Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý đô thị và công trình (mã số 62.06) với đề tài "Quản lý mạng lưới đường đô thị các đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu" do nghiên cứu sinh Hồ Văn Đáng thực hiện tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thanh Nghị và PGS. Vũ Thị Vinh, bảo vệ năm 2019.

Về tính cấp thiết, vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm 13 tỉnh, thành phố với dân số 18 triệu người (chiếm 20% cả nước, hơn 80% sống ở nông thôn), diện tích chiếm khoảng 40,3% diện tích toàn quốc. Địa hình khu vực thấp và bằng phẳng, cao độ trung bình chỉ từ 0,7 m đến 1,2 m so với mực nước biển. Hằng năm, khoảng 50% diện tích vùng bị ngập lũ từ 3 đến 4 tháng và 40% diện tích bị xâm nhập mặn. Hai đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam là thành phố Cà Mau (tỉnh lỵ tỉnh Cà Mau) và thành phố Rạch Giá (tỉnh lỵ tỉnh Kiên Giang) giữ vai trò đầu mối kinh tế, văn hóa, chính trị của khu vực ven biển Tây Nam. Hai đô thị này nằm ở cuối nguồn sông Mê Kông đổ ra biển, đồng thời là đầu nguồn tiếp nhận chế độ triều của vịnh Thái Lan. Khi xảy ra triều cường kết hợp mưa lớn, hệ thống hạ tầng giao thông đô thị bị ngập lụt, xói lở nghiêm trọng.

Theo số liệu kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường được luận án trích dẫn, mức độ ngập lụt tại hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang tăng mạnh theo các mức nước biển dâng:

Tỉnh Diện tích (ha) Mực nước biển dâng 50 cm (%) Mực nước biển dâng 60 cm (%) Mực nước biển dâng 70 cm (%) Mực nước biển dâng 80 cm (%) Mực nước biển dâng 90 cm (%) Mực nước biển dâng 100 cm (%)
Cà Mau 528.870 8,74 13,70 21,90 30,30 40,90 57,70
Kiên Giang 573.690 7,77 19,80 36,30 50,80 65,90 76,90

Nếu mực nước biển dâng lên đến 1,5 m, diện tích bị chìm trong nước của tỉnh Kiên Giang sẽ vượt quá 95%. Trong khi đó, mạng lưới đường của hai đô thị tỉnh lỵ được xây dựng qua nhiều thời kỳ, quy mô mặt cắt hẹp, tỷ lệ đất dành cho giao thông thấp, thiếu bãi đỗ xe và công tác bảo trì thiếu hụt kinh phí.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Công tác quản lý mạng lưới đường tại các đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam vùng ĐBSCL vẫn ở trạng thái bị động, chưa tích hợp yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu vào quy trình quy hoạch, thiết kế, đầu tư xây dựng, khai thác và tổ chức bộ máy. Đặc biệt, thành phố Rạch Giá có nhiều khu vực xây dựng trên nền đất lấn biển, còn thành phố Cà Mau có địa hình sông ngòi chằng chịt, đòi hỏi phải có mô hình quản lý chuyên biệt phù hợp với đặc thù tự nhiên.

Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp quản lý mạng lưới đường đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu tại các đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng.

Đối tượng nghiên cứu: Quản lý mạng lưới đường đô thị các đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó tập trung vào:

  1. Mạng lưới đường bộ đô thị;
  2. Các chủ thể quản lý gồm các sở, ngành tại địa phương, Ủy ban nhân dân thành phố và cộng đồng dân cư.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Nội dung: Tập trung vào quản lý mạng lưới đường đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu để giải quyết tình trạng úng ngập, sạt lở do nước biển dâng, triều cường và mưa lớn.
  • Thời gian: Phù hợp với định hướng phát triển các đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
  • Không gian: Hai đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam gồm thành phố Cà Mau (tỉnh Cà Mau) và thành phố Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại các công trình và kinh nghiệm quản lý mạng lưới đường thích ứng với biến đổi khí hậu ở phạm vi quốc tế và trong nước:

Ở nhóm các nước phát triển:

  • Thành phố New York (Hoa Kỳ): Giai đoạn 2008–2011 đã xây dựng quy trình thích ứng gồm 7 bước: (1) Xác định mối nguy hiểm khí hậu hiện tại và tương lai; (2) Kiểm kê cơ sở hạ tầng và xác định điểm yếu bất cập; (3) Xây dựng chiến lược thích ứng ưu tiên; (4) Chuẩn bị và thực hiện kế hoạch hành động phục hồi; (5) Xác định cơ hội phối hợp đa bên; (6) Theo dõi, đánh giá thiệt hại; (7) Tận dụng cơ hội phát triển.
  • Công trình Afsluitdijk (Hà Lan): Khởi công sau trận bão năm 1916 làm vỡ đê khiến 16 người chết và ngập 300 km². Tuyến đê biển dài hơn 32 km, rộng 90 m, cao trình ban đầu 7,25 m trên mực nước biển trung bình, thi công từ năm 1927 đến 1933, kết hợp chức năng đê ngăn lũ và đường cao tốc. Sau các đợt lũ thập niên 1990, Hà Lan chuyển từ tư duy chinh phục thiên nhiên sang "sống chung với lũ", ứng dụng công nghệ định vị GPS theo dõi mực nước biển, sử dụng bê tông hút nước chống ngập úng và vật liệu tái chế làm đường.

Ở nhóm các nước đang phát triển:

  • Khu vực Mỹ Latinh và Caribbean (Nicaragua, Honduras): 80% dân số sống ở đô thị, thường xuyên chịu bão lốc, sạt lở và lũ quét; công tác quản lý đường bộ gặp khó khăn do nguồn lực kinh tế hạn chế.
  • Thành phố Yangon (Myanmar): Thực hiện lồng ghép yếu tố biến đổi khí hậu vào quy hoạch mạng lưới đường và quy hoạch sử dụng đất, thành lập trung tâm thông tin khí hậu, tổ chức đơn vị liên ngành điều phối chiến lược thích ứng.
  • Thành phố Olongapo (Philippines): Thành lập Hội đồng điều phối thiên tai thành phố (CDCC) để phân vùng mạng lưới đường theo mức độ nguy hiểm, kiểm soát tuyến đường huyết mạch phục vụ sơ tán dân cư và huy động cộng đồng tham gia khắc phục hậu quả thiên tai.

Tại Việt Nam:

  • Thành phố Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên): Đô thị loại II duyên hải Nam Trung Bộ, bờ biển bị sạt lở nặng tại phường Phú Đông và Phú Lâm, sóng biển từng đánh sập gần 200 m đường Đinh Tiên Hoàng và bồi lấp cát dày hơn 50 cm. Địa phương ban hành Quyết định số 05/2013/QĐ-UBND quản lý hạ tầng kỹ thuật, áp dụng giải pháp kè áp mái kết hợp mỏ hàn và đỉnh kè làm đường giao thông, phân chia 3 vùng xói lở.
  • Thành phố Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh): Đô thị loại I với bờ biển dài gần 50 km, chia cắt thành khu vực Hòn Gai và Bãi Cháy; mưa lớn gây sạt lở tại nút giao Đại Yên trên cao tốc Hạ Long – Vân Đồn, đòi hỏi rà soát quy hoạch khu dân cư và di dời các điểm có nguy cơ sạt lở cao.
  • Các đô thị khác: Luận án phân tích tình trạng ngập triều tại Cần Thơ, sạt lở ở Quảng Nam, ùn tắc tại Hà Nội, giải pháp tuyến đường ven biển Nguyễn Tất Thành và Trung tâm điều khiển giao thông tại Đà Nẵng.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây tại ĐBSCL chủ yếu tập trung vào vấn đề thủy lợi, nông nghiệp, sinh kế hoặc quy hoạch đô thị chung. Chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống về cơ chế quản lý nhà nước đối với mạng lưới đường bộ cho các đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam – nơi đồng thời chịu tác động của triều vịnh Thái Lan, ngập lũ hạ lưu sông Mê Kông và quá trình lấn biển mở rộng không gian đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý và lý luận quản lý đô thị:

  • Cơ sở pháp lý: Hệ thống Luật Giao thông đường bộ, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Bảo vệ môi trường; Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị; Quyết định số 1373/QĐ-TTg ngày 06/8/2010 công nhận TP. Cà Mau là đô thị loại II; Quyết định số 268/QĐ-TTg ngày 18/2/2014 công nhận TP. Rạch Giá là đô thị loại II; các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật (TCVN, QCVN).
  • Khái niệm và khung lý thuyết: Định nghĩa đô thị, đô thị tỉnh lỵ, hệ thống giao thông đô thị, công trình đường bộ, quy hoạch và quản lý quy hoạch mạng lưới đường; khái niệm biến đổi khí hậu, thích ứng, giảm nhẹ và kịch bản biến đổi khí hậu. Luận án vận dụng sơ đồ chỉ số thích ứng và giảm nhẹ của đô thị đối với biến đổi khí hậu.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm 7 phương pháp:

  1. Phương pháp khảo sát điều tra: Khảo sát thực địa hiện trạng các tuyến đường, mặt cắt ngang, chất lượng mặt đường, cống ngăn triều, tình trạng ngập lụt, sạt lở tại thành phố Cà Mau và thành phố Rạch Giá; thu thập thông tin về bộ máy quản lý tại các Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải, Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Quản lý đô thị.
  2. Phương pháp kế thừa: Tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu khoa học, số liệu khí tượng thủy văn, kịch bản biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL.
  3. Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà khoa học, cán bộ quản lý chuyên ngành quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật và môi trường thông qua các hội thảo chuyên đề.
  4. Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích số liệu thứ cấp, văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo kinh tế - xã hội để so sánh các chỉ tiêu kỹ thuật mạng lưới đường.
  5. Phương pháp dự báo: Đánh giá xu hướng gia tăng phương tiện cá nhân, nhu cầu vận tải và mức độ ngập lụt do nước biển dâng đến năm 2030, tầm nhìn 2050.
  6. Phương pháp tiếp cận hệ thống: Xem xét mạng lưới đường đô thị trong mối quan hệ đa ngành giữa giao thông bộ, giao thông thủy, thoát nước và tổ chức không gian.
  7. Phương pháp thực chứng ứng dụng: Kiểm chứng và lượng hóa các giải pháp quản lý trực tiếp trên địa bàn hai đô thị đại diện là TP. Cà Mau và TP. Rạch Giá.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Số liệu kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Niên giám thống kê và báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mau, tỉnh Kiên Giang, UBND thành phố Cà Mau và UBND thành phố Rạch Giá đến năm 2017; khảo sát ảnh chụp thực tế của tác giả vào tháng 9/2019.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan quản lý mạng lưới đường đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu

Chương 1 trình bày tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và khảo sát toàn diện hiện trạng mạng lưới đường tại hai đô thị nghiên cứu:

  1. Đặc điểm phát triển của hai đô thị:
  • Thành phố Cà Mau: Diện tích tự nhiên 24.922,80 ha, gồm 17 đơn vị hành chính (10 phường, 7 xã), dân số năm 2017 là 222.991 người, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 77 triệu đồng/năm. Đô thị có sông ngòi dày đặc, hệ thống rừng đước bao bọc bảo vệ dải ven bờ.
  • Thành phố Rạch Giá: Chạy dọc bờ biển Tây Nam, diện tích tự nhiên 105 km², gồm 12 đơn vị hành chính (11 phường, 1 xã), dân số 250.000 người (gồm các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa). Năm 2016, cơ cấu kinh tế gồm Thương mại – Dịch vụ – Du lịch chiếm 70,72%; Công nghiệp – Xây dựng chiếm 17,65%; Nông nghiệp – Thủy sản chiếm 12,64%; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 15,19%, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 41 triệu đồng/năm.
  1. Hiện trạng mạng lưới đường và phân khu cấu trúc giao thông: Tại TP. Cà Mau, hệ thống đối ngoại gồm tuyến Quản Lộ – Phụng Hiệp, đường tránh QL1A, QL63, đường vành đai 2. Giao thông nội ô hình thành 3 khu vực:
  • Khu vực gần biển (khu đô thị mới): Mật độ 2,74 km/km², mặt đường bê tông nhựa đạt tiêu chuẩn, mức độ ngập lụt cao do triều.
  • Khu vực trung tâm thành phố (khu phố cũ): Mật độ 2,38 km/km², mặt đường nhựa chất lượng thấp, hẹp, xuống cấp, ngập úng trung bình.
  • Khu vực ngoại vi và giáp biên: Mật độ 0,96 km/km², 80% là đường bê tông nông thôn, 20% đường nhựa, thường bị sạt lở bờ sông khi lũ về (như tại xã Tắc Vân). Hệ thống vận tải hành khách công cộng gồm 6 tuyến xe buýt kết nối đi Năm Căn, Thới Bình, Sông Đốc, U Minh – Khánh Hội, Phước Long, Ngã Năm.

Tại TP. Rạch Giá, mạng lưới giao thông đường bộ có 352 tuyến với tổng chiều dài 261,939 km (gồm 220,163 km đường nội đô và 41,776 km đường giao thông nông thôn); trong đó có 47 tuyến đường chính và 305 tuyến khu vực, nông thôn. Hệ thống đối ngoại gồm cao tốc Lộ Tẻ – Rạch Giá, nâng cấp QL80, QL63, QL61, đường Xuyên Á. Không gian giao thông chia thành 3 khu vực:

  • Khu vực 1 (ven biển, đô thị mới lấn biển): Trải dài hơn 20 km dọc bờ biển Tây, cấu trúc ô cờ, mặt cắt rộng, mật độ 3,21 km/km², mặt đường bê tông nhựa, chịu ảnh hưởng ngập lụt và triều dâng ở mức độ cao.
  • Khu vực 2 (trung tâm đô thị cũ): Cấu trúc ô cờ mật độ cao (2,89 km/km²), tỷ lệ ô tô cá nhân cao gây ùn tắc, cốt cao độ mặt đường thấp hơn khu lấn biển gần 1 m, trên 60% tuyến đường có bề rộng lòng đường dưới 10 m, hệ thống cống thoát nước xuống cấp gây ngập úng cục bộ (như khu vực Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Kiên Giang).
  • Khu vực 3 (ngoại vi và giáp biên): Mật độ 1,21 km/km², chủ yếu là đường bê tông nông thôn (chiếm 80%), mặt đường nhỏ dưới 10 m, mức độ ngập thấp nhưng kết nối kém, nhiều cầu nhỏ qua kênh rạch (như xã Phi Thông).
  • Công trình đầu mối: Thành phố có 8 cây cầu bê tông cốt thép chính (Rạch Sỏi, An Hòa, 3-2, Sông Kiên, Kinh Nhánh, Bưu Điện, Bệnh Viện, Lạc Hồng); 2 bến xe khách liên tỉnh (Rạch Giá và Rạch Sỏi). Về kiểm soát triều mặn, trong 5 cửa sông giáp biển mới chỉ có 2 cống ngăn mặn kiên cố, 3 cửa sông còn lại hằng năm phải đắp đập tạm tốn kém. Hệ thống xe buýt có trên 100 đầu xe hoạt động trên mạng lưới 87 km với tần suất 9 chuyến/ngày, đáp ứng 80% nhu cầu thực tế.
  1. So sánh chỉ tiêu kỹ thuật mạng lưới đường:
Chỉ số kỹ thuật Thành phố Cà Mau Thành phố Rạch Giá Yêu cầu quy chuẩn
Mật độ đường khu vực nội thành (km/km²) 2,704 3,200 Đạt chuẩn
Tỷ lệ diện tích đường trên diện tích đất đô thị (%) 3,2% 4,7% Tối thiểu > 10%
Tỷ lệ diện tích bãi đỗ xe trên diện tích đất đô thị (%) 0,012% 0,077% Tối thiểu 4%
Tỷ lệ phục vụ của vận tải hành khách công cộng (%) 11,5% 19,0% Mức trung bình
  1. Tác động của biến đổi khí hậu: Nhiệt độ tăng làm nứt, hằn lún vệt bánh xe trên mặt đường nhựa, gây cong vênh đường ray cẩu tại cảng Rạch Giá; triều cường và nước biển dâng gây sạt lở đê kè ven biển, xói lở đường giao thông nông thôn và làm xuống cấp đường băng sân bay Rạch Giá; mưa lớn kéo dài gây quá tải hệ thống thoát nước ngang đường tại các khu phố cũ.

Chương 2. Cơ sở khoa học quản lý mạng lưới đường đô thị các đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu

Chương 2 luận chứng các căn cứ khoa học cho công tác quản lý mạng lưới đường:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn xây dựng: Phân tích các quy định về phân loại đường đô thị, tiêu chuẩn mặt cắt ngang, quy trình cắm mốc giới, giải phóng mặt bằng, quản lý hành lang an toàn đường bộ và công tác bảo trì.
  • Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng vùng ven biển Tây: Phân tích bản đồ nguy cơ ngập úng với kịch bản nước biển dâng 100 cm của tỉnh Cà Mau và Kiên Giang, cùng diễn biến xâm nhập mặn sâu vào nội đồng qua hệ thống sông rạch.
  • Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước mạng lưới đường: Xác định các nội dung quản lý bao gồm quản lý quy hoạch, quản lý quỹ đất xây dựng ngoài thực địa, quản lý thiết kế kỹ thuật thích ứng, kiểm soát khớp nối hạ tầng kỹ thuật (thoát nước, cốt nền xây dựng), tổ chức bộ máy và huy động cộng đồng.
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí mạng lưới đường thích ứng với biến đổi khí hậu: Đúc kết từ tiêu chí đô thị thích ứng để xác lập các tiêu chí về khẩu độ thoát nước, độ bền kết cấu áo đường trước môi trường ngập mặn, khả năng kết nối thay thế khi xảy ra sự cố thiên tai, và tỷ lệ phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch.
  • Đúc kết bài học kinh nghiệm: Khái quát kinh nghiệm xây dựng hệ sinh thái giao thông kết hợp chống ngập của Bangkok (Thái Lan), quản lý rủi ro thiên tai của Cebu (Philippines), giải pháp tuyến đường bao biển và trung tâm điều khiển giao thông của Đà Nẵng, công tác tôn cao cốt nền và đê bao ngăn triều của Cần Thơ.

Chương 3. Đề xuất một số giải pháp quản lý mạng lưới đường đô thị các đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu

Chương 3 đưa ra các nhóm giải pháp quản lý đồng bộ:

  • Quan điểm và nguyên tắc: Quản lý mạng lưới đường phải đặt trong quy hoạch tổng thể không gian đô thị, kết hợp hài hòa giải pháp công trình và phi công trình, tôn trọng quy luật tự nhiên, chuyển hướng từ "ngăn chặn triệt để" sang "thích ứng có kiểm soát".
  • Nhóm giải pháp phân vùng quy hoạch mạng lưới đường:
    • Khu vực 1 (Ven biển, lấn biển): Trồng dải rừng phòng hộ chắn sóng ven bờ; xây dựng đê biển, kè biển kết hợp đường giao thông; kiên cố hóa 3 cống ngăn mặn còn lại tại các cửa sông đổ ra biển Tây của TP. Rạch Giá; thiết kế mạng lưới đường tích hợp trạm bơm chìm thoát nước cục bộ.
    • Khu vực 2 (Trung tâm đô thị cũ): Nâng cấp, cải tạo các tuyến đường có cốt nền thấp; thay thế cống thoát nước đường kính nhỏ; tổ chức hệ thống giao thông một chiều tại các tuyến phố hẹp; kiểm soát chặt chẽ việc đào vỉa hè, lòng đường; phát triển xe điện mini kết nối các bến bãi đỗ xe tập trung.
    • Khu vực 3 (Ngoại vi và giáp biên): Bê tông hóa đường giao thông nông thôn kết hợp gia cố taluy chống sạt lở bờ sông; trồng cây xanh bảo vệ bờ kênh; xây dựng các tuyến đường kết hợp bến đò ngang bảo đảm an toàn kết nối đường bộ với đường thủy.
  • Nhóm giải pháp phát triển giao thông đa phương thức: Kết nối mạng lưới xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch, xe điện với các bến tàu thủy nội địa; hình thành các trục đường dành riêng cho xe đạp và người đi bộ kết nối với quảng trường, công viên ven biển.
  • Nhóm giải pháp kiện toàn bộ máy quản lý:
    • Đề xuất sơ đồ tổ chức cơ quan quản lý mạng lưới đường theo mô hình quản lý hợp nhất, khắc phục sự chồng chéo giữa Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng và Ủy ban nhân dân thành phố.
    • Đề xuất cải tiến cơ cấu tổ chức và vị trí việc làm của Phòng Quản lý đô thị thuộc thành phố Cà Mau và thành phố Rạch Giá, bổ sung bộ phận chuyên trách về hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu và quản lý hệ thống thông tin giao thông.
  • Nhóm giải pháp cơ chế, chính sách và cộng đồng: Ban hành quy định bắt buộc đánh giá tác động biến đổi khí hậu trong quy trình lập dự án giao thông đô thị; lập quỹ tài chính bảo trì đường bộ ứng phó thiên tai; thiết lập cơ chế công khai thông tin ngập lụt, triều cường để người dân chủ động lựa chọn lộ trình và tham gia giám sát, bảo dưỡng hạ tầng đường phố.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 5 đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:

  1. Xác định hệ thống các yếu tố tác động đặc thù của biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng, triều cường, nước biển dâng, mưa lớn cực đoan) đến kết cấu và công năng mạng lưới đường đô thị tại hai đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam vùng ĐBSCL.
  2. Xây dựng bộ tiêu chí quản lý mạng lưới đường đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, làm cơ sở đánh giá mức độ an toàn và tính bền vững của công trình giao thông đô thị.
  3. Đề xuất sơ đồ phân vùng đô thị theo 3 khu vực không gian (khu vực ven biển/lấn biển, khu vực trung tâm phố cũ, khu vực ngoại vi giáp biên) để áp dụng các giải pháp quy hoạch và quản lý mạng lưới đường phù hợp với từng điều kiện địa hình, thủy văn.
  4. Đề xuất mô hình tổ chức bộ máy quản lý mạng lưới đường hợp nhất cấp tỉnh và giải pháp cải tiến cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Phòng Quản lý đô thị tại hai thành phố Cà Mau và Rạch Giá.
  5. Đề xuất bổ sung các quy định về cơ chế, chính sách, quy chuẩn kỹ thuật (cốt cao độ san nền, vật liệu chịu ngập mặn, lồng ghép kịch bản biến đổi khí hậu) trong công tác quản lý quy hoạch, đầu tư và bảo trì mạng lưới đường đô thị.

Về kiến nghị, tác giả đề xuất:

  • Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông vận tải ban hành hướng dẫn lồng ghép yếu tố biến đổi khí hậu vào quy chuẩn thiết kế đường đô thị vùng ngập nước ven biển.
  • Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau và Kiên Giang phê duyệt đề án kiện toàn tổ chức quản lý hạ tầng giao thông đô thị, ưu tiên nguồn vốn hoàn thiện hệ thống cống ngăn mặn kiên cố tại Rạch Giá và nâng cấp hệ thống thoát nước trung tâm TP. Cà Mau.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án tập trung nghiên cứu mạng lưới đường bộ của hai đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam (Cà Mau và Rạch Giá); chưa đi sâu phân tích toàn diện mạng lưới đường thủy nội địa và hệ thống cảng biển chuyên dụng trong vùng.
  • Phạm vi không gian giới hạn ở dải ven biển Tây Nam, chưa bao quát các đô thị thuộc dải duyên hải phía Đông vùng ĐBSCL vốn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều Biển Đông.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các đô thị ven biển khác trong vùng ĐBSCL nhằm kiểm chứng khả năng áp dụng của bộ tiêu chí thích ứng.
  • Đi sâu nghiên cứu công nghệ vật liệu mới (như bê tông rỗng thoát nước, bê tông bền sunfat chịu mặn) và ứng dụng hệ thống giao thông thông minh (ITS) để giám sát ngập lụt theo thời gian thực.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng:

  • Các cơ quan quản lý nhà nước: Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân thành phố Cà Mau và Rạch Giá có thể vận dụng mô hình phân vùng và giải pháp cải tiến tổ chức bộ máy Phòng Quản lý đô thị vào thực tế địa phương.
  • Các chuyên gia quy hoạch và kỹ sư hạ tầng: Tham khảo phương pháp tích hợp kịch bản nước biển dâng vào quy hoạch giao thông đô thị và thiết kế mặt cắt ngang đường ven biển, đường lấn biển.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu trong các chuyên ngành Quản lý đô thị, Quy hoạch vùng và đô thị, Kỹ thuật hạ tầng đô thị.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án lựa chọn phạm vi nghiên cứu tại những địa bàn cụ thể nào?
    Nghiên cứu tập trung vào hai đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm thành phố Cà Mau (tỉnh Cà Mau) và thành phố Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang), với tầm nhìn quy hoạch đến năm 2030 và 2050.

  2. Theo kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, diện tích ngập của Cà Mau và Kiên Giang thay đổi ra sao khi mực nước biển dâng 100 cm?
    Khi mực nước biển dâng 100 cm, tỷ lệ diện tích bị ngập của tỉnh Cà Mau là 57,70% (trên tổng diện tích 528.870 ha) và của tỉnh Kiên Giang là 76,90% (trên tổng diện tích 573.690 ha).

  3. Hiện trạng quỹ đất dành cho giao thông tại hai thành phố có đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật không?
    Không đáp ứng. Tỷ lệ diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị tại TP. Cà Mau chỉ đạt 3,2% và TP. Rạch Giá đạt 4,7%, thấp hơn nhiều so với yêu cầu quy chuẩn tối thiểu phải trên 10%. Diện tích bãi đỗ xe của cả hai thành phố đều dưới 0,1%, trong khi yêu cầu tối thiểu là 4%.

  4. Luận án phân chia không gian đô thị thành mấy khu vực để quản lý mạng lưới đường thích ứng với biến đổi khí hậu?
    Mạng lưới đường được phân thành 3 khu vực: Khu vực 1 (đô thị ven biển, khu đô thị mới lấn biển chịu triều cường cao); Khu vực 2 (khu đô thị trung tâm cũ có cốt nền thấp, mật độ cao, cống thoát nước xuống cấp); Khu vực 3 (khu vực ngoại vi, nông thôn giáp biên với mật độ đường thấp, nhiều cầu nhỏ, chịu ảnh hưởng lũ và sạt lở bờ sông).

  5. Đóng góp mới về mặt tổ chức bộ máy quản lý mạng lưới đường trong luận án là gì?
    Luận án đề xuất mô hình cơ quan quản lý mạng lưới đường hợp nhất cấp tỉnh nhằm khắc phục sự chồng chéo thẩm quyền giữa các sở, ngành, đồng thời cải tiến tổ chức bộ máy Phòng Quản lý đô thị tại TP. Cà Mau và TP. Rạch Giá theo hướng bổ sung chức năng chuyên trách thích ứng biến đổi khí hậu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Văn Đáng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý mạng lưới đường đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu tại hai đô thị tỉnh lỵ ven biển Tây Nam vùng ĐBSCL là Cà Mau và Rạch Giá. Tác giả đã lượng hóa các tác động của triều cường, nước biển dâng, mưa cực đoan đến mạng lưới đường và đánh giá cụ thể thực trạng hạ tầng giao thông thấp kém của hai địa phương. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm phân vùng quy hoạch theo 3 khu vực không gian, phát triển giao thông tích hợp đa phương thức, kiện toàn bộ máy quản lý hợp nhất và bổ sung cơ chế, chính sách kỹ thuật phù hợp với điều kiện tự nhiên đặc thù của vùng ven biển Tây Nam.