danh sách Fortune Global 500 đã tăng từ 9% trong năm 2005 lên 23% năm 2014, chủ yếu do sự tăng trưởng của các DNNN Trung Quốc. Các DNNN đã trở thành công cụ cho một số quốc gia để định vị tốt hơn vị trí của họ trong tương lai kinh tế toàn cầu, tăng tính cạnh tranh toàn cầu vì tài chính, tài năng và nguồn lực.
Nhiều nếu không phải là hầu hết, các DNNN lớn hoạt động toàn cầu và tham gia hoạt động thương mại. Trong một nghiên cứu phân tích danh sách Fortune’s 2000 doanh nghiệp lớn nhất trong năm 2010-2011, các tác giả phát hiện ra 204 (10.000 doanh nghiệp là các DNNN với quyền lợi trải khắp 37 quốc gia. Các tác giả cho rằng đây có thể là hệ quả của một xu hướng cực lớn của sự dịch chuyển sức mạnh kinh tế. Do vậy, cũng rất phù hợp với hướng nghiên cứu luận văn khi nghiên cứu mới một chủ đề dường như đã cũ, nhưng đang trở nên nóng hơn trên toàn cầu, đó là sự phát triển của các DNNN trở thành lực lượng lớn mạnh, cạnh tranh trên toàn cầu.
Nghiên cứu của các tác giả TAN Cheng-Han, Dan W. PUCHNIAK, Umakanth VAROTTIL – Đại học Quốc gia Singapore về quá trình hình thành của DNNN Singapore để trở thành một mô hình tiềm năng cho cải cách. Theo bài nghiên cứu, mô hình DNNN của Singapore (Government-linked companies - GLC) có thể cung cấp một mô hình tốt, hấp dẫn cho cải cách DNNN Trung Quốc và các quốc gia khác như Việt Nam. 5 z Sự hấp dẫn đó là, các doanh nghiệp GLC cũng mang lại lợi nhuận trên tài sản và trên vốn chủ sở hữu cao hơn các doanh nghiệp phi GLC, do vậy được định giá cao hơn.
Đồng thời các GLC cũng quản lý chi phí tốt hơn các phi GLC. Các doanh nghiệp GLC cũng kết quả kinh doanh lành mạnh và có quản trị doanh nghiệp tốt đồng thời, được thị trường đánh giá cao thể hiện ở giá trị vốn hoá. Ngoài ra, sự thành công của mô hình GLC Singapore thách thức quan niệm phổ biến rằng các doanh nghiệp tư nhân chứ không phải nhà nước sẽ phân bổ hiệu quả nguồn vốn hơn. Kết quả đó rất đáng chú ý với nghiên cứu này, vì nó ngược với bối cảnh DNNN trên toàn cầu vốn được cho rằng nói chung làm ăn không hiệu quả, và như tại Việt Nam, các DNNN làm ăn có hiệu quả thấp, thua lỗ, được định giá thấp trên thị trường chứng khoán.
Sự thành công của mô hình DNNN Singapore và tham vọng của Trung Quốc trong việc ganh đua thành tích với mô hình này thách thức quan niệm rằng các hệ thống quản trị công ty đang hội tụ về mô hình theo kinh tế thị trường của các doanh nghiệp trong đó lấy cổ đông làm trung tâm (của Mỹ). Quá trình hình thành và thành công của mô hình GLC Singapore cho thấy một nền kinh tế và một hệ thống quản trị công ty rất thành công có thể xây dựng trên nền tảng của các doanh nghiệp có cổ đông nhà nước đóng vai trò chi phối. Với bài nghiên cứu, đây cũng là điểm quan trọng, chỉ ra khả năng của mô hình thành công với cổ đông nhà nước đóng vai trò nền tảng trong các DNNN thành công, tạo ra một nền kinh tế thành công và một hệ thống quản trị thành công, chứ không đơn thuần là chuyển DNNN sang công ty cổ phần. Và câu hỏi đặt ra nhà nước nên đóng vai trò gì với DNNN và thực hiện việc đó như thế nào để có thành công? Chìa khoá để quản trị doanh nghiệp hiệu quả dường như là tìm một mô hình phù hợp với từng nền kinh tế, thể chế, lịch sử, chính trị, môi trường văn hoá vốn rất khác nhau.
kết luận của nghiên cứu, mô hình GLC Singapore có mối liên hệ chặt chẽ với hoàn cảnh lịch sử và văn hóa, mặc dù mô hình này có thể vô cùng thành công ở Singapore, tuy nhiên, áp dụng mô hình này ở các nước khác có thể sẽ khó khăn. Chính phủ Singapore không có ý định bổ nhiệm các hội đồng quản trị để quản lý các công ty này và thông thường cũng không can dự vào việc quản lý các 6 z GLC. Hội đồng quản trị của các GLC là hội đồng chính sách hơn là hội đồng có chức năng quản lý. Đây cùng là một điểm rất quan trọng trong cách thức Chính phủ Singapore quản trị các GLC, khác với cách thức ở Việt Nam và Trung Quốc, nhà nước có thể can thiệp, chỉ đạo trực tiếp hoạt động của các DNNN, ảnh hưởng đến sự tự chủ của doanh nghiệp, khiến vai trò điều hành nền kinh tế, chức năng ra chính sách của chính phủ có thể mâu thuẫn với vai trò cổ đông.
Công ty Temasek Holdings (Temasek) được thành lập để quản lý các khoản đầu tư và tài sản trước đó do chính phủ nắm giữ, cổ đông duy nhất của Temasek là Bộ Tài chính Singapore. Temasek đóng vai trò cổ đông tích cực, khuyến khích quản trị công ty tốt, điều này bao gồm ủng hộ việc hình thành hội đồng quản trị có năng lực cao, giàu kinh nghiệm và đa dạng để hướng dẫn và góp ý vào việc quản lý công ty. Temasek chủ trương hội đồng quản trị độc lập với quản lý để có thể cung cấp sự đảm bảo hiệu quả và sự giám sát đối với các hoạt động quản lý, vị trí Chủ tịch công ty và giám đốc điều hành sẽ do những người khác nhau nắm giữ, các công chức hàng đầu hay các cựu công chức hàng đầu được bổ nhiệm vào các hội đồng. Sự bố trí này tạo nên ủng hộ sự trung thành với chính phủ, giúp chính phủ tham gia và các khu vực trọng yếu của nền kinh tế.
Như vậy, nghiên cứu tranh luận về quan điểm về sự hội tụ của lý thuyết về quản trị công ty như đã nêu trên, thay vào đó, là sự đa dạng, cách tiếp cận theo lý thuyết “phụ thuộc con đường”. Cách tiếp cận phù hợp đối với phát triển và quản trị nhà nước đối với DNNN tại mỗi quốc gia khác nhau còn phù thuộc vào yếu tố văn hoá, chính trị tại các quốc gia. Cấu trúc doanh nghiệp và các thiết chế thường được hình thành do các cấu trúc có sẵn của quốc gia, khó có thể thay đổi do các vấn đề tư lợi và lợi ích nhóm. Tìm hiểu bối cảnh, lịch sử, đặc điểm, … phát triển DNNN của Việt Nam là điều cần thiết để có lựa chọn chính sách phù hợp.
Nghiên cứu của Wong, S. “Improving Corporate Governance in SOEs: An Intergrated Approach”, Corporate Governance International Về vấn đề về người đại diện mà các DNNN phải đối mặt. Thứ nhất, các doanh nghiệp tư nhân, nói chung đều hướng về mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, do đó họ có thể tập trung vào mục tiêu đổi mới và giảm chi phí, 7 z trong khi đó, khi nhà nước đóng vai trò chủ sở hữu doanh nghiệp phải đối mặt nhiều xung đột lợi ích. Nhà nước phải vận hành hoạt động kinh doanh, thực thi luật pháp, kiểm soát hệ thống ngân hàng và thông thường quan tâm đến các vấn đề xã hội như tạo việc làm và giáo dục (OECD, 2006).
Sự mâu thuẫn thường xuyên xảy ra giữa các mục tiêu này làm giảm sự rõ ràng, thậm chí gây bối rối với các quản lý doanh nghiệp giữa nhiều mục tiêu khác nhau. Điểm này quan trọng với DNNN ở Việt Nam khi hiện nay, vốn được khẳng định là công cụ quan trọng để bảo đảm thực hiện hiệu quả các chính sách ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đối phó với những biến động thị trường; tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước; đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và chính sách an sinh xã hội…. Định hướng vai trò của DNNN rất quan trọng vì quá nhiều vai trò, mục tiêu mà dường như còn mâu thuẫn nhau, đồng thời, giao quá nhiều mục tiêu phải thực hiện khiến quản lý doanh nghiệp còn bị rối. Mục tiêu hướng tới lợi nhuận hay thực hiện nhiều nhiệm vụ khác, là một khía cạnh trong chính sách phát triển DNNN mà bài nghiên cứu hướng đến.
Thứ hai, cả người sở hữu doanh nghiệp tư nhân và DNNN đều phải đối mặt với vấn đề các nhà quản lý doanh nghiệp tư lợi. Tuy nhiên, các DNNN còn phải đối mới vấn đề các quan chức trong giới chính trị, các cơ quan hành chính có hành vi can thiệp để tư lợi. Giới chính trị và công chức cũng là những người đại diện tồi vì họ thường không được hưởng lợi trực tiếp từ thành công của các DNNN. Nên họ cũng ít động lực hơn, thậm chí né tránh, thiếu động lực cải thiện hoạt động của các DNNN.
(Wong, 2004) Chính sách phát triển và quản trị nhà nước đối với DNNN, chủ đề mà nghiên cứu hướng đến, hướng đến trả lời câu hỏi về hạn chế sự tư lợi của quản lý doanh nghiệp và quan chức trong giới chính trị, các cơ quan hành chính đối với các DNNN và tạo động lực nơi các nhà quản lý DNNN với sự phát triển của doanh nghiệp. 8 z Thứ ba, Mức độ công bố thông tin của các DNNN kém hơn so với khu vực tư nhân. Được cung cấp vốn bởi thị trường thị trường tài chính, các doanh nghiệp tư nhân phải tuân thủ kỉ luật do thị trường tài chính đặt ra và phải đáp ứng các tiêu chuẩn về công bố thông tin. Trong khi đó, các DNNN không phải đối diện với áp lực này.
Họ công bố thông tin ít hơn vì các chủ sở hữu thiếu động lực để giám sát các DNNN kĩ càng. Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng giúp minh bạch, tạo điều kiện giám sát DNNN cho nhà đầu tư, nhà nước, người dân, là một chính sách quan trọng để quản trị DNNN. Corporate Governance in Asia: A Survey. International Review of Finance Quản trị Công ty tốt rất cần thiết đối với các DNNN để đảm bảo đóng góp tích cực cho nền kinh tế.
Các DNNN, giống như nhiều doanh nghiệp khác, phải đối diện với thách thức về quản trị công ty.