Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã. Công chức cấp xã 1. Khái niệm, đặc điểm của công chức cấp xã Công chức là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và tổ chức bộ máy nhà nước ở mỗi quốc gia.
Ở các quốc gia tồn tại nhiều đảng phái chính trị, công chức được hiểu là những người giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc công chức và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Ở những nước chỉ có duy nhất một Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội, quan niệm công chức được mở rộng hơn, ngoài những chủ thể nêu trên còn bao gồm những đối tượng có dấu hiệu tương tự làm việc trong tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt, công chức là “những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” [36, tr. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân 8 mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [20, Điều 4, Khoản 2].
Công chức cấp xã là “công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [20, Điều 4, Khoản 3]. Công chức cấp xã theo quy định có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng - Đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội [13, Mục I, Điều 3]. Đội ngũ công chức cấp xã có chức trách tham mưu, đề xuất các biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND và chủ tịch UBND cấp xã, đồng thời trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công trong các lĩnh vực theo quy định của pháp luật và sự phân công của Chủ tịch UBND cấp xã. Số lượng CBCC cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã, cụ thể: cấp xã loại 1 bố trí không quá 25 người, cấp xã loại 2 bố trí không quá 23 người, cấp xã loại 3 bố trí không quá 21 người.
Công chức cấp xã do UBND cấp huyện quản lý. Để phân biệt công chức cấp xã với cán bộ cấp xã, cán bộ cấp xã có các chức vụ sau: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí 9 thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam [9, Điều 3, Khoản 1]. Vị trí, vai trò của công chức cấp xã Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò, vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân và giữa công dân với Nhà nước. Với vị trí là cấp cơ sở, vai trò của công chức cấp xã được thể hiện qua các mối quan hệ sau: - Quan hệ giữa đường lối, chính sách và pháp luật với công chức cấp xã: Công chức cấp xã có phẩm chất và năng lực tốt thì có khả năng cụ thể hóa chính sách và tổ chức thực hiện tốt pháp luật.
Ngược lại, nếu công chức cấp xã không vững mạnh thì việc đưa đường lối, chính sách vào cuộc sống trở nên rất khó khăn. Như vậy, có thể nói rằng, đội ngũ công chức cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước [17, tr. Không chỉ đóng vai trò là những người trực tiếp đem chính sách, pháp luật vào cuộc sống của người dân, công chức cấp xã còn là những người nắm bắt tình hình triển khai thực hiện những chủ trương, chính sách, pháp luật đó và phản ánh cho các cơ quan lập pháp để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn. - Quan hệ giữa bộ máy chính quyền với công chức cấp xã: Công chức cấp xã là nhân tố mang tính “động” ở cơ sở nhưng lại chịu sự chi phối, ràng buộc của tổ chức chính quyền cơ sở, yêu cầu phải hoạt động theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định.
Tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã khoa học và hợp lý sẽ thúc đẩy và tạo điều kiện cho các công chức cấp xã thực thi công vụ có hiệu lực và hiệu quả. Đội ngũ công chức cấp xã chỉ có sức mạnh 10 khi gắn với tổ chức chính quyền và nhân dân, nếu tách rời thì đội ngũ này sẽ mất sức mạnh quyền lực và hiệu lực do nhân dân tạo nên [36]. - Quan hệ giữa với chức trách thực thi công vụ với công chức cấp xã: Nói đến công vụ là nói đến trách nhiệm của CBCC nói chung trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội. Một nền công vụ hiệu lực, hiệu quả tại cơ sở phụ thuộc rất nhiều vào lực lượng nòng cốt trong việc quản lý hành chính nhà nước ở cấp xã.
Mỗi công chức cấp xã cần đề cao tính trách nhiệm với tinh thần tận tụy, mẫn cán và làm tròn bổn phận của mình trong hoạt động thực thi công vụ để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính quyền cơ sở đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. - Quan hệ giữa quần chúng nhân dân với công chức cấp xã: Đội ngũ công chức cấp xã là những người gần dân nhất, có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Đây cung là đội ngũ đóng vai trò tiên phong, gương mẫu trong đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác, góp phần làm cho tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, thông qua hoạt động của công chức cấp xã, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình.
Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã Có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về “đào tạo” và “bồi dưỡng”. Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính Phủ định nghĩa như sau: “1. Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học. Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [10, tr.
Theo cách hiểu trên, đào tạo là quá trình truyền đạt lượng kiến thức nhất định qua một quá trình hay quy trình dạy và học khép kín trong một khoảng thời gian nhất định. Còn bồi dưỡng là quá trình truyền đạt thêm lượng kiến thức nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể, trong đó không nhất thiết phải làm rõ về quá trình hay phương pháp truyền đạt thêm mà có thể làm cho người học được cung cấp thêm năng lực và kiến thức. Như vậy, tuy “đào tạo” và “bồi dưỡng” là hai khái niệm độc lập, nhưng đều nhằm mục đích chung làm cho người học có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác tốt hơn. Trên thực tế có một số hoạt động đào tạo hoặc bồi dưỡng rất khó phân chia rõ ràng, bởi lẽ giữa chúng có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau.
Như vậy, có thể khái quát khái niệm đào tạo, bồi dưỡng nói chung là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau phù hợp với yêu cầu giải quyết công việc được giao một cách chất lượng, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thực hiện. Quan niệm này mang tính thực tiễn của Việt Nam và cũng phù hợp với khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng trong từ điển Tiếng Việt: “Đào tạo, bồi dưỡng là làm tăng năng lực và phẩm chất cho người được đào tạo, bồi dưỡng” [30, tr. Nội dung bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức nói chung gồm: (1) Lý luận chính trị; (2) Kiến thức quốc phòng và an ninh; (3) Kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước; (4) Kiến thức quản lý chuyên ngành, chuyên môn, nghiệp vụ; đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; kiến thức hội nhập quốc tế; (5) Tiếng dân tộc, tin học, ngoại ngữ [11, Mục I, Chương III, Điều 16]. (1) Đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị 12 Mục đích: Xây dựng đội ngũ CBCC có lập trường tư tưởng vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn, phẩm chất, đạo đức tốt.
Nội dung: Trang bị các kiến thức về lý luận chính trị theo tiêu chuẩn quy định cho các chức danh cán bộ, ngạch công chức và chức danh lãnh đạo quản lý; Tổ chức phổ biến các văn kiện, nghị quyết của Đảng; bồi dưỡng cập nhật, nâng cao trình độ lý luận theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.