Luận án tiến sĩ quản lý đất đai cơ sở khoa học hoàn thiện bộ chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh có tính đến mối liên kết vùng và biến đổi khí hậu áp dụng cho tỉnh nam định

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hoàn thiện bộ chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh Nam Định, chú trọng liên kết vùng và biến đổi khí hậu.

Trường đại học

Đại học Khoa học Tự nhiên

Chuyên ngành

Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

199
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

1.2. Cơ sở lý luận về quy hoạch sử dụng đất có tính đến mối liên kết vùng và biến đổi khí hậu

1.3. Cách tiếp cận, phương pháp và các bước nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ TIÊU SỬ DỤNG ĐẤT TRONG QUY HOẠCH TỈNH CÓ TÍNH ĐẾN MỐI LIÊN KẾT VÙNG VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất có tính đến liên kết vùng và biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Hồng

2.2. Xây dựng bộ chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh có tính đến các yếu tố liên kết vùng và biến đổi khí hậu các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng

3. CHƯƠNG 3: XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU SỬ DỤNG ĐẤT KHU CHỨC NĂNG VÀ KHU THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2021-2030

3.1. Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường ảnh hưởng tới sử dụng đất tỉnh Nam Định

3.2. Đánh giá liên kết vùng của tỉnh Nam Định ảnh hưởng tới quy hoạch sử dụng đất

3.3. Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng tới sử dụng đất tỉnh Nam Định

3.4. Đề xuất chỉ tiêu khu chức năng sử dụng đất và khu thích ứng biến đổi khí hậu trong quy hoạch tỉnh Nam Định giai đoạn 2021 - 2030

3.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm ứng dụng bộ chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh có tính đến liên kết vùng và biến đổi khí hậu

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) là một công cụ quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ đất đai, đảm bảo nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế và ổn định xã hội. QHSDĐ không chỉ mang tính tích hợp mà còn có vai trò điều phối, khoanh vùng và phân bổ quỹ đất cho các ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, hiện nay, quy hoạch sử dụng đất tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc phân bổ các loại đất mà chưa chú trọng đến tính liên kết giữa các vùng. Điều này dẫn đến tình trạng sử dụng đất không hiệu quả, gây lãng phí tài nguyên. Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), việc lồng ghép các yếu tố này vào QHSDĐ là cần thiết để đảm bảo phát triển bền vững. Cần có một hệ thống chỉ tiêu sử dụng đất thể hiện đầy đủ nội dung tích hợp và lồng ghép các yếu tố liên kết vùng và BĐKH, nhằm đưa đất đai vào phát triển một cách bền vững.

1.1. Liên kết vùng trong quy hoạch sử dụng đất

Liên kết vùng là một yếu tố quan trọng trong quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Việc xác định các mối liên kết giữa các tỉnh, thành phố trong vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) sẽ giúp tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên đất. Các tỉnh trong vùng ĐBSH có nhiều điểm chung về địa hình, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển liên kết vùng. Tuy nhiên, hiện tại, việc thực hiện liên kết vùng trong QHSDĐ vẫn còn nhiều hạn chế, chưa được quy định rõ ràng trong pháp luật. Cần thiết phải xây dựng các chính sách và quy định cụ thể để thúc đẩy liên kết vùng trong quy hoạch sử dụng đất, nhằm phát huy tối đa tiềm năng của từng địa phương.

1.2. Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng tới quy hoạch sử dụng đất

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang trở thành một thách thức lớn đối với việc sử dụng đất. Tác động của BĐKH như ngập úng, xâm nhập mặn, và sa mạc hóa đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất nông nghiệp và các loại đất khác. Đặc biệt, tỉnh Nam Định, với vị trí giáp biển, là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề từ BĐKH. Do đó, việc lồng ghép các yếu tố BĐKH vào quy hoạch sử dụng đất là rất cần thiết. Cần phải xác định rõ các khu vực có nguy cơ cao bị ảnh hưởng bởi BĐKH và đề xuất các phương án sử dụng đất phù hợp, nhằm đảm bảo an toàn và phát triển bền vững cho tỉnh Nam Định trong giai đoạn tới.

II. Xác định bộ chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh

Việc xác định bộ chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh Nam Định cần dựa trên các yếu tố liên kết vùng và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bộ chỉ tiêu này sẽ là căn cứ quan trọng để phân bổ đất đai một cách hợp lý và hiệu quả. Cần phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, và các yếu tố liên kết vùng để đưa ra các chỉ tiêu phù hợp. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc xây dựng các khu chức năng sử dụng đất và khu thích ứng với BĐKH, nhằm đảm bảo phát triển bền vững cho tỉnh. Việc áp dụng bộ chỉ tiêu này sẽ giúp tỉnh Nam Định thực hiện đúng các quy định của pháp luật về quy hoạch và đất đai, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

2.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội ảnh hưởng tới sử dụng đất

Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng đất. Tỉnh có nhiều tiềm năng về nông nghiệp, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ BĐKH. Việc phân tích các yếu tố này sẽ giúp xác định các khu vực có thể phát triển nông nghiệp bền vững, cũng như các khu vực cần được bảo vệ trước tác động của BĐKH. Cần có các chính sách hỗ trợ cho người dân trong việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.

2.2. Đề xuất bộ chỉ tiêu sử dụng đất cho tỉnh Nam Định

Bộ chỉ tiêu sử dụng đất cho tỉnh Nam Định cần được xây dựng dựa trên các yếu tố liên kết vùng và BĐKH. Cần xác định rõ các khu chức năng sử dụng đất, bao gồm đất nông nghiệp, đất công nghiệp, và đất đô thị. Đồng thời, cần đề xuất các giải pháp cụ thể để ứng phó với BĐKH, như xây dựng các khu vực bảo vệ, cải tạo đất, và phát triển các mô hình nông nghiệp bền vững. Việc áp dụng bộ chỉ tiêu này sẽ giúp tỉnh Nam Định phát triển một cách bền vững, đồng thời đảm bảo an toàn cho người dân và tài nguyên thiên nhiên.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ quản lý đất đai cơ sở khoa học hoàn thiện bộ chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh có tính đến mối liên kết vùng và biến đổi khí hậu áp dụng cho tỉnh nam định

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Các công trình nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất.

a) Các công trình nghiên cứu trên thế giới Theo FAO (1993) QHSDĐ là hệ thống đánh giá tiềm năng đất và nước, tính thay đổi trong sử dụng đất và những điều kiện kinh tế xã hội để chọn lọc và thực hiện các sự lựa chọn sử dụng đất tốt nhất. Mục đích của QHSDĐ là lựa chọn va triển khai các cách thức sử dụng đất đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của con người trong khi vẫn gìn giữ được các nguồn tài nguyên cho tương lai [60]. FAO đã có những nghiên cứu hướng dẫn về QHSDĐ từ những năm 1990. Trong cuốn sách “Guideslines for land use planning” (1993), hệ thống QHSDĐ chung của các nước được FAO tổng hợp chủ yếu bao gồm: quy mô quốc gia, quy mô vùng và quy mô địa phương.

QHSDĐ cấp tỉnh được coi thuộc quy mô vùng, có mối liên hệ hai chiều với quy mô quốc gia và địa phương. Theo FAO, QHSDĐ nhằm tạo nên việc sử dụng đất tốt nhất băng cách [60]: - Phân tích các nhu cầu hiện tại và tương lai, phân tích rõ bối cảnh sử dụng đất và đánh giá một cách có hệ thống về khả năng có thể đáp ứng nhu cầu của đất nước và địa phương; - Lam rõ những van đề của thực tiễn trong sử dung đất; - Xác định và giải quyết các mâu thuẫn cạnh tranh sử dụng đất, giữa các nhu cầu của cá nhân và cộng đồng, giữa nhu cầu của thế hệ hiện tại và tương lai; - Tìm các phương án bền vững và lựa chọn phương án sử dụng dat tốt nhất. Trong bối cảnh nguồn tài nguyên đất đai ngày càng trở nên hạn hẹp thì lựa chọn sử dung đất bền vững đã trở thành mục tiêu cần thiết ở tat cả các quốc gia va vùng lãnh thổ trên thế giới. Các công trình nghiên cứu về QHSDĐ tập trung theo hướng bền vững, phân vùng chức năng cho định hướng quy hoạch (tổng thể) không gian và ứng dụng công nghệ cho lựa chọn sử dụng đất hợp lý ở các quy mô, trong đó có cấp tỉnh.

Châu Âu là khu vực đi đầu trong xây dựng các nguyên lý về QHSDĐ bền vững và phát triển các nghiên cứu ứng dụng theo hướng này. Lier và cộng sự (1994) công bố ấn phẩm về QHSDĐ bền vững, trong đó trình bày những lý luận chung và áp dụng cho một số khu vực cụ thể tại Hà Lan [76]. Herrmann và Osinski (1999) thực hiện nghiên cứu QHSDĐ bền vững dựa trên công nghệ GIS và mô hình hóa, áp dụng điển hình cho khu vực nông thôn Baden-Wuerttemberg thuộc miền nam nước Đức [66]. Pašakarnis và cộng sự (2010) dựa trên quan điểm phát triển bền vững đã tiến hành phân tích định hướng phát triển nông thôn và những thách thức đối với chiến lược sử dụng đất ở khu vực Đông Âu [85].

Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về QHSDĐ tập trung về ứng dụng công nghệ GIS cho việc phân vùng chức năng và QHSDĐ quy mô cấp vùng, tỉnh, quy hoạch không gian sử dụng đất đô thị như các nghiên cứu của Zhang Y., Yan Liu, Brown G. Qua tổng quan các công trình nghiên cứu của nước ngoài cho thay trong QHSDĐ cấp vĩ mô, trong đó có cấp vùng, cấp tỉnh cần chú trọng vấn đề phân vùng và liên kết không gian gan với mục tiêu sử dụng đất bền vững, đồng thời cần ứng dụng công nghệ nhằm hỗ trợ lựa chọn được phương án (kịch bản) sử dụng đất tốt nhất. b) Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Trong các hoạt động về quản lý và sử dụng tài nguyên đất đai thì QHSDĐ đóng vai trò rất quan trọng vì đây là một trong những công cụ chính của quản lý đất đai, có tác động to lớn đến hiệu quả sử dụng tài nguyên đất đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và địa phương. Trong điều kiện của Việt Nam với đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước có vai trò và trách nhiệm chính trong công tác QHSDĐ.

QHSDD là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tô chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngảnh) và tô chức sử dụng như tư liệu sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường (Chu Văn Thỉnh, 2000 [30]; Đoàn Công Quỳ, Nguyễn Thị Vòng, 2005 [49]). Ở góc độ bao quát, theo tác giả Tôn Gia Huyên (2010) “quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ lại nguồn lực đất đai quốc gia trong giới hạn không gian và thời gian xác định với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của đất đai, bảo vệ tốt hệ sinh thái và bền vững về môi trường” [20]. Mục tiêu của QHSDĐ là hướng tới sử dụng đất bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường, QHSDĐ phải dam bảo phân bổ đất dai và t6 chức sử dung đất vào các mục đích sử dụng sao cho phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương đối với từng giai đoạn [48]. Trong những năm gần đây công nghệ tin học bắt đầu được ứng dụng trong lập quy hoạch sử dụng đất, CSDL đất đai có vai trò hỗ trợ đắc lực cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm xây dựng được các phương án sử dụng đất hợp lý đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường của từng địa phương và cả nước [40].

Trong hệ thống QHSDĐ của Việt Nam, QHSDD cấp tỉnh vừa mang tính định hướng chiến lược sử dung đất tầm vĩ mô cho địa bàn tỉnh, vừa phân bổ sử dụng dat cho các ngành và các đơn vị hành chính cấp huyện. Vi vậy, QHSDD cấp tỉnh có vai trò quan trọng nhằm thiết lập cơ cấu sử dụng đất dai hợp lý trên địa bàn tỉnh phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Tổng quan về liên kết vùng a) Các công trình nghiên cứu ngoài nước Liên kết vùng là van đề được các nước quan tâm, đặc biệt trong phát triển KT - XH, phòng chống thiên tai trong bối cảnh BDKH va NBD, nhưng trong lĩnh vực sử dụng đất lại rất khiêm tốn. Trong khoa học vùng, vấn đề liên kết nội vùng và liên kết ngoại vùng, hay gọi chung là liên kết vùng đã được chú ý nghiên cứu cả về lý thuyết cũng như thực tiễn, làm cơ sở dé xây dựng các quy hoạch phát triển vùng ở các nước trên thé giới.

Trong lý thuyết phát triển, thuật ngữ liên kết được sử dụng đầu tiên trong các công trình của Perroux (1955) [88], trong tác phẩm "Những nguyên lý kinh tế học", ông đã luận chứng về các liên kết theo cách tiếp cận tính lan tỏa dựa vào lý thuyết về “cực tăng trưởng”. Quan điểm của ông là thiết lập các vùng có các ngành với các doanh nghiệp lớn có sức hút mạnh, tức là tập trung các hoạt động kinh tế ở những khu vực năng động nhất tạo nên "cực tăng trưởng" của vùng. Camagmi (2002) [56] cũng cho rằng, một vùng được cho là có lợi thế tuyệt đối khi vùng sở hữu các tài sản công nghệ, xã hội, thé chế, ha tang ưu việt hơn các vùng khác. Những nguồn lực này sẽ là nguồn lực xác lập cau trúc kinh tế, phân bố lại các hoạt động kinh tế cho cả vùng, quốc gia và quốc tế.

Ủy ban Châu Âu - EC (1999) [59], cũng nêu ý tưởng về khả năng cạnh tranh của vùng là: mặc dù trên thực tế các doanh nghiệp có sức cạnh tranh khác nhau, nhưng có đặc điểm chung là yêu tố vùng (địa phương) có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của tat cả các doanh nghiệp ở đó. Những nguồn lực này chi phối các doanh nghiệp và ảnh hưởng tới hiệu quả, khả năng đổi mới, sự linh hoạt và năng động của các doanh nghiệp. Về liên kết cụm ngành, Porter. M [89] cho rằng “cụm ngành là một nhóm các công ty liên quan và các thể chế hỗ trợ trong một lĩnh vực cụ thể, quy tụ trong một khu vực địa lý, được kết nối với nhau dựa vào những khía cạnh tương đồng và bé sung”.

Tăng trưởng theo không gian: Theo quan điểm của nhà địa lý học người Nga Nikolay Baransky (1960) [81] cho rằng, phân công lao động theo lãnh thé là hình thức không gian của phân công xã hội. Điều kiện tất yếu của phân công theo vùng là một vùng lao động sản xuất chuyên canh, sản phâm được cung cấp cho một vùng khác. Với những giả thiết đó và các nhà địa lý kinh tế khác đã nghiên cứu các mô hình trao đổi liên vùng. Sau đó, lý thuyết này được phát triển dựa theo quan điểm mới là “Phát triển kinh tế cần phải tập trung (mất cân đối); còn xã hội thì tiến đến hội tụ (phát triển đồng đều)”.

Eli Heckscher và Bertil Ohlin của Thụy Dién là hai người đầu tiên xây dựng mô hình Heckscher - Ohlin, đây là mô hình toán phân công lao động quốc tế, dùng để dự báo xem quốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng nào trên cơ sở những yếu tố sản xuất sẵn có của quốc gia đó. Mô hình dựa vào lý luận về lợi thế so sánh của David Ricardo. Sau đó dựa vào mô hình này có sự điều chỉnh theo hướng, một vùng sẽ tập trung vào sản xuất loại hàng hóa mà nó có nhiều nhân tố thuận lợi san có nhất, bởi làm như vậy sẽ đưa chi phí sản xuất rẻ hơn (dẫn theo Edward E. Nhà kinh tế học người Pháp Francois Peroux (1955) [88] đã luận chứng về liên kết và lan tỏa dựa vào lý thuyết về “cực tăng trưởng”.

Quan điểm của Perroux là thiết lập các vùng có các ngành với các doanh nghiệp lớn có sức hút mạnh, năng động nhất sé tạo nên “cực tăng trưởng” của vùng. Các cực tăng trưởng này có sức lan tỏa, thu hút các dòng hàng hóa, nguyên liệu và lao động từ các vùng khác. Nhờ đó tạo ra các mạng lưới buôn bán, các chuỗi sản xuất. Khái niệm cực tăng trưởng của Perroux có hạn chế là chỉ đề cập đến không gian kinh tế có tính trừu tượng chứ không phải là không gian dia lý cụ thé và đôi lúc hai loại không gian này không đồng nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh Nam Định: Liên kết vùng và ứng phó biến đổi khí hậu" đề cập đến tầm quan trọng của việc tối ưu hóa sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh Nam Định, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng. Bài viết nhấn mạnh sự cần thiết phải liên kết vùng để phát triển bền vững, đồng thời đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc áp dụng các chỉ tiêu này không chỉ giúp cải thiện quản lý đất đai mà còn góp phần vào việc ứng phó với các thách thức môi trường hiện nay.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến quy hoạch sử dụng đất và biến đổi khí hậu, hãy tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ nghiên cứu lồng ghép các yếu tố biến đổi khí hậu vào quy hoạch sử dụng đất thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định, nơi bạn sẽ thấy cách thức lồng ghép các yếu tố này vào quy hoạch cụ thể. Ngoài ra, bài viết Luận văn tốt nghiệp đánh giá việc thực hiện một số quyền của người sử dụng đất trên địa bàn quận Tây Hồ thành phố Hà Nội giai đoạn 2018 2020 cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về quyền sử dụng đất trong bối cảnh đô thị hóa. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ hoàn thiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn thị xã Bảo Lộc sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chính sách bồi thường và giải phóng mặt bằng, một yếu tố quan trọng trong quy hoạch đất đai. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về quy hoạch sử dụng đất và các vấn đề liên quan.