Chương 1: Một số lý luận về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu của một địa phương Chương 2: Phân tích thực trạng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu của tỉnh Bắc Ninh Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu của tỉnh Bắc Ninh 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU CỦA MỘT ĐỊA PHƢƠNG 1. Chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp tỉnh trong kiến tạo môi trƣờng kinh doanh cho doanh nghiệp 1. Cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Trung ương, Bộ ngành cho địa phương Trong năm 2016 và những năm gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo với quyết tâm cao độ trong cải thiện môi trường kinh doanh, đem đến niềm hứng khởi và kỳ vọng mới cho cộng đồng doanh nghiệp. Trên cơ sở những quy định chung, chính quyền địa phương dựa vào tình hình thực tế tại từng địa phương để xây dựng và ban hành những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, phát triển doanh nghiệp, những quy định đặc thù phù hợp.
Tại tỉnh Bắc Ninh, có thể kể đến các nội dung chính: 1. Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Ngày 28/4/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị quyết 19- 2016/NQ-CP “NQ số 19-2016/NQ-CP ngày 28 tháng 4 năm 2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017 và định hướng đến năm 2020” tại đó nêu rõ “Phấn đấu các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh đạt tối thiểu bằng trung bình của nhóm nước ASEAN 4; đến năm 2017 đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN 4 trên một số chỉ tiêu về năng lực cạnh tranh thuộc nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả - theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới; mục tiêu đến năm 2020, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh đạt mức trung bình của các nước ASEAN 3 trên một số chỉ tiêu thông lệ quốc tế”, [5]. Nghị quyết 19-2016/NQ-CP đặc biệt nhấn mạnh tới mục tiêu cải cách toàn diện các quy định về điều kiện kinh doanh, quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phù hợp với thông lệ quốc tế, chuyển mạnh sang hậu kiểm; điện tử hóa các thủ tục; kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, tổ chức; tạo lập hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp. 6 Trên cơ sở các mục tiêu đã đề ra, Nghị quyết số 19/2016 đã chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể đối với từng Bộ, ngành.
Trong đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có 8 nhiệm vụ, Bộ Tài chính có 10 nhiệm vụ, Bộ Công thương có 8 nhiệm vụ, Bộ Tư pháp có 6 nhiệm vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ có 5 nhiệm vụ, Bộ Xây dựng có 4 nhiệm vụ, Bộ Y tế có 4 nhiệm vụ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam có 3 nhiệm vụ. Ngoài ra các Bộ, ngành khác như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên Môi trường, Văn phòng Chính phủ, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng được giao phân công nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình. Trên cơ sở quy định từ Trung ương, UBND tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 – 2017 và định hướng đến năm 2020 (UBND tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Chương trình hành động số 118/CTr-UBND ngày 13/5/2016). Tại đó, giao nhiệm vụ thúc đẩy, cải thiện môi trường kinh doanh cho từng Sở, ban, ngành trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Tích cực đẩy mạnh hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 Nghị quyết 35/NQ-CP đã cho thấy sự quyết liệt của Chính phủ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Trong đó nhấn mạnh: “Để xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển và trở thành động lực của nền kinh tế, cần bảo đảm các nguyên tắc: Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm”, [6]. Nâng cao vai trò và vị thế của doanh nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội theo NQ 35/NQ-CP “Thực hiện chủ trương Nhà nước kiến tạo, lấy doanh nghiệp là đối tượng phục vụ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh và phát triển để xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện những quy định của pháp luật liên quan đến doanh nghiệp.
Nhà nước bảo đảm sự ổn định, nhất quán, dễ dự báo của chính sách; ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng thuận lợi, an toàn 7 và thân thiện. Nhà nước bảo đảm quyền bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt loại hình, thành phần kinh tế trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực như: Vốn, tài nguyên, đất đai… và đầu tư kinh doanh. Bên cạnh đó, có chính sách đặc thù để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và có tiềm năng tăng trưởng cao phát triển”, [6]. Ngoài ra, đề cao sự minh bạch, rõ ràng trong các quy định về điều kiện kinh doanh và phải dễ thực hiện, có lộ trình phù hợp để sớm bỏ các loại giấy phép con, phí, phụ phí bất hợp lý.
Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước theo hướng đơn giản hóa khâu tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm gắn với điều kiện, quy định cụ thể và thanh tra, kiểm tra, giám sát… Cụ thể hóa chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ, tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng Chương trình hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2016 – 2020 (UBND tỉnh ban hành Chương trình số 151/Ctr-UBND ngày 17/6/2016). Chương trình hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2016-2020 (Chương trình) nêu rõ mục tiêu đến năm 2020, xây dựng doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, trên địa bàn tỉnh có ít nhất 15.000 doanh nghiệp hoạt động. Khu vực tư nhân phát triển năng động có hiệu quả hơn, thúc đẩy năng lực kết nối doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI, tăng cường đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), năng suất lao động xã hội, góp phần tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng trên địa bàn tỉnh. Các doanh nghiệp được tạo thuận lợi dựa trên nền tảng cải thiện môi trường kinh doanh; cơ chế chính sách hỗ trợ, tạo bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực; giải quyết kiến nghị, bảo vệ doanh nghiệp; khuyến khích đổi mới sáng tạo nhằm phát triển mọi loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh; tạo chuyển biến rõ nét trong việc nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức về tinh thần phục vụ và hỗ trợ doanh nghiệp.
Hỗ trợ doanh nghiệp đi đôi với đổi mới phương pháp, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp; áp dụng hệ thống quản lý rủi ro trong theo dõi và giám sát doanh nghiệp; đổi mới thanh tra, kiểm tra, giảm phiền hà cho doanh nghiệp; tăng cường trợ giúp pháp lý cho doanh nghiệp. Khuyến khích, hỗ trợ và phát triển mạng lưới Khởi nghiệp giai đoạn 2016- 2020 Ngày 07/7/2016, Chính phủ ban hành Nghị quyết 59/NQ-CP phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 năm 2016 trong đó khẳng định Chính phủ khuyến khích khởi nghiệp, phát huy dân chủ, năng động, sáng tạo, tinh thần đổi mới dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, trong sạch, liêm chính, phục vụ người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi nhất. Ngày 26/7/2016, Thủ tướng Chính phủ có bài phát biểu tuyên thệ nhậm chức và một lần nữa nhấn mạnh “Phải tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính; kiên quyết tháo gỡ những điểm nghẽn; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; phát triển mạnh doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa làm sao cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, thành công tại thị trường trong nước và cả quốc tế”. Trong thời gian gần đây, khởi nghiệp là xu hướng mới được Thủ tướng Chính phủ quan tâm chỉ đạo để tạo mọi điều kiện thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, hướng tới xây dựng một quốc gia khởi nghiệp.
Ngày 18/5/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2035”. Mục tiêu của Đề án “nhằm tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới với các hoạt động như xây dựng Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia cung cấp thông tin về công nghệ, sáng chế, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, sở hữu trí tuệ,…; xây dựng Khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các Bộ, ngành, địa phương có tiềm năng phát triển hoạt động đổi mới sáng tạo; hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước về khoa học công nghệ hàng năm để tổ chức sự kiện Ngày hội khởi nghiệp công nghệ quốc gia với quy mô quốc tế; phát triển hoạt động đào tạo, nâng cao năng lực và dịch vụ cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; phát triển cơ sở vật chất- kỹ thuật phục vụ hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hỗ trợ một phần kinh phí xây dựng chương trình 9 truyền thông về hoạt động khởi nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp, hỗ trợ đầu tư cho khởi nghiệp và phổ biến, kết nối mạng lưới khởi nghiệp, tuyên truyền các điển hình khởi nghiệp thành công của Việt Nam;… Mục tiêu của cả nước đến năm 2025, hỗ trợ phát triển 2.000 dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, 600 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”, [7]. Về xu hướng của tỉnh Bắc Ninh trong những năm đầu đổi mới, Bắc Ninh đã trở thành một vùng đất nổi tiếng và có truyền thống về khởi nghiệp với sự hồi phục và phát triển mạnh mẽ về kinh tế làng nghề.