Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Các công trình nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất.
a) Các công trình nghiên cứu trên thế giới Theo FAO (1993) QHSDĐ là hệ thống đánh giá tiềm năng đất và nước, tính thay đổi trong sử dụng đất và những điều kiện kinh tế xã hội để chọn lọc và thực hiện các sự lựa chọn sử dụng đất tốt nhất. Mục đích của QHSDĐ là lựa chọn va triển khai các cách thức sử dụng đất đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của con người trong khi vẫn gìn giữ được các nguồn tài nguyên cho tương lai [60]. FAO đã có những nghiên cứu hướng dẫn về QHSDĐ từ những năm 1990. Trong cuốn sách “Guideslines for land use planning” (1993), hệ thống QHSDĐ chung của các nước được FAO tổng hợp chủ yếu bao gồm: quy mô quốc gia, quy mô vùng và quy mô địa phương.
QHSDĐ cấp tỉnh được coi thuộc quy mô vùng, có mối liên hệ hai chiều với quy mô quốc gia và địa phương. Theo FAO, QHSDĐ nhằm tạo nên việc sử dụng đất tốt nhất băng cách [60]: - Phân tích các nhu cầu hiện tại và tương lai, phân tích rõ bối cảnh sử dụng đất và đánh giá một cách có hệ thống về khả năng có thể đáp ứng nhu cầu của đất nước và địa phương; - Lam rõ những van đề của thực tiễn trong sử dung đất; - Xác định và giải quyết các mâu thuẫn cạnh tranh sử dụng đất, giữa các nhu cầu của cá nhân và cộng đồng, giữa nhu cầu của thế hệ hiện tại và tương lai; - Tìm các phương án bền vững và lựa chọn phương án sử dụng dat tốt nhất. Trong bối cảnh nguồn tài nguyên đất đai ngày càng trở nên hạn hẹp thì lựa chọn sử dung đất bền vững đã trở thành mục tiêu cần thiết ở tat cả các quốc gia va vùng lãnh thổ trên thế giới. Các công trình nghiên cứu về QHSDĐ tập trung theo hướng bền vững, phân vùng chức năng cho định hướng quy hoạch (tổng thể) không gian và ứng dụng công nghệ cho lựa chọn sử dụng đất hợp lý ở các quy mô, trong đó có cấp tỉnh.
Châu Âu là khu vực đi đầu trong xây dựng các nguyên lý về QHSDĐ bền vững và phát triển các nghiên cứu ứng dụng theo hướng này. Lier và cộng sự (1994) công bố ấn phẩm về QHSDĐ bền vững, trong đó trình bày những lý luận chung và áp dụng cho một số khu vực cụ thể tại Hà Lan [76]. Herrmann và Osinski (1999) thực hiện nghiên cứu QHSDĐ bền vững dựa trên công nghệ GIS và mô hình hóa, áp dụng điển hình cho khu vực nông thôn Baden-Wuerttemberg thuộc miền nam nước Đức [66]. Pašakarnis và cộng sự (2010) dựa trên quan điểm phát triển bền vững đã tiến hành phân tích định hướng phát triển nông thôn và những thách thức đối với chiến lược sử dụng đất ở khu vực Đông Âu [85].
Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về QHSDĐ tập trung về ứng dụng công nghệ GIS cho việc phân vùng chức năng và QHSDĐ quy mô cấp vùng, tỉnh, quy hoạch không gian sử dụng đất đô thị như các nghiên cứu của Zhang Y., Yan Liu, Brown G. Qua tổng quan các công trình nghiên cứu của nước ngoài cho thay trong QHSDĐ cấp vĩ mô, trong đó có cấp vùng, cấp tỉnh cần chú trọng vấn đề phân vùng và liên kết không gian gan với mục tiêu sử dụng đất bền vững, đồng thời cần ứng dụng công nghệ nhằm hỗ trợ lựa chọn được phương án (kịch bản) sử dụng đất tốt nhất. b) Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Trong các hoạt động về quản lý và sử dụng tài nguyên đất đai thì QHSDĐ đóng vai trò rất quan trọng vì đây là một trong những công cụ chính của quản lý đất đai, có tác động to lớn đến hiệu quả sử dụng tài nguyên đất đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và địa phương. Trong điều kiện của Việt Nam với đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước có vai trò và trách nhiệm chính trong công tác QHSDĐ.
QHSDD là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tô chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngảnh) và tô chức sử dụng như tư liệu sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường (Chu Văn Thỉnh, 2000 [30]; Đoàn Công Quỳ, Nguyễn Thị Vòng, 2005 [49]). Ở góc độ bao quát, theo tác giả Tôn Gia Huyên (2010) “quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ lại nguồn lực đất đai quốc gia trong giới hạn không gian và thời gian xác định với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của đất đai, bảo vệ tốt hệ sinh thái và bền vững về môi trường” [20]. Mục tiêu của QHSDĐ là hướng tới sử dụng đất bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường, QHSDĐ phải dam bảo phân bổ đất dai và t6 chức sử dung đất vào các mục đích sử dụng sao cho phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương đối với từng giai đoạn [48]. Trong những năm gần đây công nghệ tin học bắt đầu được ứng dụng trong lập quy hoạch sử dụng đất, CSDL đất đai có vai trò hỗ trợ đắc lực cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm xây dựng được các phương án sử dụng đất hợp lý đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường của từng địa phương và cả nước [40].
Trong hệ thống QHSDĐ của Việt Nam, QHSDD cấp tỉnh vừa mang tính định hướng chiến lược sử dung đất tầm vĩ mô cho địa bàn tỉnh, vừa phân bổ sử dụng dat cho các ngành và các đơn vị hành chính cấp huyện. Vi vậy, QHSDD cấp tỉnh có vai trò quan trọng nhằm thiết lập cơ cấu sử dụng đất dai hợp lý trên địa bàn tỉnh phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Tổng quan về liên kết vùng a) Các công trình nghiên cứu ngoài nước Liên kết vùng là van đề được các nước quan tâm, đặc biệt trong phát triển KT - XH, phòng chống thiên tai trong bối cảnh BDKH va NBD, nhưng trong lĩnh vực sử dụng đất lại rất khiêm tốn. Trong khoa học vùng, vấn đề liên kết nội vùng và liên kết ngoại vùng, hay gọi chung là liên kết vùng đã được chú ý nghiên cứu cả về lý thuyết cũng như thực tiễn, làm cơ sở dé xây dựng các quy hoạch phát triển vùng ở các nước trên thé giới.
Trong lý thuyết phát triển, thuật ngữ liên kết được sử dụng đầu tiên trong các công trình của Perroux (1955) [88], trong tác phẩm "Những nguyên lý kinh tế học", ông đã luận chứng về các liên kết theo cách tiếp cận tính lan tỏa dựa vào lý thuyết về “cực tăng trưởng”. Quan điểm của ông là thiết lập các vùng có các ngành với các doanh nghiệp lớn có sức hút mạnh, tức là tập trung các hoạt động kinh tế ở những khu vực năng động nhất tạo nên "cực tăng trưởng" của vùng. Camagmi (2002) [56] cũng cho rằng, một vùng được cho là có lợi thế tuyệt đối khi vùng sở hữu các tài sản công nghệ, xã hội, thé chế, ha tang ưu việt hơn các vùng khác. Những nguồn lực này sẽ là nguồn lực xác lập cau trúc kinh tế, phân bố lại các hoạt động kinh tế cho cả vùng, quốc gia và quốc tế.
Ủy ban Châu Âu - EC (1999) [59], cũng nêu ý tưởng về khả năng cạnh tranh của vùng là: mặc dù trên thực tế các doanh nghiệp có sức cạnh tranh khác nhau, nhưng có đặc điểm chung là yêu tố vùng (địa phương) có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của tat cả các doanh nghiệp ở đó. Những nguồn lực này chi phối các doanh nghiệp và ảnh hưởng tới hiệu quả, khả năng đổi mới, sự linh hoạt và năng động của các doanh nghiệp. Về liên kết cụm ngành, Porter. M [89] cho rằng “cụm ngành là một nhóm các công ty liên quan và các thể chế hỗ trợ trong một lĩnh vực cụ thể, quy tụ trong một khu vực địa lý, được kết nối với nhau dựa vào những khía cạnh tương đồng và bé sung”.
Tăng trưởng theo không gian: Theo quan điểm của nhà địa lý học người Nga Nikolay Baransky (1960) [81] cho rằng, phân công lao động theo lãnh thé là hình thức không gian của phân công xã hội. Điều kiện tất yếu của phân công theo vùng là một vùng lao động sản xuất chuyên canh, sản phâm được cung cấp cho một vùng khác. Với những giả thiết đó và các nhà địa lý kinh tế khác đã nghiên cứu các mô hình trao đổi liên vùng. Sau đó, lý thuyết này được phát triển dựa theo quan điểm mới là “Phát triển kinh tế cần phải tập trung (mất cân đối); còn xã hội thì tiến đến hội tụ (phát triển đồng đều)”.
Eli Heckscher và Bertil Ohlin của Thụy Dién là hai người đầu tiên xây dựng mô hình Heckscher - Ohlin, đây là mô hình toán phân công lao động quốc tế, dùng để dự báo xem quốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng nào trên cơ sở những yếu tố sản xuất sẵn có của quốc gia đó. Mô hình dựa vào lý luận về lợi thế so sánh của David Ricardo. Sau đó dựa vào mô hình này có sự điều chỉnh theo hướng, một vùng sẽ tập trung vào sản xuất loại hàng hóa mà nó có nhiều nhân tố thuận lợi san có nhất, bởi làm như vậy sẽ đưa chi phí sản xuất rẻ hơn (dẫn theo Edward E. Nhà kinh tế học người Pháp Francois Peroux (1955) [88] đã luận chứng về liên kết và lan tỏa dựa vào lý thuyết về “cực tăng trưởng”.
Quan điểm của Perroux là thiết lập các vùng có các ngành với các doanh nghiệp lớn có sức hút mạnh, năng động nhất sé tạo nên “cực tăng trưởng” của vùng. Các cực tăng trưởng này có sức lan tỏa, thu hút các dòng hàng hóa, nguyên liệu và lao động từ các vùng khác. Nhờ đó tạo ra các mạng lưới buôn bán, các chuỗi sản xuất. Khái niệm cực tăng trưởng của Perroux có hạn chế là chỉ đề cập đến không gian kinh tế có tính trừu tượng chứ không phải là không gian dia lý cụ thé và đôi lúc hai loại không gian này không đồng nhất.