Tổng quan nghiên cứu

Kinh tế tỉnh Bắc Ninh ghi nhận mức tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) bình quân đạt 16,11%/năm sau 19 năm tái lập tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 28,9%, khu vực dịch vụ tăng 18,4% và khu vực nông lâm nghiệp thủy sản tăng 4%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh năm 2015 chạm mốc 41.879 triệu USD, gấp 162,9 lần so với năm 2005, đưa Bắc Ninh vươn lên vị trí thứ 2 trên 63 tỉnh, thành phố cả nước về quy mô ngoại thương. Tuy nhiên, một nghịch lý lớn tồn tại là khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm tới 97,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi khối doanh nghiệp trong nước chỉ đóng góp khiêm tốn 2,7% (tương đương 117 triệu USD) và chỉ chiếm 1,3% giá trị sản xuất công nghiệp toàn địa bàn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là các chính sách hỗ trợ hiện hành của Nhà nước và địa phương vẫn còn khoảng cách lớn so với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp dân doanh. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng thực thi các chính sách hỗ trợ tín dụng, ưu đãi thuế và xúc tiến thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015; từ đó nhận diện những rào cản nội tại và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế điều hành cấp tỉnh, hướng tới mục tiêu phát triển ít nhất 15.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả theo Chương trình số 151/CTr-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quá trình chính sách công được phát triển bởi các học giả kinh điển như Crane (1982), Harman (1980), Hogwood và Gunn (1984). Theo quan điểm này, chính sách hỗ trợ là một chu trình khép kín bao gồm xây dựng, tổ chức thực thi, đánh giá tác động và điều chỉnh linh hoạt theo biến động môi trường kinh tế. Bên cạnh đó, luận văn sử dụng khung phân tích chính sách thương mại quốc tế của Trung tâm Kinh tế Quốc tế Australia (CIE), kết hợp các tiêu chuẩn hỗ trợ tín dụng xuất khẩu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) công nhận.

Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm: chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu (hệ thống quan điểm, công cụ thể chế nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại qua biên giới), bảo hiểm tín dụng xuất khẩu (công cụ bảo đảm tài chính trước rủi ro thanh toán quốc tế), bảo lãnh tín dụng xuất khẩu (cơ chế Nhà nước cam kết trả nợ thay cho bên vay), ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (chính sách giảm nghĩa vụ tài chính nhằm tạo lợi thế so sánh) và xúc tiến thương mại.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu kết hợp giữa thông tin thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, Sở Công Thương, Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Việt Nam giai đoạn 2005 - 2015. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát mẫu quy mô 40 doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh vào năm 2016.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp phân tầng theo ngành nghề thế mạnh của tỉnh, bao gồm 4 nhóm chính: dệt may, đồ gỗ mỹ nghệ, nông sản chế biến và cơ khí lắp máy. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ đặc thù các doanh nghiệp xuất khẩu dân doanh tại Bắc Ninh tập trung chủ yếu ở các làng nghề truyền thống và cụm công nghiệp địa phương với quy mô nhỏ và vừa. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và phương pháp chuyên gia là nhằm đo lường chính xác mức độ tiếp cận chính sách, đồng thời làm rõ các nguyên nhân thể chế khiến doanh nghiệp khó hấp thụ nguồn lực hỗ trợ từ các cấp chính quyền.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nội tại của khối doanh nghiệp dân doanh tỉnh Bắc Ninh còn rất nhỏ bé. Dữ liệu thống kê 7.798 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tính đến tháng 5/2016 cho thấy doanh nghiệp siêu nhỏ dưới 10 lao động chiếm tỷ trọng áp đảo 55,9%, doanh nghiệp từ 10 đến dưới 200 lao động chiếm 40,8%. Xét về quy mô vốn, có 17,7% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng, 47,9% doanh nghiệp có vốn từ 1 đến dưới 10 tỷ đồng và chỉ có 23,1% doanh nghiệp đạt mức vốn từ 10 đến dưới 50 tỷ đồng.

Thứ hai, vị thế xuất khẩu của khối nội địa suy giảm mạnh trước làn sóng đầu tư FDI. Năm 2005, số doanh nghiệp trong nước chiếm 85,5% số doanh nghiệp xuất khẩu và đóng góp 61,6% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Tuy nhiên, đến năm 2015, tỷ trọng số doanh nghiệp trong nước giảm xuống còn 25,3% (với 68 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu) và tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh xuống mức 2,7%. Ngược lại, khu vực FDI tăng vọt từ mức 38,4% năm 2005 lên chiếm 97,3% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh năm 2015.

Thứ ba, hiệu quả tiếp cận các công cụ tài chính hỗ trợ xuất khẩu ở mức rất thấp. Trong tổng số 40 doanh nghiệp xuất khẩu được khảo sát, có tới 97% doanh nghiệp chưa từng tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu; chỉ duy nhất 1 doanh nghiệp dệt may từng sử dụng công cụ này khi giao dịch với đối tác Trung Quốc. Đối với chính sách bảo lãnh tín dụng theo Nghị định 151/2006/NĐ-CP, mặc dù 62,5% doanh nghiệp có nhận biết thông tin nhưng tỷ lệ doanh nghiệp từng tiếp cận và sử dụng công cụ này đạt mức 0%.

Thảo luận kết quả

Thực trạng doanh nghiệp không mặn mà với công cụ bảo lãnh tín dụng xuất khẩu xuất phát từ nguyên nhân "chi phí kép": doanh nghiệp vừa phải chịu lãi suất vay thương mại từ ngân hàng, vừa phải đóng phí bảo lãnh 1%/năm cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Đối với quy định vay vốn trực tiếp theo Nghị định 75/2011/NĐ-CP, việc yêu cầu báo cáo tài chính phải được kiểm toán độc lập và tài sản bảo đảm nghiêm ngặt đã tạo nên rào cản quá lớn cho 96,7% doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm của Lê Đăng Chính về tín dụng ngoại thương và nghiên cứu của Trần Hoàng Long về rào cản tiếp cận chính sách thuế tại thị xã Từ Sơn. Để trực quan hóa, dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày thông qua Biểu đồ cột chồng phản ánh biến động tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu giữa khu vực trong nước và FDI từ 2005 đến 2015, kết hợp với Bảng ma trận đối chiếu giữa tỷ lệ nhận biết và tỷ lệ thụ hưởng thực tế của 3 nhóm chính sách: tín dụng, thuế và xúc tiến thương mại.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và linh hoạt hóa cơ chế hỗ trợ tín dụng ngoại thương. Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Việt Nam tại Bắc Ninh cần phối hợp với Sở Tài chính đề xuất cơ chế ủy thác một phần vốn từ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để hỗ trợ bù lãi suất và giảm 50% phí bảo lãnh tín dụng xuất khẩu cho các hợp đồng nông sản chế biến và dệt may. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ doanh nghiệp dân doanh tiếp cận tín dụng ưu đãi từ mức dưới 5% hiện nay lên đạt tối thiểu 35% vào năm 2020.

Thứ hai, hình thành cụm liên kết ngành và không gian phát triển công nghiệp hỗ trợ. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Sở Công Thương cần đẩy nhanh tiến độ triển khai Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển công nghiệp hỗ trợ với quy mô từ 30 đến 50 ha; ban hành quy chế ưu đãi giải phóng mặt bằng và miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho 82 doanh nghiệp trong nước đang hoạt động trong ngành cơ khí và linh kiện điện tử. Định hướng đến năm 2020 nâng tỷ lệ cung ứng nội địa cho các tập đoàn đa quốc gia lên mức 15%.

Thứ ba, nâng cao chất lượng và quy mô kinh phí xúc tiến thương mại. Trung tâm Xúc tiến Thương mại thuộc Sở Công Thương cần bố trí nguồn ngân sách xúc tiến thương mại hàng năm từ 10 đến 15 tỷ đồng, tài trợ 100% chi phí gian hàng tại các hội chợ quốc tế cho sản phẩm làng nghề thế mạnh như đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, dệt may và gốm sứ. Mục tiêu phấn đấu thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt bình quân trên 20%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ tư, tối ưu hóa hoạt động của Tổ công tác hỗ trợ doanh nghiệp và mô hình Bác sĩ doanh nghiệp. Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh cần nâng cấp hệ thống tiếp nhận phản ánh trực tuyến, duy trì cam kết xử lý dứt điểm 100% các kiến nghị về thủ tục hải quan và hoàn thuế giá trị gia tăng trong thời hạn 7 ngày làm việc, giúp cắt giảm tối thiểu 30% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo và chuyên viên hoạch định chính sách tại Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để tham mưu ban hành các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 19-2016/NQ-CP và Nghị quyết 35/NQ-CP sát với thực tiễn sản xuất kinh doanh địa phương.

Nhóm thứ hai là ban giám đốc và bộ phận xuất nhập khẩu tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh. Tài liệu giúp doanh nghiệp nắm bắt chi tiết các điều kiện thụ hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, quy trình thẩm định vốn vay theo Nghị định 75/2011/NĐ-CP và phương thức kết nối với mô hình Bác sĩ doanh nghiệp để tháo gỡ vướng mắc pháp lý.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế và Quản lý công. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp đánh giá chính sách công cấp địa phương và hệ thống dữ liệu chuỗi 10 năm (2005 - 2015) về chuyển dịch cơ cấu ngoại thương.

Nhóm thứ tư là chuyên viên tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Luận văn hỗ trợ nhận diện các điểm nghẽn trong sản phẩm bảo lãnh tín dụng, từ đó thiết kế các gói tài trợ xuất khẩu chuyên biệt cho các ngành hàng nông sản và thủ công mỹ nghệ.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước tại Bắc Ninh có đặc điểm gì nổi bật giai đoạn 2005 - 2015? Khối doanh nghiệp trong nước có kim ngạch tăng trưởng bình quân 26,8%/năm nhưng tỷ trọng đóng góp lại sụt giảm mạnh từ 61,6% năm 2005 xuống chỉ còn 2,7% năm 2015. Cơ cấu xuất khẩu tập trung chủ yếu vào hàng dệt may đạt 52,8 triệu USD và đồ gỗ mỹ nghệ đạt 47,6 triệu USD vào năm 2015, sản phẩm chủ yếu mang tính gia công và sơ chế thô.

Vì sao 97% doanh nghiệp xuất khẩu khảo sát chưa từng sử dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu? Hợp đồng xuất khẩu của các doanh nghiệp dân doanh Bắc Ninh phần lớn có quy mô nhỏ, giá trị đơn hàng thấp và chủ yếu giao thương với các bạn hàng truyền thống tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia. Thêm vào đó, thủ tục mua bảo hiểm phức tạp và mức phí bảo hiểm chưa thực sự hấp dẫn khiến các đơn vị nhỏ chưa mặn mà tham gia.

Vướng mắc lớn nhất khi thực hiện bảo lãnh tín dụng xuất khẩu theo Nghị định 151/2006/NĐ-CP là gì? Điểm nghẽn then chốt là doanh nghiệp phải gánh chịu hai tầng chi phí: vừa trả lãi suất vay thương mại cho tổ chức tín dụng, vừa phải trả thêm phí bảo lãnh 1%/năm trên số dư nợ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Điều này làm chi phí vốn tăng cao, khiến 100% doanh nghiệp khảo sát không lựa chọn hình thức bảo lãnh này.

Mô hình Bác sĩ doanh nghiệp tại Bắc Ninh hỗ trợ các đơn vị xuất nhập khẩu như thế nào? Mô hình hoạt động với phương châm giải quyết từ những việc nhỏ cụ thể nhằm truyền tải thông điệp lớn về cải cách môi trường đầu tư. Tính đến tháng 9/2016, tổ công tác đã tiếp nhận 41 phản ánh, vướng mắc từ doanh nghiệp qua thư, thư điện tử và đường dây nóng, tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở ngành xử lý dứt điểm.

Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có tác động thế nào đến ngành nông nghiệp xuất khẩu Bắc Ninh? Thông qua các văn bản điều chỉnh chính sách thuế và các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, giai đoạn 2011 - 2014 tỉnh đã bố trí xấp xỉ 300 tỷ đồng, năm 2015 hỗ trợ thêm 115 tỷ đồng cho sản xuất nông nghiệp. Chính sách ưu đãi thuế và đầu tư hạ tầng đã thúc đẩy giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 8.350,5 tỷ đồng vào năm 2014.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện bức tranh ngoại thương Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015, chỉ ra sự chênh lệch lớn khi doanh nghiệp FDI chiếm tới 97,3% kim ngạch xuất khẩu trong khi khối doanh nghiệp nội địa chỉ chiếm 2,7%.
  • Đánh giá thực chứng 3 trụ cột chính sách hỗ trợ bao gồm tín dụng, thuế và xúc tiến thương mại; phát hiện 97% doanh nghiệp chưa tiếp cận bảo hiểm tín dụng và 0% doanh nghiệp sử dụng bảo lãnh tín dụng theo Nghị định 151/2006/NĐ-CP.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp mang tính thực thi cao nhằm hoàn thiện không gian chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ với quy mô từ 30 đến 50 ha và đổi mới cơ chế tài trợ thương mại.
  • Định hướng lộ trình triển khai cụ thể cho giai đoạn 2016 - 2020, tầm nhìn 2030, gắn liền với mục tiêu xây dựng 15.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả trên địa bàn toàn tỉnh.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu tỉnh Bắc Ninh cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các nhóm khuyến nghị chính sách nhằm tận dụng tối đa cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.