Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ với diện tích tự nhiên 7.812,82 km² và bờ biển dài hơn 192 km kéo dài từ mũi Đá Chẹt (giáp Cà Ná, Ninh Thuận) đến bãi bồi Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu), bao gồm huyện đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết 120 km. Đến tháng 7 năm 2017, toàn tỉnh có 15 đô thị (01 đô thị loại II, 01 đô thị loại III, 01 đô thị loại IV và 12 đô thị loại V) với tổng diện tích đất đô thị 752,4 km² (chiếm 9,56% diện tích toàn tỉnh). Dân số đô thị năm 2016-2017 đạt 692.889 người, chiếm tỷ lệ 56,87%, với tỷ lệ đô thị hóa đạt 40,2%, cao hơn mức trung bình cả nước. Theo định hướng phát triển, đến năm 2020 tỉnh dự kiến nâng cấp mở rộng và xây mới để đạt 17 đô thị.

Cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, tỉnh Bình Thuận thường xuyên chịu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và các điều kiện tự nhiên bất lợi (nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, khô hạn, bức xạ cao). Thống kê của Ban Phòng, chống thiên tai và Cứu nạn tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2010–2016 cho thấy thiên tai đã làm hư hại 2.966 căn nhà, thiệt hại 128.811,84 ha lúa và hoa màu, tổng giá trị thiệt hại ước tính 562,26 tỷ đồng (rủi ro cấp độ 1, 2, 3). Sạt lở bờ biển xảy ra nghiêm trọng với chiều dài 11.650 m, làm sập 269 căn nhà. Xu thế bão tăng trung bình 0,31 cơn/năm; nước biển dâng bình quân 3,1 mm/năm (riêng đảo Phú Quý dâng 3,6 mm/năm); mực nước dâng do bão lớn khoảng 80 cm; hơn 20 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ trong 20 năm qua.

Thiên tai và biến đổi khí hậu gây tổn hại trực tiếp tới nguồn nước và kết cấu hệ thống cấp nước đô thị: lũ quét, ngập lụt trên các lưu vực sông Cà Ty, sông Phan, sông Dinh, sông Lũy, sông Mao và sông La Ngà; sạt lở phá hủy tuyến ống cấp nước ven biển từ Tuy Phong đến Hàm Tân; sự cố vỡ, lún sập công trình dẫn nước (như cầu máng kênh chính Tây hệ thống thủy lợi sông Dinh 3 dài 304 m sập ngày 13/6/2016). Đợt hạn hán khốc liệt năm 2015–2016 do hiện tượng El Nino khiến dung tích các hồ chứa chỉ còn 21,94% – 40% thiết kế (tính đến ngày 21/4/2016 toàn tỉnh chỉ còn 47,52/216,60 triệu m³ nước), làm tê liệt nhiều hệ thống cấp nước.

Bên cạnh hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, công tác quản lý cấp nước đô thị tại Bình Thuận bộc lộ nhiều khoảng trống:

  • Chưa có mô hình quản lý tổng hợp và đồng bộ có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trên quy mô toàn tỉnh.
  • Bộ máy quản lý nhà nước bị chia cắt, chồng chéo chức năng giữa ngành Xây dựng, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và Tài nguyên & Môi trường; thiếu nhân lực được đào tạo đúng chuyên ngành.
  • Thiếu phương án cân bằng nước thô và nước sạch phân bổ cụ thể theo từng vùng địa hình có tính đến tác động của biến đổi khí hậu.
  • Thiếu cơ chế thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư (PPP) và thiếu khung pháp lý ràng buộc sự tham gia giám sát của cộng đồng.

Do đó, đề tài "Quản lý cấp nước các đô thị tỉnh Bình Thuận trong điều kiện biến đổi khí hậu" được thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết về lý luận và thực tiễn quản lý phát triển đô thị bền vững.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá hiện trạng cấp nước và thực trạng quản lý cấp nước tại các đô thị tỉnh Bình Thuận trong điều kiện biến đổi khí hậu nhằm:

  1. Đề xuất phương án cân bằng nước thô, nước sạch cho các đô thị đến năm 2025 phân bổ theo các vùng địa hình;
  2. Đề xuất mô hình và một số giải pháp quản lý cấp nước tại các đô thị tỉnh Bình Thuận trong điều kiện biến đổi khí hậu;
  3. Đề xuất sự tham gia của các bên liên quan trong quản lý cấp nước các đô thị tỉnh Bình Thuận trong điều kiện biến đổi khí hậu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý cấp nước các đô thị tỉnh Bình Thuận trong điều kiện biến đổi khí hậu.
  • Phạm vi không gian: 15 đô thị thuộc tỉnh Bình Thuận, bao gồm 01 thành phố tỉnh lỵ (TP. Phan Thiết), 01 thị xã (La Gi) và 13 thị trấn thuộc 08 huyện (Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Tánh Linh, Đức Linh, Phú Quý).
  • Phạm vi thời gian: Phù hợp với định hướng phát triển cấp nước đô thị tỉnh Bình Thuận đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  1. Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến công trình và quản lý cấp nước:
    • John E. Smith và Robert S. (2008): Phân tích tác động trực tiếp và gián tiếp của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước và công tác quản lý vận hành của các công ty cấp nước, nhấn mạnh việc xây dựng công trình thích ứng khí hậu.
    • Nhóm tác giả nghiên cứu (2008) [82] ("The implications of projected climate change for freshwater resources and their management"): Đánh giá tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đến chất lượng nước, sự gia tăng nhiệt độ, biến đổi dòng chảy và hư hỏng kết cấu công trình trong mùa lũ; đề xuất điều chỉnh quy trình thiết kế, áp dụng công cụ kinh tế, bảo hiểm và thể chế quản lý nhu cầu.
  2. Mô hình hóa và tối ưu hóa quản lý hệ thống phân phối nước:
    • Nghiên cứu mô hình quản lý thiếu hụt dựa trên quy hoạch tuyến tính hai giai đoạn (áp dụng tại EBMUD - East Bay Municipal Utility District): Tích hợp các nguồn nước, tính toán chi phí và độ bất định thủy văn để nâng cao độ tin cậy cấp nước.
    • Nghiên cứu hướng dẫn thiết kế và kiểm soát hệ thống cấp nước liên tục trong điều kiện khan hiếm tại các nước đang phát triển: Sử dụng tiêu chí mức độ dịch vụ theo người (PDLS) với ba thông số thiết kế chính: thời gian cấp, áp suất tại đầu ra và vị trí/loại kết nối mạng lưới.
  3. Thủy văn đô thị và quản lý tài nguyên nước tổng hợp:
    • Janusz Niemczynowicz (1999) [40] ("Thủy văn đô thị và quản lý nước - những thách thức hiện tại và tương lai"): Phân tích vai trò của dữ liệu thủy văn, mô hình hóa lưu vực và giải pháp phi công trình trong giải quyết nạn khan hiếm nước sạch đô thị.

Các nghiên cứu trong nước

  1. Nghiêm Vân Khanh và cộng sự (2016) [43] ("Biên soạn sổ tay cấp nước an toàn"): Đánh giá thực trạng cấp nước an toàn tại 3 miền, xây dựng khung phương pháp luận, chỉ số giám sát và đề xuất hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế phối hợp liên ngành giai đoạn 2016–2025.
  2. Dự án "Quản lý tổng hợp nguồn nước và phát triển đô thị trong mối liên hệ với biến đổi khí hậu tại tỉnh Bình Thuận" (hợp tác Việt Nam - Vương quốc Bỉ, 2013–2018): Triển khai thí điểm tại lưu vực sông Lũy, thành lập Tổ tư vấn kỹ thuật liên ngành (Sở KH&ĐT, Sở Xây dựng, Sở TN&MT, Sở NN&PTNT), nâng cao năng lực lập kế hoạch và chia sẻ dữ liệu thủy văn.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh kỹ thuật thủy văn công trình đơn lẻ, quản lý vận hành nội bộ của doanh nghiệp cấp nước hoặc quản lý cấp nước an toàn trên phạm vi chung, chưa giải quyết bài toán quản lý cấp nước đô thị tích hợp trên quy mô toàn tỉnh vùng duyên hải khô hạn. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống:

  • Xây dựng mô hình tổ chức quản lý cấp nước hợp nhất giữa đô thị và nông thôn phù hợp với điều kiện thực tế tỉnh Bình Thuận.
  • Cân bằng tài nguyên nước thô và nước sạch theo các vùng địa hình đặc thù có tính đến kịch bản biến đổi khí hậu.
  • Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành và khung thể chế huy động 4 bên tham gia (Nhà nước, doanh nghiệp, tư nhân, cộng đồng).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

Luận án vận dụng các khái niệm và cơ sở pháp lý chuyên ngành:

  • Tài nguyên nước và quy hoạch nguồn nước: Khái niệm nguồn nước, ô nhiễm nguồn nước, quy hoạch nguồn nước theo Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 [53].
  • Hệ thống và dịch vụ cấp nước đô thị: Khái niệm hệ thống cấp nước tập trung hoàn chỉnh, hoạt động cấp nước, dịch vụ cấp nước, đơn vị cấp nước, quản lý nhà nước về cấp nước đô thị theo Nghị định số 117/2007/NĐ-CP của Chính phủ [11].
  • Chống thất thoát, thất thu nước: Khái niệm nước thất thoát (chênh lệch giữa lượng cấp và lượng sử dụng thực tế), nước thất thu (nước không thu được tiền do gian lận hoặc không qua đồng hồ) và quản lý chống thất thoát, thất thu [65].
  • Cấp nước an toàn: Quy định cấp nước an toàn và bảo đảm cấp nước an toàn theo Thông tư số 08/2012/TT-BXD [72].
  • Biến đổi khí hậu: Khái niệm biến đổi khí hậu và kịch bản biến đổi khí hậu [7].
  • Khuôn khổ đầu tư: Luật Đầu tư (Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-VPQH năm 2017) và Nghị định số 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điều tra khảo sát: Thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, khảo sát thực địa tại các nhà máy nước, trạm bơm, mạng lưới đường ống và công trình đầu mối trên địa bàn 15 đô thị.
  • Phương pháp thống kê: Tổng hợp, phân loại chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn, dân số, công suất cấp nước, tỷ lệ thất thoát và nhu cầu sử dụng nước.
  • Phương pháp phân tích tổng hợp: Đánh giá các báo cáo quy hoạch, văn bản pháp quy, dữ liệu chất lượng nước để xác định nguyên nhân tồn tại của hệ thống quản lý.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các mô hình quản lý cấp nước đô thị trong và ngoài nước có điều kiện tương đồng về tự nhiên và kinh tế - xã hội.
  • Phương pháp chuyên gia: Sử dụng phiếu nhận xét, phỏng vấn sâu các nhà quản lý, nhà khoa học tại các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Xây dựng, Sở TN&MT, Sở NN&PTNT) và doanh nghiệp cấp nước.
  • Phương pháp kế thừa: Kế thừa số liệu, kết quả nghiên cứu từ các dự án quốc tế (Dự án Bỉ tại sông Lũy) và quy hoạch cấp nước đã phê duyệt.
  • Phương pháp dự báo: Dự báo nhu cầu dùng nước và cân bằng nguồn nước đô thị đến năm 2025 dựa trên các kịch bản tăng trưởng đô thị và biến đổi khí hậu.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Dữ liệu quy chuẩn kỹ thuật: QCVN 08:2008/BTNMT (chất lượng nước mặt), QCVN 02:2009/BYT (chất lượng nước sinh hoạt).
  • Dữ liệu hiện trạng và quy hoạch đô thị từ Sở Xây dựng Bình Thuận và Quyết định số 1211/QĐ-UBND (Bộ chỉ số theo dõi - đánh giá nước sạch và VSMT năm 2017).
  • Báo cáo số liệu kỹ thuật, tài chính của Công ty CP Cấp thoát nước Bình Thuận (BTWACO) và Trung tâm Nước sạch & VSMTNT tỉnh Bình Thuận.
  • Chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn từ các trạm Phan Thiết và Sông Lũy.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về quản lý cấp nước các đô thị tỉnh Bình Thuận trong điều kiện BĐKH

1. Tổng quan cấp nước và quản lý cấp nước đô thị Việt Nam

  • Tính đến tháng 2/2019, cả nước có 819 đô thị (02 đô thị đặc biệt, 19 loại I, 28 loại II, 45 loại III, 81 loại IV, 645 loại V); tỷ lệ đô thị hóa đạt 38,4% với dân số đô thị khoảng 34 triệu người.
  • Cả nước có 111 doanh nghiệp cấp nước quản lý hơn 500 hệ thống cấp nước với tổng công suất 9,0 triệu m³/ngày-đêm; tỷ lệ cấp nước sạch đô thị đạt 85,5%; tỷ lệ thất thoát bình quân 21,5%; mức dùng nước sinh hoạt bình quân 110 lít/người/ngày. 70% hệ thống đảm bảo cấp nước 24/24h. Nhu cầu cấp nước đến năm 2020 là 9,6 triệu m³/ngày-đêm, cần 57.000 tỷ đồng vốn đầu tư.
Cơ quan quản lý Tóm tắt chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về cấp nước đô thị [11]
Bộ Xây dựng Quản lý nhà nước về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch đô thị, KCN trên phạm vi toàn quốc; ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật; thực hiện chương trình, kế hoạch cấp quốc gia.
Bộ Kế hoạch & Đầu tư Nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách huy động các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước cho công trình cấp nước.
Bộ Tài chính Hướng dẫn phương pháp xác định giá nước sạch, ban hành khung giá và kiểm tra việc thực hiện giá tiêu thụ nước sạch toàn quốc.
Bộ Y tế Quản lý nhà nước về sức khỏe cộng đồng, ban hành quy chuẩn nước sạch sinh hoạt, kiểm tra và giám sát chất lượng nước toàn quốc.
UBND cấp tỉnh Quản lý nhà nước về hoạt động cấp nước trên địa bàn; quy định phân cấp, chức năng nhiệm vụ cho các cơ quan chuyên môn và UBND cấp dưới.
UBND cấp huyện/xã Thực hiện quản lý nhà nước về cấp nước theo phân cấp tại Khoản 9, Điều 60 Nghị định 117/2007/NĐ-CP.

2. Điều kiện tự nhiên và xu thế biến đổi khí hậu tại Bình Thuận

  • Nhiệt độ: Trung bình năm tại trạm Phan Thiết và Sông Lũy tăng với tốc độ 0,2°C/thập kỷ; mùa thu và mùa đông tăng rõ rệt (0,1–0,3°C/thập kỷ).
  • Lượng mưa: Xu thế tăng 7,1 mm/năm tại trạm Sông Lũy và 2,2 mm/năm tại trạm Phan Thiết; phân bố không đều (89% tập trung vào mùa mưa, mùa khô chỉ chiếm 11%).
  • Bốc hơi và nắng: Lượng bốc hơi ổn định 1.111 mm/năm (tháng 3 cao nhất: 130–145 mm). Tổng số giờ nắng đạt 2.755 giờ/năm (trung bình 7,4–7,6 giờ/ngày).
  • Xâm nhập mặn: Mặn lấn sâu vào mùa khô, đẩy ranh mặn lên thượng lưu các sông.

3. Hiện trạng tài nguyên nước và hệ thống cấp nước tỉnh Bình Thuận

  • Nguồn nước mặt: Tổng lượng dòng chảy năm đạt 5,36 tỷ m³ (nội tỉnh 4,10 tỷ m³, ngoại tỉnh 1,26 tỷ m³) phân bố trên 7 lưu vực sông chính:
TT Tên sông chính Huyện thuộc lưu vực Diện tích toàn lưu vực (km²) Diện tích riêng Bình Thuận (km²) Chiều dài sông (km)
1 Sông Lòng Sông Tuy Phong 511 511 50
2 Sông Lũy Bắc Bình, Tuy Phong 1.900 1.490 98
3 Sông Quao Hàm Thuận Bắc 930 930 71
4 Sông Cà Ty Hàm Thuận Nam, Phan Thiết 753 753 56
5 Sông Phan Hàm Thuận Nam, Hàm Tân 582 582 58
6 Sông Dinh Hàm Tân, Xuân Lộc 904 718 58
7 Sông La Ngà Đức Linh, Tánh Linh 4.100 2.500 280
8 Sông suối nhỏ Các huyện ven biển 886 886 -
Tổng 10.379 8.470 671
  • Hệ thống hồ chứa: Toàn tỉnh có 21 hệ thống hồ chứa, 35 đập dâng, 21 trạm bơm, 09 hệ thống kênh nối mạng. 5 hồ có dung tích hữu ích ($V_h$) lớn nhất: hồ Sông Quao ($V_h = 73$ triệu m³), hồ Cà Giây ($V_h = 73$ triệu m³), hồ Sông Dinh 3 ($V_h = 58,0$ triệu m³), hồ Sông Móng ($V_h = 37,16$ triệu m³), hồ Lòng Sông ($V_h = 33,2$ triệu m³).
  • Nguồn nước dưới đất: Trữ lượng tiềm năng toàn tỉnh đạt 2.851 m³/ngày, trữ lượng khai thác khu vực 80.000 m³/ngày (riêng lưu vực sông La Ngà đạt 648.000 m³/ngày, sông Cà Ty đạt 240.000 m³/ngày, sông Lòng Sông đạt 80.000 m³/ngày, suối ven biển Mũi Né đạt 47.000 m³/ngày). Chất lượng nước ngầm bị nhiễm mặn, phèn và nhiễm vi sinh cao (chỉ số Coliform vượt quy chuẩn từ 1,33 đến 1.433 lần, trạm Đại Hòa đạt $4.400$ MPN/100ml).
  • Công trình cấp nước đô thị: Toàn tỉnh có 24 nhà máy nước cấp cho đô thị (trong đó bảng thống kê chi tiết ghi nhận 21 nhà máy lớn với tổng công suất thiết kế 312.700 m³/ngày-đêm). Mạng lưới đường ống chuyển tải và phân phối dài 1.706 km (571 km tập trung tại TP. Phan Thiết, TX. La Gi và TT. Phan Rí Cửa; 1.123 km tại các đô thị còn lại). Toàn tỉnh có 22 trạm bơm điện phục vụ cấp nước và tưới (khu vực đồng bằng La Ngà tập trung 17 trạm bơm).
  • Hiện trạng sử dụng nước (2017): Tỷ lệ dân số đô thị sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 98,36%; tỷ lệ sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT đạt 92,42%. Tỷ lệ thất thoát nước tại các đô thị còn dao động quanh mức 20%–25%.
Hiện trạng 15 đô thị tỉnh Bình Thuận Phân loại Diện tích (km²) Dân số (người, 2015) Mật độ (người/km²)
TP. Phan Thiết Loại II 206,45 272.503 1.320
Thị xã La Gi Loại III 182,82 131.602 720
TT. Liên Hương (Tuy Phong) Loại V 10,40 39.020 3.752
TT. Phan Rí Cửa (Tuy Phong) Loại IV 57,17 81.419 1.424
TT. Chợ Lầu (Bắc Bình) Loại V 34,34 16.035 467
TT. Lương Sơn (Bắc Bình) Loại V 29,93 15.006 501
TT. Ma Lâm (Hàm Thuận Bắc) Loại V 15,50 16.075 1.037
TT. Phú Long (Hàm Thuận Bắc) Loại V 22,51 16.275 723
TT. Thuận Nam (Hàm Thuận Nam) Loại V 28,73 12.909 449
TT. Lạc Tánh (Tánh Linh) Loại V 38,16 15.739 412
TT. Võ Xu (Đức Linh) Loại V 27,65 20.407 738
TT. Đức Tài (Đức Linh) Loại V 30,81 21.551 699
TT. Tân Minh (Hàm Tân) Loại V 7,00 12.570 1.796
TT. Tân Nghĩa (Hàm Tân) Loại V 55,20 13.999 254
TT. Phú Quý (Phú Quý) Loại V 5,766 7.279 1.262
Tổng cộng 752,436 692.889 921

4. Đánh giá 04 mô hình quản lý vận hành hiện hữu tại Bình Thuận

  1. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bình Thuận (BTWACO): Chuyển đổi từ DNNN sang Công ty CP theo Quyết định 2346/QĐ-UBND năm 2009. Quản lý hệ thống cấp nước TP. Phan Thiết và một số đô thị. Bộ máy linh hoạt hơn mô hình cũ nhưng chưa có phòng chuyên trách quản lý cấp nước an toàn, mạng lưới đường ống chắp vá qua nhiều thời kỳ (STK, uPVC, HDPE, gang dẻo).
  2. Trung tâm Nước sạch và VSMTNT (Sở NN&PTNT): Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính 100%, quản lý 37 công trình cấp nước cho 45.885 hộ dân trên 9/10 huyện/thị/thành phố, bao gồm 7/12 đô thị loại V. Tổng số 214 viên chức/lao động (51,87% đại học/cao đẳng, 2,34% thạc sĩ), tuy nhiên chỉ có khoảng 30% được đào tạo đúng chuyên ngành cấp thoát nước; thiếu kinh phí bảo đảm cấp nước an toàn.
  3. Mô hình doanh nghiệp tư nhân: Gồm 3 doanh nghiệp (Công ty CP Bình Hiệp, Công ty CP Đầu tư nước Bình An, Công ty Nước & Môi trường Đông Hải) quản lý 4 nhà máy nước (Cà Giang, Phan Thiết, La Gi, Xuân Quang) tổng công suất 59.500 m³/ngày-đêm (định hướng 87.000 m³/ngày-đêm). Quản lý vận hành tốt, công nghệ xử lý đạt chuẩn nhưng chi phí đầu vào cao dẫn đến áp lực giá nước.
  4. Mô hình tư nhân nhỏ lẻ: Quy mô công suất nhỏ (<50 m³/ngày-đêm) đến vừa (50–300 m³/ngày-đêm) do hộ gia đình tự đầu tư giếng khoan tại Phú Hài, Mũi Né (Phan Thiết). Tính cơ động cao nhưng khó kiểm soát chất lượng nước, dễ gây suy thoái, nhiễm mặn tầng nước ngầm và giá nước tự phát.

5. Bất cập trong quản lý nhà nước tại địa phương

  • Sở Xây dựng: Phòng Quản lý Hạ tầng kỹ thuật chỉ có 4 cán bộ (2 lãnh đạo, 2 chuyên viên) quản lý hạ tầng cho 15 đô thị; trình độ chuyên môn không đúng chuyên ngành cấp thoát nước (03 kỹ sư xây dựng dân dụng, 01 kiến trúc sư).
  • Sở TN&MT: Chỉ có 4 cán bộ phụ trách tài nguyên nước nhưng phải kiêm nhiệm biến đổi khí hậu, biển đảo, khí tượng thủy văn.
  • Quản lý bị chia cắt theo địa giới hành chính giữa đô thị (Sở Xây dựng) và nông thôn (Sở NN&PTNT), gây chồng chéo vùng phục vụ và quy hoạch nguồn nước.

Chương 2: Cơ sở khoa học về quản lý cấp nước các đô thị tỉnh Bình Thuận trong điều kiện BĐKH

1. Cơ sở lý luận và thể chế pháp lý

  • Quản lý nhà nước về cấp nước đô thị thích ứng biến đổi khí hậu phải dựa trên nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM), bảo đảm an ninh nguồn nước, tính đúng tính đủ giá dịch vụ cấp nước để tái đầu tư, và kiểm soát rủi ro từ nguồn đến vòi nước sinh hoạt.
  • Thể chế hóa các quy định của Luật Đầu tư (VBHN 04/VBHN-VPQH), Nghị định 63/2018/NĐ-CP về đối tác công tư (PPP) trong cấp nước nhằm giải quyết khó khăn về ngân sách đầu tư công của tỉnh Bình Thuận.

2. Phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến cân bằng nước

  • Hiện tượng hạn hán kéo dài làm suy giảm dòng chảy kiệt trên các sông chính; nước biển dâng kết hợp triều cường đẩy mặn sâu vào cửa thu nước mặt.
  • Mưa cường suất lớn gây lũ quét làm hư hỏng kết cấu công trình thu nước, trạm bơm, cầu máng dẫn nước và sạt lở đường ống ven biển.
  • Phân tích nhu cầu cấp nước đô thị đến năm 2020 và 2025 theo các phân vùng địa hình:
    • Vùng đồng bằng duyên hải ven biển (Phan Thiết, La Gi, Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Tân): Chịu rủi ro xâm nhập mặn, cát bay, sạt lở bờ biển.
    • Vùng bán sơn địa, đồi núi thấp (Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam): Chịu rủi ro hạn hán gay gắt, thiếu nước mặt cục bộ trong mùa khô.
    • Vùng đồng bằng nội địa sông La Ngà (Đức Linh, Tánh Linh): Chịu rủi ro ngập lụt dài ngày và sạt lở bờ sông làm đục nguồn nước.

3. Bài học kinh nghiệm áp dụng cho Bình Thuận

  • Kế thừa bài học từ Dự án Bỉ (2013–2018) tại sông Lũy: Thiết lập cơ chế phối hợp kỹ thuật liên ngành, chia sẻ cơ sở dữ liệu dùng chung giữa ngành Xây dựng, Tài nguyên & Môi trường và Nông nghiệp.
  • Bài học quốc tế về quản lý nhu cầu, giảm thiểu thất thoát kỹ thuật và thương mại, và xây dựng kịch bản ứng phó sự cố cấp nước khẩn cấp.

Chương 3: Đề xuất mô hình và một số giải pháp quản lý cấp nước các đô thị tỉnh Bình Thuận trong điều kiện BĐKH

1. Quan điểm và mục tiêu quản lý cấp nước an toàn

Luận án xác lập hệ thống định hướng gồm 08 quan điểm chỉ đạo và 05 mục tiêu cụ thể:

  • 08 Quan điểm: (1) Quản lý cấp nước phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch đô thị tỉnh; (2) Coi nước sạch là hàng hóa đặc biệt gắn với an sinh xã hội; (3) Thích ứng chủ động với kịch bản biến đổi khí hậu; (4) Quản lý tổng hợp theo lưu vực sông không chia cắt địa giới hành chính; (5) Đa dạng hóa nguồn vốn thông qua cơ chế PPP; (6) Ứng dụng công nghệ hiện đại trong vận hành và chống thất thoát; (7) Bảo đảm nguyên tắc cấp nước an toàn từ nguồn đến hộ tiêu thụ; (8) Phát huy vai trò giám sát của cộng đồng và các bên liên quan.
  • 05 Mục tiêu: (1) Cấp đủ lưu lượng và áp lực liên tục 24/24h cho các đô thị; (2) 100% dân số đô thị được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT; (3) Giảm tỷ lệ thất thoát nước bình quân toàn tỉnh xuống dưới 15% vào năm 2025; (4) Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý hợp nhất, tinh gọn; (5) Bảo đảm an toàn tuyệt đối các công trình cấp nước trước thiên tai.

2. Phương án cân bằng nước thô và nước sạch đến năm 2025 theo vùng địa hình

  • Phân bổ theo 3 vùng địa hình:
    • Vùng 1 (Đô thị ven biển): Tận dụng tối đa nguồn nước từ các hồ chứa thượng lưu (hồ Lòng Sông, Cà Giây, Sông Dinh 3), giảm dần khai thác nước ngầm tầng nông ven biển nhằm chống sụt lún và nhiễm mặn.
    • Vùng 2 (Đô thị bán sơn địa trung tâm): Kết nối liên thông mạng cấp nước giữa hồ Sông Quao, hồ Sông Móng để điều tiết nguồn nước thô trong mùa kiệt cho Phan Thiết và Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam.
    • Vùng 3 (Đô thị thung lũng sông La Ngà): Khai thác nguồn nước mặt dồi dào từ lưu vực sông La Ngà, xây dựng công trình thu nước có khả năng chịu ngập lụt và chống xói lở.

3. Đề xuất mô hình quản lý cấp nước hợp nhất

  • Hợp nhất 04 mô hình quản lý manh mún hiện nay thành một hệ thống quản lý thống nhất:
    • Tách bạch rõ chức năng quản lý nhà nước (Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp Sở TN&MT, Sở NN&PTNT) với chức năng quản lý khai thác vận hành của doanh nghiệp.
    • Tái cơ cấu doanh nghiệp cấp nước: Hợp nhất địa bàn phục vụ của Công ty CP Cấp thoát nước Bình Thuận và các trạm cấp nước đô thị của Trung tâm NS&VSMTNT để hình thành doanh nghiệp cấp nước vùng đô thị chuyên nghiệp, xóa bỏ ranh giới chia cắt đô thị - nông thôn.

4. Cơ chế tham gia của các bên liên quan

  • Nhà nước: Ban hành cơ chế chính sách, phê duyệt giá nước tính đúng tính đủ, thẩm định quy hoạch và giám sát chất lượng dịch vụ.
  • Doanh nghiệp cấp nước: Chịu trách nhiệm trực tiếp sản xuất, cung cấp nước sạch an toàn, giảm thất thoát, thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn.
  • Khu vực tư nhân: Tham gia đầu tư các nhà máy nước mới, trạm bơm theo hợp đồng đối tác công tư (PPP).
  • Cộng đồng dân cư và đoàn thể (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh): Tham gia giám sát chất lượng nước, bảo vệ hành lang an toàn nguồn nước, phản ánh kịp thời các sự cố vỡ đường ống và hành vi xả thải gây ô nhiễm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học lý luận

  • Bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về quản lý cấp nước đô thị trong điều kiện biến đổi khí hậu tại vùng duyên hải khô hạn đặc thù của Việt Nam.
  • Xác lập cơ sở khoa học cho hệ thống 08 quan điểm chỉ đạo và 05 mục tiêu bảo đảm cấp nước an toàn đô thị vùng Nam Trung Bộ.
  • Xây dựng khung phương pháp luận kết hợp giữa quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) và cơ chế tham gia đa bên trong quản lý dịch vụ công ích đô thị.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Xây dựng phương án cân bằng nước thô và nước sạch chi tiết cho 15 đô thị tỉnh Bình Thuận đến năm 2025, phân bổ theo các vùng địa hình và có tính đến kịch bản biến đổi khí hậu.
  • Đề xuất mô hình tổ chức quản lý cấp nước hợp nhất từ 04 mô hình hiện có, khắc phục triệt để tình trạng phân tán, chồng chéo và cắt khúc giữa cấp nước đô thị và nông thôn.
  • Đề xuất giải pháp tăng cường năng lực và cơ chế phối hợp liên ngành giữa Sở Xây dựng, Sở TN&MT và Sở NN&PTNT; hoàn thiện chính sách giá nước và thu hút đầu tư tư nhân theo hình thức PPP (Nghị định 63/2018/NĐ-CP).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Cơ sở dữ liệu thống kê thiệt hại chi tiết do biến đổi khí hậu tác động riêng lẻ tới từng tuyến mạng lưới đường ống cấp nước trong quá khứ chưa được lượng hóa đầy đủ thành chuỗi thời gian dài hạn.
  • Kết quả nghiên cứu và phương án cân bằng nước gắn chặt với các đặc trưng tự nhiên của 15 đô thị tỉnh Bình Thuận, do đó khi mở rộng áp dụng cho các địa phương khác cần hiệu chỉnh thông số theo điều kiện thủy văn thực tế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ giám sát mạng lưới cấp nước thông minh (SCADA, GIS, đồng hồ đo từ xa) trong việc kiểm soát thất thoát, thất thu nước theo thời gian thực dưới tác động của thiên tai.
  • Nghiên cứu cơ chế điều phối và cân bằng nguồn nước liên tỉnh giữa Bình Thuận với các lưu vực sông lân cận thuộc tỉnh Ninh Thuận, Lâm Đồng và Đồng Nai trong bối cảnh biến đổi khí hậu cực đoan.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên: Chuyên ngành Quản lý Đô thị, Kỹ thuật Hạ tầng Đô thị, Quản lý Tài nguyên Nước và Môi trường sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về hạ tầng kỹ thuật đô thị ven biển.
  • Cơ quan quản lý nhà nước: UBND tỉnh Bình Thuận, Sở Xây dựng, Sở TN&MT, Sở NN&PTNT và UBND các huyện/thị xã sử dụng để điều chỉnh quy hoạch cấp nước, xây dựng đề án kiện toàn bộ máy và ban hành quy chế phối hợp liên ngành.
  • Các doanh nghiệp cấp nước: Doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham khảo phương án tổ chức bộ máy, triển khai kế hoạch cấp nước an toàn và quản lý chống thất thoát nước.

Nội dung có giá trị tham khảo cao

  • Bảng tổng hợp chi tiết hiện trạng 15 đô thị, 21 hồ chứa nước lớn, các trạm bơm điện và hệ thống 24 nhà máy nước tại tỉnh Bình Thuận.
  • Phương pháp phân tích ưu - nhược điểm của 04 mô hình quản lý cấp nước thực tế và quy trình chuyển đổi sang mô hình hợp nhất.
  • Khung thể chế huy động 4 bên liên quan tham gia quản lý và giám sát cấp nước đô thị.

Câu hỏi thường gặp

1. Biến đổi khí hậu gây ra những tác động nghiêm trọng nhất nào đối với hệ thống cấp nước đô thị tại Bình Thuận?

Biến đổi khí hậu tại Bình Thuận thể hiện qua nhiệt độ tăng (0,2°C/thập kỷ), số giờ nắng cao (2.755 giờ/năm), mưa phân bố lệch (89% tập trung vào mùa mưa). Tác động gồm: hạn hán làm cạn kiệt các hồ chứa (đỉnh điểm tháng 4/2016 các hồ chỉ còn 21,94% dung tích, làm tê liệt nhà máy nước); lũ quét làm hư hại công trình thu và kênh dẫn (sập cầu máng sông Dinh 3 dài 304 m); nước biển dâng và triều cường gây sạt lở bờ biển (11.650 m bờ biển sạt lở giai đoạn 2010–2016), phá hủy hệ thống đường ống cấp nước ven biển và gây xâm nhập mặn nguồn nước thô.

2. Thực trạng 04 mô hình quản lý cấp nước hiện nay tại Bình Thuận có những tồn tại gì?

  • Công ty CP Cấp thoát nước Bình Thuận (BTWACO): Chưa có bộ phận chuyên trách quản lý cấp nước an toàn; mạng lưới đường ống cũ kỹ, không đồng bộ về vật liệu (gang, STK, uPVC, HDPE).
  • Trung tâm Nước sạch & VSMTNT: Quản lý 37 công trình và cấp nước cho 7/12 đô thị loại V nhưng chỉ có 30% cán bộ được đào tạo chuyên ngành cấp thoát nước; thiếu kinh phí bảo đảm cấp nước an toàn.
  • Doanh nghiệp tư nhân (03 công ty): Chi phí đầu vào cao, tạo áp lực lên giá thành tiêu thụ nước sạch.
  • Mô hình tư nhân nhỏ lẻ (<50–300 m³/ngày): Khó kiểm soát chất lượng nước, giá nước tự phát và nguy cơ làm cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước ngầm.

3. Năng lực bộ máy quản lý nhà nước về cấp nước đô thị tại Bình Thuận gặp khó khăn gì?

Bộ máy quản lý thiếu biên chế và thiếu chuyên môn phù hợp: Sở Xây dựng chỉ có 4 cán bộ quản lý hạ tầng cho 15 đô thị (trong đó chỉ có 2 chuyên viên thực hiện quản lý cấp nước nhưng gồm 3 kỹ sư xây dựng dân dụng, 1 kiến trúc sư, không có chuyên ngành cấp thoát nước); Sở TN&MT chỉ có 4 cán bộ quản lý tài nguyên nước nhưng phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực khác. Quản lý cấp nước bị chia cắt giữa đô thị (Sở Xây dựng) và nông thôn (Sở NN&PTNT).

4. Giải pháp tổ chức bộ máy cốt lõi mà luận án đề xuất là gì?

Luận án đề xuất mô hình quản lý hợp nhất: Thống nhất đầu mối quản lý nhà nước, xóa bỏ sự chia cắt giữa đô thị và nông thôn; hợp nhất hoạt động cấp nước đô thị của BTWACO và Trung tâm Nước sạch & VSMTNT thành doanh nghiệp cấp nước vùng đô thị chuyên nghiệp; thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành giữa Sở Xây dựng, Sở TN&MT, Sở NN&PTNT; thúc đẩy cơ chế 4 bên (Nhà nước, Doanh nghiệp, Tư nhân, Cộng đồng) trong đầu tư PPP và giám sát chất lượng nước.


Kết luận

Luận án "Quản lý cấp nước các đô thị tỉnh Bình Thuận trong điều kiện biến đổi khí hậu" đã đánh giá toàn diện hiện trạng hệ thống công trình và thực trạng tổ chức quản lý cấp nước tại 15 đô thị tỉnh Bình Thuận trước các thách thức thiên tai gay gắt. Bằng việc phân tích sâu sắc ưu nhược điểm của 04 mô hình quản lý vận hành hiện hữu và sự bất cập của bộ máy quản lý nhà nước, tác giả đã xác lập cơ sở khoa học vững chắc cho hệ thống giải pháp thích ứng. Đóng góp nổi bật của công trình là phương án cân bằng nước đến năm 2025 theo 3 vùng địa hình, đề xuất mô hình quản lý cấp nước hợp nhất và cơ chế tham gia của 4 bên liên quan. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cao cho công tác quy hoạch, quản lý và vận hành hệ thống cấp nước bền vững tại Bình Thuận và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.