Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Thực hiện chính sách đạo tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 1. Các khái niệm cơ bản Khái niệm về chính sách: Theo từ điển Tiếng việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên thì “Chính sách” là “Sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”. Theo James Anderson “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” Ngoài ra, có thể kể đến cái khái niệm khác như: Chính sách là những gì mà chính phủ làm, lý do làm và sự khác biệt nó tạo ra (Dye 1972).
Chính sách là một hành động mang tính quyền lực nhà nước nhằm sử dụng nguồn lực để thúc đẩy một giá trị ưu tiên (Considine 1994). Theo Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một số mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. Tóm lại, có thể có thể khái quát về khái niệm chính sách, như sau: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. 10 n Khái niệm chính sách công: Hiện nay, trên thế giới việc tranh luận để đưa ra một khái niệm chung nhưng vẫn chưa thống nhất.
Đây là chủ đề tranh luận sôi động ở nhiều khía cạnh khác nhau. Từ thực tế chính sách của các ngành, các địa phương và mỗi quốc gia, cũng như qua những cuộc thảo luận trên các diễn đàn nghiên cứu chính sách, chúng ta có thể chọn ra một số cách tiếp cận quan trọng nhất để phân tích trước khi đi đến một khái niệm thống nhất về chính sách công. Từ khái niệm chung về chính sách, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm cụ thể về chính sách công. Một khái niệm đơn giản và dễ nhớ nhất là của Thomas R.Dye (1984): “Chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm”.
Ngoài những khái niệm trên đây, còn rất nhiều khái niệm về chính sách công có thể liệt kê như: “Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành” (Peter AuCoin, 1971). “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó” (William Jenkin, 1978). “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một các trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” (B. “Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra (William N.
11 n Gần đây, một khái niệm tổng hợp hơn đã được đưa ra bởi Kraft và Furlong (2004): “Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình”. Khái niệm này chứa đựng những từ khóa chính: Vấn đề, chính quyền và sự lựa chọn. Cụ thể là, khi có một vấn đề kinh tế - xã hội nào đó xuất hiện, chính quyền sẽ lựa chọn nội dung, mục tiêu và cách thức giải quyết một vấn đề đó.
Như vậy, chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về chính sách công: Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức: Là hệ thống các quan điểm, quyết định, quy định lựa chọn của Nhà nước nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, có phần chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã điều chỉnh các hoạt động về đối tượng, phạm vi, nội dung, chương trình, hình thức thực hiện; những quyền, lợi ích và nghĩa vụ của đội ngũ cán bộ, công chức phù hợp với hoàn cảnh khách quan và những mục tiêu của Nhà nước trong mỗi giai đoạn cách mạng cụ thể. 12 n Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là tập hợp của nhiều chính sách đối với cán bộ, công chức, nhằm đạt được những mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước.
Khái niệm về cán bộ và cán bộ cấp xã: Nước ta đang trong giai đoạn đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH (công nghiệp hóa, hiện đại hóa) vừa xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) vừa tiến hành xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chính vì vậy, cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ đảm bảo có chất lượng đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra, đặc biệt là cán bộ, công chức cấp xã. Cán bộ đó là một thuật ngữ quen thuộc không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước trên thế giới. Riêng ở nước ta, thuật ngữ cán bộ được sử dụng từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) và được sử dụng phổ biến từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, dùng để chỉ một lớp người là chiến sỹ cách mạng, lớp người mới, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với Nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.
Tên gọi cán bộ đã để lại dấu ấn đẹp trong lịch sử cách mạng nước ta từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo đất nước. Theo từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng (năm 2006), “cán bộ được hiểu là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, đoàn thể; người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” 44,tr. Trong tác phẩm Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH do Nguyễn Phú Trọng – Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên) thì: “Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng 13 n đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức” 39,tr. Tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Ở nước ta hiện nay, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị được chia thành nhiều cấp: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố; cấp quận, huyện và cấp xã, phường, thị trấn. Cán bộ ở xã, phường, thị trấn được gọi chung là cán bộ cấp cơ sở. Cấp cơ sở là nơi nhân dân cư trú, sinh sống gắn bó chặt chẽ với các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội, huyết thống, phong tục tập quán và những sinh hoạt chung khác. Cấp cơ sở có vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta, đó là nơi trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với Nhân dân; cụ thể hóa các chỉ thị, Nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên.
Người lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ đó ở cơ sở chính là đội ngũ cán bộ ở cơ sở hay cán bộ, công chức cấp xã. Đề cập đến cán bộ cấp xã, tại Khoản 3, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định rõ: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội. Tại Điều 61 của Luật Cán bộ, công chức và Khoản 3, Điều 1 của Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số 14 n lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì cán bộ cấp xã gồm có các chức danh sau đây: - Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; - Chủ tịch ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam; - Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; - Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam; - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam). - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Khái niệm về công chức, công chức cấp xã: Công chức là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ các công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương. Nhưng do đặc thù của từng quốc gia nên quan niệm về công chức là không đồng nhất.