Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nguồn nhân lực KH&CN. Chương 2: Thực trạng quản lý nguồn nhân lực KH&CN hiện nay tại các đơn vi quan ly qui hoạch đô thị TP Hải Duong. Chương 3: Giải pháp đôi mới quan lý nhân lực KH&CN thông qua các dự án qui hoạch đô thị. 10 PHAN NOI DUNG CHUONG 1 CƠ SO LY LUẬN CUA QUAN LÝ NHÂN LUC KHOA HỌC VA CONG NGHE TRONG CAC DON VI QUY HOACH DO THI 1.
Quan ly nhân lực: 1. Khái niệm quan ly. Có nhiêu quan niệm khác nhau về quan lý. Có thê điêm qua một sô quan niệm như sau: F.Taylor trong tác phẩm Quản lý theo khoa hoc cho rang: “Quản lý một cách khoa học là một cuộc cách mang tu tưởng hoàn toàn của công nhân., về trách nhiệm của công nhân đối với công việc của họ., về cách đối xử của họ đối với những người cộng sự và đối với chủ.
Nếu không có những cuộc cách mạng như vậy thì không thể có việc quan lý một cách khoa học ”.Fayol trong tác phẩm Quản lý hành chính thì quan niệm: “Quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.Weber đã đưa ra một thé chế quản lý hành chính, tức là “thé chế quan liêu”, có nghĩa rang tổ chức này tiễn hành công việc quản lý thông qua chức vu và chức vi. - Khái niệm quản lý theo trường phái hiện đại. Quản lý là một tập hợp những hệ thống con trong một tổ chức hiệp tác, nhằm đạt được sự nhất trí cao nhất giữa tổ chức với môi trường làm việc và giữa các hệ thống con của một tô chức. Quá trình quản lý chỉ diễn ra khi có 2 yếu tố là chủ thé quản ly và đối tượng quản lý.
Chủ thé quản lý là người quan lý, đối tượng quản lý bao gồm các nguồn lực, nội dung quản lý, mục tiêu, kế hoạch và điều kiện, phương tiện quản lý. Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và 11 đối tượng quản lý luôn cụ thé và xác định. Đề có thé đạt được mục tiêu thì tổ chức phải luôn đảm bảo được sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của cả 2 bên. Tuy nhiên, quản lý chỉ xuất hiện khi có quyền lực của nhà lãnh đạo.
Với những nhà lãnh đạo khác nhau thì sẽ có những cách thức quản lý khác nhau và ảnh hưởng quyên lực lên đối tượng quản lý cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào sự phân cấp quản lý cho đối tượng quản lý. Chiu thể quản lý: cá nhân hoặc một tập thé người làm công tác quan lý. Đối tượng quản lý: là những người liên quan trực tiếp dưới quyền hoặc là những vật chiu tac động trực tiếp từ con người (nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra trong một môi trường xác định). Môi trường quản lý: các yêu tố thuộc các hệ thống nằm ngoài hệ thông được xem xét (hệ kinh tế, hệ xã hội, hệ tư tưởng, hệ tâm lý.) và có quan hệ tương tác với hệ thông được xem xét.
Công cụ quản lý: chính là các đường lối, chính sách, chiến lược, luật pháp, các quy định hiện hành của Nhà nước, của tô chức; những quy định, tiêu chí, chuẩn mực của doanh nghiệp. Nhà lãnh đạo giỏi là nhà lãnh đạo biết sử dụng linh hoạt những công cụ trong công tác quản lý của mình, từ đó nhằm thúc đây, khích lệ, động viên các hoạt động của con người. Quan niệm về quản lý của tác giả Luận văn: Trong phạm vi của luận văn, tác gia xin được phép sử dụng khái niệm: Quản lý là một chu trình nhằm giải quyết một nhiệm vụ, một mục tiêu cụ thể bằng những việc: dự báo, lập kế hoạch, xây dựng tô chức, xác định biên chế, lãnh đạo, thực hiện kế hoạch hoá và kiểm tra. Khai niệm nhân lực và quản lý nhân lực Bàn vê nhân lực là muôn nói đên sức mạnh của con người ở hiện thực hay tính hiện thực của sức mạnh.
Khái niệm nhân lực không gôm những sức mạnh ở dạng tiêm năng, hoặc những khả năng, những sức mạnh trong tương lai, sức mạnh đã có trong quá khứ mà ngày nay không còn nữa. Nhân lực 12 cũng không bao hàm sức mạnh hiện có nhưng không sử dụng dé sản sinh ra của cải vật chất tinh than. Đặc trưng cơ bản của nhân lực bao gồm: - Những sức mạnh hiện có của con người. - Đang trực tiếp tham gia vào quan hệ lao động.
Khái niệm này đặt ra cho các nhà quản lý vấn đề cần giải quyết, đó là tăng cường khả năng sử dụng sức mạnh của con người một cách có hiệu quả. Đồng thời phải liên tục duy trì, củng cỗ và phát triển sức mạnh đó. Vào thé kỷ XIX, F.Taylor đã nghiên cứu và mở ra trường phái quản lý theo khoa học, ông đã nhắn mạnh đến vai trò của người lao động, cần phải nâng cao hiệu suất, năng lực lao động của họ. Ông đã áp dụng chuyên môn hoá lao động, tối ưu hoá thao tác.
và đã thu được những thành công nhất định trong sản xuất, kinh doanh, tạo ra trào lưu quản lý theo khoa học lúc đó. Luận văn vừa đưa ra khái niệm nhân lực, trong thực tê sức mạnh nhân lực chỉ có thể phát huy tốt nếu biết cách quản lý tốt nhân lực đó. Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhân lực, đó là quản lý con người về mặt hành chính, là hoạt động áp dụng các nguyên tắc pháp lý. nhằm mục đích quản lý con người.
Như vậy quản lý nhân lực thiên về quản lý bản thân các cá nhân, quản lý họ một cách tuyệt đối. Hoạt động này được cấu thành bởi các hành vi quản lý cô điển như: tuyển dụng, đánh giá, thuyên chuyền, đề bạt, thăng tiễn. Quản lý nhân lực được thực hiện mà nhiều khi không tính đến nhu cầu của tô chức. Ví dụ: trong công tác tuyển dụng, nha quản lý thực hiện phương án thi tuyên, họ chọn lựa ra những thí sinh xuất sắc nhất trong số những người dự tuyển.
Sự xuất sắc ở đây được hiểu theo nghĩa không tính đến nhu cau thực tế mà tô chức đặt ra. Vì bản thân người dự tuyên có chuyên môn về lĩnh vực đó nhưng cái chuyên môn đó lại không đưa vào trong nội dung thi tuyển, khác với nhu cầu thực tế trong quá trình hoạt động chuyên môn của tô chức và đơn vi. 13 Các quản lý nhân lực như vừa nêu có những điểm yếu là: - Đơn giản hoá hành vi của con người trong tô chức và đơn vị; - Ít hoặc không quan tâm đến sự khác biệt của các cá nhân trong tổ chức; - Khó đánh giá được yêu cầu công việc và không kiểm tra được ảnh hưởng của công việc với hành vi của mỗi con người trong tô chức. Đề khắc phục các nhược điểm vừa nêu trên, quản lý nhân lực phải được phát triển trên cơ sở các nguyên tắc chủ yếu sau: - Mỗi con người cụ thể trong tổ chức cần phải được đầu tư thoả đáng để phát triển các năng lực riêng nhằm thoả mãn các nhu cầu cá nhân, đồng thời tạo ra năng suất lao động, hiệu quả làm việc cao và đóng góp tốt nhất cho tô chức.
- Ở tầm vĩ mô các chính sách, chương trình và thực tiễn quản lý cần được thiết lập và thực hiện sao cho có thể thoả mãn cả nhu cầu vật chất lẫn tinh thần của nhân viên. - Ở tầm vi mô, môi trường làm việc cần được thiết lập sao cho có thể kích thích nhân viên phát triển và sử dụng tối đa các kỹ năng của mình. Bởi vậy, các chức năng cơ bản của quản lý nhân lực là: - Phải thu hút được nguồn nhân lực từ bên ngoài tô chức; - Đề cao chức năng dao tạo va phát triển nhân lực; - Phải duy trì và ôn định nhân lực dé hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức. Quản lý nhân lực khoa học và công nghệ 1.
Khai niệm nhân lực khoa học và công nghệ OECD định nghĩa nhân lực KH&CN: nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có băng cấp và tham gia một cách thường xuyên (hệ thống) vào hoạt động KH&CN. 14 Nhân lực KH&CN là những người đáp ứng được một trong các tiêu chí sau: - Đã tốt nghiệp trường đảo tao có trình độ nhất định về chuyên môn KH&CN. - Không được đào tạo chính thức nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN, kỹ năng tay nghề được đảo tạo tại nơi làm việc. Như vậy, nhân lực KH&CN theo OCED được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm cả những lực lượng tiềm tàng chứ không chỉ những người đang tham gia hoạt động KH&CN.
UNESCO lại có định nghĩa khác, nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tô chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ, như vậy định nghĩa về nhân lực KH&CN của UNESCO không phân biệt nhân lực KH&CN theo băng câp mà chỉ quan tâm đên công việc hiện thời. Cho đến hiện nay, chưa đưa ra một định nghĩa chính thức về nhân lực KH&CN hay nguồn nhân lực KH&CN trong các tai liệu khoa học của Việt Nam. Trong luật khoa học công nghệ cũng như trong các văn bản hướng dẫn chưa đề cập đến thuật ngữ nay dưới dạng một định nghĩa chính thức. Một sỐ khái niệm cho rằng nhân lực khoa học công nghệ là một bộ phận của lao động xã hội được đào tạo ở những trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định và tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các hoạt động khoa học công nghệ từ nghiên cứu đến triển khai, đào tạo, quản lý và vận hành các hệ thống công nghệ.
Nguyễn Thị Anh Thư trong bài giảng về Phát triển nguồn nhân lực KH&CN, có thé sử dụng định nghĩa của UNESCO về nguồn nhân lực KH&CN áp dụng trong điều kiện của Việt Nam: “Nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không 15 co bang cấp và tham gia một cách thường xuyên (hệ thống) vào hoạt động KH&CN”. Trong luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ nhân lực KH&CN theo định nghĩa nói trên.