Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đô thị bền vững và chính sách phát triển đô thị bền vững; Chương 2: Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng; Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG 1. Những vấn đề lý luận về phát triển đô thị bền vững và chính sách phát triển đô thị bền vững 1. Các khái niệm có liên quan 1.
Khái niệm đô thị Đô thị được hiểu là “Nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể là công nghiệp; thành phố hoặc thị trấn” [31]. Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động theo những khu vực kinh tế phi nông nghiệp [31]. Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, hệ thống dân cư mà mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình. Song phần nhiều đều thống nhất hai tiêu chuẩn cơ bản [31].
- Quy mô và mật độ dân số: Quy mô trên 2000 người sống tập trung, mật độ trên 3000 người/km2 trong phạm vi nội thị. - Cơ cấu lao động: trên 65% lao động phi nông nghiệp. Như vậy, đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ có số dân từ 2000 người trở lên và trên 65% lao động là phi nông nghiệp. Việt Nam quy định đô thị là những thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ với tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp thấp hơn.
Điều đó xuất phát từ đặc điểm nước ta là một nước đông dân, đất không rộng, đi từ một nước nông nghiệp. Đô thị Việt Nam được hiểu là một khu dân cư, trong đó lực lượng lao động chủ yếu là phi nông nghiệp, sống và làm việc theo lối sống thành thị [29]. Ngày nay đô thị không chỉ đơn thuần là nơi tập trung dân cư đông đúc với các hoạt động mang tính chất phi nông nghiệp; các trung tâm đơn chức năng về hành chính hoặc thương mại. 8 mà đô thị đã trở thành một không gian cư trú của dân cư, là kết quả tất yếu của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một vùng hay một quốc gia, biểu hiện của nó là tập trung mật độ dân cư cao với lối sống đô thị và các hoạt động phi nông nghiệp chiếm ưu thế, cơ sở hạ tầng phát triển ngày càng hiện đại.
Khái niệm phát triển bền vững Nếu Phát triển là khái niệm dùng để sự tăng lên về quy mô, sự thay đổi tích cực về cơ cấu, tạo ra các khả năng khai thác nguồn lực cho phát triển và qua đó cải thiện cuộc sống của con người; thì Phát triển bền vững (PTBV) khái niệm dùng để chỉ sự phát triển đồng bộ về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới lồng ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường. Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của thế hệ tương lai. Ba lĩnh vực quan trọng nhất của phát triển bền vững đó là: kinh tế, xã hội, môi trường.
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định “phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển bao gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm), và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống. Khái niệm đô thị bền vững/phát triển đô thị bền vững Cho đến nay, chưa có một khái niệm thống nhất về phát triển bền vững đô thị. Rất khó để đưa ra được một định nghĩa hay hệ khái niệm được coi là thống nhất 9 về phát triển đô thị bền vững vì bản chất đa dạng và đa chiều của đối tượng nghiên cứu.
Tùy thuộc vào mục đích và phương pháp nghiên cứu mà các tác giả sẽ có những quan điểm khác nhau. Các quan điểm về phát triển đô thị bền vững được trình bày rất đa dạng. * Trên thế giới: - Xuất phát từ bản báo cáo của Ủy ban Brundtland, tại hội nghị URBAN21 (tổ chức tại Berlin tháng 7/2000), người ta đã đưa ra định nghĩa về phát triển đô thị bền vững: “Cải thiện chất lượng cuộc sống trong một thành phố, bao gồm cả các thành phần sinh thái, văn hóa, chính trị, thể chế, xã hội và kinh tế nhưng không để lại gánh nặng cho các thế hệ tương lai,một gánh nặng bị gây ra bởi sự sút giảm nguồn vốn tự nhiên và nợ địa phương quá lớn. Mục tiêu của chúng ta là nguyên tắc dòng chảy, dựa trên cân bằng về vật liệu và năng lượng cũng như đầu vào/ra về tài chính, phải đóng vai trò then chốt trong tất cả các quyết định tương lai về phát triển các khu vực đô thị” [13].
- Quan điểm của Ấn Độ, một quốc gia đang và sẽ là nước có tốc độ đô thị hóa hàng đầu châu Á đã đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững: “Một cộng đồng sử dụng bền vững nguồn tài nguyên của mình để đáp ứng nhu cầu hiện tại, trong khi đảm bảo đủ nguồn lực có sẵn cho các thế hệ tương lai. Nó tìm cách cải thiện sức khỏe cộng đồng và một cuộc sống chất lượng tốt hơn cho tất cả cư dân của nó bằng cách hạn chế chất thải, ngăn chặn ô nhiễm, bảo tồn và phát huy tối đa hiệu quả, và phát triển nguồn lực địa phương để khôi phục nền kinh tế địa phương” [13]. - Quan điểm của Argentina về phát triển đô thị bền vững: “Một thành phố bền vững kết hợp hài hòa yếu tố môi trường với các ngành kinh tế và xã hội để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến những thế hệ tương lai” [13]. - Theo Viện Môi Trường Stockholm của Thụy Điển, một thành phố bền vững có thể được định nghĩa là “một thành phố tại đó tiến hành các hành động được đề ra bởi các chính sách kế hoạch nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên sẵn có và thực hiện tái sử dụng, ổn định xã hội, phát triển các nguồn vốn chủ sở hữu, đảm bảo phát triển kinh tế cho các thế hệ tương lai” [13].
10 * Ở Việt Nam: - Theo Viện Quy Hoạch Đô Thị - Nông Thôn - Bộ Xây Dựng (Dự án VIE), trên cơ sở các khái niệm về phát triển bền vững, một phạm trù phát triển đô thị bền vững cũng được xây dựng mang tính đặc thù hơn. Nhìn chung phát triển bền vững đô thị tập trung giải quyết các vần đề sau: * Phát triển kinh tế đô thị ổn định, tạo công ăn việc làm cho dân cư đô thị, đặc biệt cho người có thu nhập thấp, người nghèo đô thị. * Đảm bảo đời sống vật chất văn hóa tinh thần, giữ gìn bản sắc truyền thống dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội. * Tôn tạo, giữ gìn và bảo vệ môi trường đô thị luôn xanh, sạch, đẹp với đầy đủ ý nghĩa vật thể và phi vật thể đô thị [25].
Như vậy phát triển đô thị bền vững luôn đồng hành với phát triển bền vững nói chung. Đương nhiên, theo ý nghĩa này, phát triển đô thị bền vững không bó hẹp theo quan điểm và nhiệm vụ của các nhà quy hoạch mà cần mở rộng hơn nhiều lĩnh vực. Phát triển đô thị cần được lồng ghép và tiếp cận theo cách nhìn nhận mà các tổ chức Quốc tế đã đồng thuận đề ra đó là: + Là nơi ở cho tất cả mọi người, khái niệm này ý chỉ việc cải thiện nơi ở thông qua việc thực hiện chính sách nhà ở quốc gia. Hình thành thị trường nhà ở với những chức năng đầy đủ và thích hợp.
Huy động sự tham gia của cộng đồng. Cải thiện và đảm bảo tính pháp lý và an toàn về quyền sử dụng đất. Cải thiện việc huy động tài chính nhà ở. Và cung cấp đầy đủ cở sở hạ tầng dịch vụ cơ bản.
Giảm nghèo đói đô thị ở đây có 3 tiêu chí nghèo đô thị là nghèo tiền, nghèo bất động sản và nghèo quyền do đó cần có một chính sách toàn diện mới giải quyết được 3 tiều chí quan trọng này. Muốn vậy cần xây dựng một cơ chế bền vững về phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường tại cộng đồng dân cư đặc biệt là đối với người nghèo. Cung cấp đầy đủ thông tin cho cộng đồng để họ có thể tiếp cận học hỏi thực hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình [25]. Quản lý môi trường đô thị là cải thiện các điều kiện môi trường và làm giảm các chất thải sinh hoạt và các chất thải công nghiệp trong đô thị.
Cải tiến công tác tiếp cận đồng bộ trong viêc cung cấp các dịch vụ môi trường. Bảo vệ môi trường, đảm 11 bảo sức khỏe, an toàn dịch bệnh để hỗ trợ đầy đủ phát triển đô thị bền vững [25]. Phát triển kinh tế địa phương cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đều công nhận chính sách phi tập trung là cần thiết và có hiệu quả.