Chương 1: Tổng quan về thực trạng và những vấn đề về tích hợp BĐKH đối với quy hoạch thoát lũ tại khu đô thị vệ tinh Xuân Mai, Hà Nội. Chương 2: Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu với quy hoạch thoát lũ tại khu đô thị vệ tinh Xuân Mai, Hà Nội. Chương 3: Kết quả tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu với quy hoạch thoát lũ tại khu đô thị vệ tinh Xuân Mai, Hà Nội. - Phần kết luận, khuyến nghị.
- Tài liệu tham khảo 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TÍCH HỢP BĐKH VỚI THOÁT LŨ TRONG QUY HOẠCH ĐÔ THỊ VỆ TINH XUÂN MAI, HUYỆN CHƢƠNG MỸ, HÀ NỘI 1. Các khái niệm và thuật ngữ Khí hậu (Climate): Theo nghĩa hẹp, khí hậu thƣờng đƣợc định nghĩa là „thời tiết trung bình‟, hoặc cụ thể hơn, là sự mô tả thống kê về dao động trung bình của các biến số khí hậu trong khoảng thời gian từ hàng tháng cho đến hàng nghìn hoặc hàng triệu năm. Khoảng thời gian chung thƣờng đƣợc áp dụng là 30 năm theo định nghĩa của Tổ chức Khí tƣợng thế giới (WMO). Những biến số này thƣờng là các chỉ số bề mặt, nhƣ nhiệt độ, mƣa và gió.
Theo nghĩa rộng, khí hậu là trạng thái của hệ thống khí hậu, bao gồm cả mô tả thống kê. Biến đổi khí hậu (Climate change): Sự thay đổi của khí hậu do hoạt động của con ngƣời trực tiếp hay gián tiếp gây ra, làm thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu. BĐKH bổ sung cho các dao động khí hậu quan sát đƣợc trong các khoản thời gian có thể so sánh đƣợc. Các tác động tích hợp (Aggregate impacts): Tổng các tác động đƣợc tích hợp với nhau giữa các ngành và/hoặc các vùng.
Sự tích hợp các tác động đòi hỏi phải hiểu rõ (hoặc có các giả định về) tầm quan trọng tƣơng đối của các tác động ở các ngành và các vùng khác nhau. Một ví dụ của số đo về các tác động tích hợp là tổng số ngƣời bị ảnh hƣởng hoặc tổng thiệt hại về kinh tế. Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị: Là công tác quy hoạch bao gồm một hệ thống đồ án ở 3 cấp: 1. Chiến lƣợc phát triển đô thị quốc gia là một bộ phận của chiến lƣợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cả nƣớc 2.
Sơ đồ quy hoạch vùng áp dụng cho các vùng kinh tế trọng điểm liên tỉnh hoặc miền, các vùng liên tỉnh, các vùng thành phố lớn và các vùng chuyên ngành đặc trƣng. Các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị cho từng đô thị riêng lẻ hoặc các chùm và cụm đô thị, quy hoạch chi tiết các bộ phận chức năng trong đô thị và các dự án đầu tƣ xây dựng Quy hoạch chung xây dựng đô thị (còn đƣợc gọi là quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị): là quy hoạch xác định phƣơng hƣớng nhiệm vụ cải tạo và xây dựng đô thị về phát triển không gian, cơ sở hạ tầng và tạo lập môi trƣờng sống thích hợp với các hoạt động phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội khác. 5 z Quy hoạch chi tiết: Cụ thể hoá ý đồ của quy hoạch chung xây dựng đô thị. Đồ án quy hoạch chi tiết phân chia và quy định cụ thể chế độ sử dụng đất đai cho từng chức năng công cộng hoặc riêng lẻ, xác định các chỉ giới xây dựng, phân rõ chức năng cụ thể và tỷ trọng xây dựng cho từng loại đất theo một cơ cấu thống nhất.
Ngoài ra, nó còn nghiên cứu bố trí các hạng mục công trình xây dựng trong từng lô đất nhằm nêu rõ ý đồ về bố cục không gian kiến trúc quy hoạch. Tỷ lệ của quy hoạch chi tiết thƣơng nghiên cứu ở mức 1/2000, 1/1000, 1/500 tuỳ theo quy mô và mức độ yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra Quy hoạch vùng: Xác lập sự phân bố các lực lƣợng sản xuất, hệ thống dân cƣ đô thị và nông thôn trên phạm vi không gian lãnh thổ của một miền, một tỉnh hay một vùng đô thị lớn. Sơ đồ quy hoạch vùng đƣợc lập cho các loại vùng lãnh thổ có chức năng tổng hợp chuyên ngành nhƣ: Quy hoạch vùng công nghiệp, quy hoạch vùng nông nghiệp, Quy hoạch vùng du lịch, nghỉ ngơi, quy hoạch vùng phân bố dân cƣ đô thị và nông thôn, Quy hoạch vùng ngoại thành các thành phố lớn. Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu Trong tiếng Latin, tích hợp (integratus) đƣợc hiểu là tạo ra một tổng thể thông qua phối hợp các thành phần.
Trong tiếng Anh, từ điển Cambridge định nghĩa tích hợp (integration) là kết hợp hai hoặc nhiều thứ để chúng làm việc với nhau hiệu quả hơn. “Tích hợp” là một loại hành động nhằm liên kết nhiều thành phần riêng biệt vào trong một quy luật hệ thống, chấm dứt tính trạng rời rạc của chúng, khiến chúng phối hợp hoạt động với nhau hiệu quả hơn. Tích hợp đồng nghĩa với hội nhập hệ thống, và trái nghĩa với phân mảnh. “Tƣ duy tích hợp” đồng nghĩa với “tƣ duy hệ thống”.
“Tích hợp” không đồng nghĩa với “sáp nhập” bởi nó không xóa bỏ sự tồn tại toàn vẹn của mỗi cá thể. Định nghĩa „tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu‟ đƣợc rút ra từ định nghĩa về “tích hợp chính sách” (policy integration) của Underdal (1980) [20] và định nghĩa về “tích hợp chính sách môi trƣờng” (environmental policy integration) của Laffty và Hovden (2003) [24] bằng cách thay „môi trƣờng‟ bằng „khí hậu‟. Theo cách này, định nghĩa của „tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu‟ (climate policy integration) có thể diễn giải nhƣ sau: Đƣa các mục tiêu thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu vào tất cả các bƣớc của quá trình hoạch định chính sách của tất cả các ngành; Tổng hợp các tác động đến các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu trong khi tiến hành đánh giá và xây 6 z dựng chính sách tổng thể, do đó, sẽ làm giảm mâu thuẫn giữa các chính sách liên quan đến biến đổi khí hậu và các chính sách khác. Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu do đó có thể đảm bảo rằng các chƣơng trình phát triển chính sách không làm tăng rủi ro trƣớc những thay đổi về khí hậu ở hiện tại và tƣơng lai.
[18] Tích hợp vấn đề khí hậu đang trở thành khái niệm trọng tâm trong việc tích hợp phát triển bền vững vào các chính sách ngành năng lƣợng, giao thông và công nghiệp, tuy nhiên vẫn còn là một khái niệm cần đƣợc làm rõ hơn. Dựa vào những phân tích, đánh giá của Collier, Lafferty và Hovden (2003) [24] đã xây dựng khái niệm về tích hợp chính sách môi trƣờng đƣợc công nhận rộng rãi. Tích hợp vấn đề BĐKH không đơn giản chỉ dựa trên khái niệm nhƣ tích hợp chính sách môi trƣờng mà cần cách tiếp cận với nhiều công cụ chính sách khác biệt và là một dạng khác của tích hợp chính sách. Thực tế cho thấy vấn đề BĐKH cũng thƣờng đƣợc xem nhƣ là vấ đề về môi trƣờng tuy nhiên BĐKH khó có thể xác định một cách chính xác vì nó không tuân theo bất kỳ một quy luật môi trƣờng nào.
Nó cũng thiếu những yếu tố “dễ dàng định dạng” hay có thể giải quyết bằng công nghệ. Bên cạnh đó, những trở ngại liên quan đến hoạt động về tài chính, công nghệ, thể chế, quản lý cũng làm cho vấn đề BĐKH là một thách thức khác hẳn các vấn đề môi trƣờng. Với quan điểm tiếp cận hƣớng tới ứng phó với BĐKH, tích hợp vấn đề BĐKH gồm hai nội dung là tích hợp việc thích ứng với BĐKH và tích hợp việc giảm nhẹ BĐKH vào các chính sách. Dựa vào khái niệm của Uderal (1980), Lafferty và Hovden (2003), Chƣơng trình Hợp tác nghiên cứu về môi trƣờng của Châu Âu (PEER) đã đƣa ra một khái niệm khá toàn diện về tích hợp vấn đề BĐKH vào chính sách phát triển nhƣ sau: “Tích hợp vấn đề BĐKH là một quá trình: (1) Kết hợp các mục tiêu thích ứng và giảm nhẹ BĐKH vào tất cả các bƣớc của quá trình lập chính sách của mọi lĩnh vực; (2) Đánh giá kết quả của việc thích ứng và giảm nhẹ BĐKH cũng nhƣ các cam kết giảm thiểu mâu thuẫn giữa chính sách liên quan đến BĐKH với các chính sách khác”.
Tổng quan về Biến đổi khí hậu và tác động của Biến đổi khí hậu lên đô thị hiện nay 1. Biểu hiện của BĐKH toàn cầu Biến đổi khí hậu hiện nay là một thực tế đƣợc minh chứng bằng số liệu quan trắc khí hậu toàn cầu và những kết quả nghiên cứu khoa học về sự biến đổi của các 7 z thành phần khí quyển trong hệ thống khí hậu Trái đất và những nguyên nhân chủ yếu. Biểu hiện nổi bất nhất của biến đổi khí hậu là sự nóng lên toàn cầu xảy ra từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750) đến nay. Nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,74oC ± 0,18oC theo ƣớc tính bằng xu thế tuyến tính từ 1906-2005, mức tăng trong 50 năm cuối hầu nhƣ gấp đôi giai đoạn đầu (0.02°C trên 1 thập kỷ).
Các vùng đất liền ấm lên nhanh hơn các vùng đại dƣơng và rõ ràng ở tất cả các vĩ độ Biến đổi của nhiệt độ Nhiệt độ trung bình các vùng trên Trái đất Hình 1. Biểu hiện biến đổi của nhiệt độ ttừ thời kỳ tiền công nghiệp Trong thời kỳ 1901-2005, xu thế biến đổi của lƣợng mƣa rất khác nhau. Trên phạm vi toàn cầu, lƣợng mƣa cũng tăng lên ở các đới phía Bắc vĩ độ 30o thời kỳ 1901- 2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới từ giữa những năm 1970. Ở khu vực vĩ độ thấp, nhiệt đới, lƣợng mƣa giảm đi ở Nam Á và Tây Phi với trị số xu thế 7,5% cho thời kỳ 1901-2005.
Ở đới vĩ độ trung bình và vĩ độ cao, lƣợng mƣa tăng lên rõ rệt ở miền Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á, và Trung Á. Tần số lƣợng mƣa lớn bất thƣờng tăng lên ở nhiều khu vực, kể cả ở những nơi mà lƣợng mƣa có xu thế giảm đi. Thay đổi phạm vi lƣợng mƣa trung bình hàng năm [21] 8 z Xu thế nóng lên toàn cầu sẽ tiếp tục diễn ra trên phạm vi toàn cầu, khu vực và địa phƣơng trong một thời gian dài (thập kỷ và thế kỷ). Năm 2017, nhiệt độ trung bình toàn cầu cao hơn mức trung bình thời kỳ tiền công nghiệp 1.
Năm 2017 cũng là một trong 4 năm liên tục nóng nhất gần đây, chỉ đứng thứ hai, sau năm 2016 - năm nóng nhất trong lịch sử quan trắc nhiệt độ với nhiệt độ trung bình năm cao hơn trung bình thời kỳ tiền công nghiệp (1885) 1,1oC.