Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 1.1 Các khái niệm liên quan Theo Peter Aucoin (1971) “Chính sách công là bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành”; William Jenkin (1978) xác định, “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lực chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được mục tiêu đó”. Để soi chiếu vấn đề thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững, khái niệm chính sách công theo Đỗ Phú Hải (2014) là lựa chọn trong luận văn này, theo đó, “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và lựa chọn các giải pháp, các công cụ nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”. Về khái niệm nghèo, có thể xem xét quan điểm “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” của Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993. Bộ Lao động, thương binh và xã hội ghi nhận, nghèo là một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng của từng vùng, từng khu vực xét trên mọi phương diện.
9 Chuẩn nghèo của Việt nam giai đoạn 2016-2020 Xây dựng chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; xây dựng mức sống tối thiểu để từng bước đảm bảo an sinh xã hội cho mọi người dân, trước mắt áp dụng chuẩn nghèo chính sách để phân loại đối tượng hộ nghèo, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách, cụ thể như sau: - Hộ nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống; hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu, và thiếu hụt dưới 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Chính sách giảm nghèo là tất cả các giải pháp chính sách của Nhà nước và xã hội hay của chính đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.2] Giảm nghèo bền vững: là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, tạo điều kiện cho hộ nghèo bằng các chính sách cụ thể để họ có thu nhập và cuộc sống ổn định, lâu dài thoát nghèo và không tái nghèo.3] 10 Từ đó ta có thể hiểu khái niệm về chính sách giảm nghèo bền vững và thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững như sau: Chính sách giảm nghèo bền vững là tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp, công cụ chính sách để giảm nghèo bền vững, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách, chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững: là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của Nhà nước về chính sách giảm nghèo bền vững thành hiện thực đến với các đối tượng quản lý là các hộ nghèo nhằm đạt mục tiêu giảm nghèo bền vững, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách, chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư [3, tr.2 Nội dung thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững 1.1 Quan điểm, định hướng chính sách giảm nghèo bền vững Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta là nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư, sự chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị.1] Giảm nghèo bền vững là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 được ghi nhận trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.
Nếu không giải quyết, không thực hiện tốt vấn đề giảm nghèo bền vững thì khó có thể thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020. Giảm nghèo bền vững còn là cam kết của Việt Nam trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc. Vì thế, giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ, là giải pháp quan trọng, cấp bách để hướng tới thực hiện mục tiêu chung là “Dân giàu nước mạnh”. Thực hiện 11 giảm nghèo bền vững phải gắn với phát triển bền vững.
Các hạn chế bất cập trong chính sách giảm nghèo bền vững và trong tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cũng đặt ra vấn đề cần phải nghiên cứu hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam hiện nay. Những chính sách xóa đói giảm nghèo trước đây chưa đạt được các mục tiêu mong muốn, giảm nghèo không bền vững và có nguy cơ tái nghèo rất cao. Do đó Nhà nước buộc phải điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững. Việc bổ sung và hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách đặt ra hiện nay.
Giảm nghèo bền vững là vấn đề có quy mô rộng lớn và phức tạp không thể giải quyết trong một thời gian nhất định mà chỉ có thể giải quyết thành công bằng các chính sách của Nhà nước với các giải pháp và công cụ hữu hiệu. Như vậy, cho ta thấy rằng vấn đề chính sách giảm nghèo bền vững còn xuất phát từ các yêu cầu nhiệm vụ thực hiện chức năng xã hội, chức năng quản lý của Nhà nước. Từ các phân tích như trên cho thấy vấn đề giảm nghèo bền vững ở Việt Nam hiện nay là vấn đề quan trọng, bức xúc và cấp bách được đặt ra và cần phải giải quyết bằng chính sách của Nhà nước.2 Mục tiêu của chính sách giảm nghèo bền vững Mục tiêu tổng quát Các chính sách giảm nghèo bền vững: + Nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo một cách bền vững, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, tạo điều kiện cho người nghèo vươn lên thoát nghèo.2] 12 + Thực hiện giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, tăng thu nhập của người nghèo giai đoạn 2016 - 2020.2] Mục tiêu cụ thể: + Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,0 -1,5% năm, riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn;[16,tr.2] + Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là về y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản.3] + Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo; xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt.3 Công cụ và giải pháp thực hiện chính sách: Ở Việt Nam công cụ thực hiện chính sách giảm nghèo được Chính phủ sử dụng nhiều nhất đó là sự can thiệp, tác động trực tiếp đến người nghèo, và qua lợi ích kinh tế cụ thể như sau: *Chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung, gồm: Hỗ trợ về giáo dục và đào tạo: Thực hiện có hiệu quả chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ học bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ chi phí học tập đối với học sinh nghèo ở các cấp học, nhất là bậc mầm non…; Hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo: Tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các nguồn vốn, gắn với việc hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, nhất là hộ có người khuyết tật, chủ hộ là phụ nữ. 13 Hỗ trợ về nhà ở: Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo khu vực nông thôn, miền núi để cải thiện nhà ở, ưu tiên hộ nghèo ở người cao tuổi, người khuyết tật.
Hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng: Thực hiện có hiệu quả chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ cận nghèo; xây dựng chính sách hỗ trợ người nghèo mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo. Ưu đãi đầu tư trước để đạt chuẩn cơ sở bệnh viện, trạm y tế ở các huyện, xã nghèo. Hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin: Tổ chức thực hiện tốt chương trình đưa văn hóa, thông tin về cơ sở; đa dạng hóa các hoạt động truyền thông, giúp người nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo, phổ biến các mô hình giảm nghèo có hiệu quả, gương thoát nghèo.