CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Về Biến đổi khí hậu 1.
Khái niệm Theo điểm 2, điều 1 của Công ước khung của Liên hiệp quốc về BĐKH (UNFCCC) năm 1992: BĐKH là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được. Theo Bộ TN - MT (2008) định nghĩa: BĐKH “là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn”. Theo nghiên cứu của Viện khoa học khí tượng thủy văn và BĐKH, “lồng ghép (mainstreaming) hay tích hợp (integrating) vấn đề BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch là: Đưa các mục tiêu thích ứng và giảm nhẹ BĐKH vào tất cả các bước của quá trình lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của ngành và tổng hợp các tác động đến các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ BĐKH trong khi tiến hành đánh giá và lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của ngành” [42]. Nguyên nhân, đặc trưng sự BĐKH, biểu hiện của BĐKH * Nguyên nhân gây ra BĐKH : Khí hậu bị biến đổi do 2 nhóm nguyên nhân: - Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm: Sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo Trái Đất, sự thay đổi vị trí và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dòng hải lưu, và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển.
- Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát từ sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như: sử dụng nguồn nước, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác [18]; việc đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, vv) phục vụ các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải; thay đổi mục đích sử dụng đất (bao gồm thay đổi trong nông nghiệp và nạn phá rừng). Ngoài ra còn một số hoạt động khác như đốt sinh khối, sản phẩm sau thu hoạch,. Các loại KNK chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6. Khí CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn KNK chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Hình 1. Tỷ lệ các chất khí gây hiệu ứng nhà kính Có thể thấy rằng các nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên đóng góp một phần rất nhỏ vào sự BĐKH và có tính chu kỳ kể từ quá khứ đến hiện nay. Theo các kết quả nghiên cứu và công bố từ Ủy Ban Liên Chính Phủ về BĐKH thì nguyên nhân gây ra BĐKH 90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên. Các khám phá liên quan đến nguyên nhân gây ra BĐKH do hoạt động của con người do Ủy Ban Liên Chính Phủ về BĐKH công bố đã cải thiện qua các năm như sau: Trong báo cáo của IPCC 1995: Thì cho rằng hoạt động con người chỉ đóng góp vào 50% nguyên nhân gây ra BĐKH; Trong báo cáo của IPCC 2001: là 67% ; IPCC 2007: 90% nguyên nhân gây ra BĐKH; IPCC 2013: 95% nguyên nhân gây ra BĐKH.
* Đặc trưng sự biến đổi khí hậu: Tất cả các trạm đo nhiệt độ đều có thể đo, đánh giá và xác nhận được bằng chứng về BĐKH. Hiện nay, nhiệt độ trung bình đã tăng lên tới 0,3 - 0,40C trong mấy chục năm vừa qua và hiện đang có xu hướng tăng tiếp. Theo NOAA, tháng 2/2015 ghi nhận nhiều khu vực đại dương và đất liền có nhiệt độ cao hơn 0,820 C so với trung bình tháng trong vòng 136 năm. Nhiệt độ trung bình tháng 2 toàn cầu trong thế kỷ 20 là 12,1 độ C.
(Hồi tháng 2/1998 cũng ghi nhận mức nhiệt cao hơn trung bình 0,860C. Đây là năm xảy ra hiện tượng El Nino, gây ảnh hưởng tới 110 triệu người và thiệt hại gần 100 tỷ USD cho kinh tế toàn cầu) [55]. * Biểu hiện của biến đổi khí hậu: Sự nóng lên của trái đất và bầu khí quyển. Mực nước biển dâng cao do hiện tượng băng tan.
Sự thay đổi về chất lượng, thành phần khí quyển có hại cho cuộc sống của con người và các sinh vật trên trái đất. Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người. Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác. Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển [62].
Biến đổi khí hậu (BĐKH) mà trước hết là nóng lên toàn cầu và nước biển dâng sẽ tác động nghiêm trọng đến đời sống con người trên phạm vi toàn cầu: theo dự báo đến năm 2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm: 2– 4 %, khi đó giá sẽ tăng: 13-45%, số người thiếu lương thực sẽ là 36 – 50%. Tại Việt Nam, trong 50 năm qua nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,70C, mực nước biển dâng cao khoảng 20 cm. Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan đã tác động đến nước ta ngày càng khốc liệt. Theo dự báo, đến năm 2100 nhiệt độ trung bình ở Việt Nam sẽ tăng lên 30C và mực nước biển dâng cao 1m.
Nước biển dâng cao là nguyên nhân chính gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng mạnh đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đến công nghiệp và các hoạt động kinh tế khác cũng như đời sống người dân. Các công trình hạ tầng được thiết kế theo tiêu chuẩn hiện tại khó lòng đáp ứng đầy đủ các dịch vụ trong tương lai. Như vậy, BĐKH là hiện tượng trái đất nóng dần lên do hiệu ứng nhà kính làm cho nhiệt độ ở các đại dương tăng dần lên, làm tan băng ở các vùng cực đới, dẫn tới khí hậu của trái đất biến đổi, hạn hán bão lũ xảy ra ngày một tăng, nước biển ngày một dâng cao. Về quy hoạch sử dụng đất 1.
Khái niệm, đặc điểm quy hoạch sử dụng đất * Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất bền vững: - Quy hoạch sử dụng đất: Đất đai là tiềm năng của quá trình phát triển do đất là tư liệu sản xuất đặc biệt và việc tổ chức sử dụng đất gắn chặt với sự phát triển của nền KT - XH. Do vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng KT - XH. Đây là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế và xã hội được xử lý bằng các phương pháp phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội để tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của xã hội một cách tiết kiệm khoa học và có hiệu quả cao nhất. Theo Dent (1988, 1993), quy hoạch sử dụng đất là phương tiện giúp cho nhà quản lý quyết định cách thức sử dụng đất đai thông qua đánh giá có hệ thống cho lựa chọn mô hình sử dụng đất đai, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai.
Một định nghĩa khác của Fresco và cộng sự (1992), quy hoạch sử dụng đất là một Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 hình thức của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu, chú trọng tới tiến trình xây dựng quyết định cấp cao và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác. Như vậy, Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng đất cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường. Về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất. Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển KT - XH của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình; Xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; Làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá - xã hội.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển KT - XH và các hậu quả khó lường về những tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương [25][30].