Chương 1: Cơ sở lý thuyết về bảo hiểm xã hội. Chương 2: Tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội tại Công ty cô phần Dược phẩm và Thương mại Đại Thủy. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện tốt công tác bảo hiểm xã hội tại Công ty cô phần Dược phẩm và Thương mại Đại Thủy. CHUONG 1: CO SO LY THUYET VE BAO HIEM XA HOI 1.
Sự cần thiết khách quan và vai trò của bảo hiểm xã hội 1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xã hội Con người muốn tồn tại và phát triển luôn cần phải thoả mãn các nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần, và để thoả mãn các nhu cầu đó con người phải lao động, sáng tạo sản xuất ra các sản phẩm. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp rủi ro bất ngờ xảy ra làm giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, tai nạn lao động, già yếu. Khi rơi vào các trường hợp đó các nhu cầu cần thiết của cuộc sống con người không vì thế mà giảm đi hoặc mất đi, thậm chí còn tăng thêm hoặc phát sinh những nhu cầu mới như chỉ phí khám chữa bệnh khi 6m đau xảy ra.
Bởi vậy, muốn duy trì đảm bảo cuộc sống NLĐ đòi hỏi phải có nguồn thu nhập thay thế để bù đắp. Khi nền sản xuất hàng hoá phát triển, sản xuất mang tính chuyên môn hoá cao thì quan hệ thuê mướn lao động ra đời và ngày càng phát triển. Những người làm công phải hoàn toàn dựa vào tiền lương là nguồn sống chủ yếu, khi ốm đau, tai nạn, sinh đẻ. thì phải nghỉ việc và không có lương, cuộc sống của họ bị đe doa.
NLD đã ý thức được sự cần thiết phải có thu nhập đề phòng khi họ gặp rủi ro tai nạn bất ngờ nên họ đấu tranh đòi giới chủ phải cam kết đảm bảo một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi ốm đau, thai sản. Song nhiều khi rủi ro xảy ra liên tục buộc người chủ phải chỉ ra những khoản tiền lớn mà họ không muốn. Do vậy, mâu thuẫn và tranh chấp giữa chủ và thợ đã xuất hiện và trở nên ngày càng gay gắt. Đứng trước tình tình đó, nhà nước là người thứ ba đứng ra giải quyết mâu thuẫn và điều hoà lợi ích giữa chủ và thợ, cu thé: yêu cầu cả chủ và thợ đều phải đóng góp những khoản tiền nhất định để hình thành quỹ, đồng thời nhà nước hỗ trợ một phần đề giúp các bên giải quyết khó khăn.
Từ đó và giới chủ và thợ đều được đảm bảo và họ thấy có lợi các nguồn đóng góp và sự hỗ trợ của nhà nước hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung —- quỹ BHXH. Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết được BHXH. Từ khía cạnh kinh tế thì tham gia BHXH và được BHXH là sự phản ánh một quy luật có tính khách quan: quy luật cung — cầu. Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người như 4 trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nêu.
Vai trò của bảo hiểm xã hội Chính sách BHXH là một trong những bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, là chủ trương, quan điểm, nguyên tắc đề giải quyết những vấn đề xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo NLĐ và các vấn đề kích thích phát triển kinh tế của từng thời kỳ và hoạt động BHXH không vì mục đích lợi nhuận. Trong hệ thống ASXH của quốc gia, BHXH giữ vai trò trụ cột và bền vững nhất: Thứ nhất, chính sách BHXH sẽ trợ giúp NLĐ khi gặp rủi ro: ôm đau, TNLĐ — BNN, thất nghiệp, thai sản,. sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm. Khi có việc làm và khỏe mạnh, NLĐ và NSDLĐ sẽ đóng góp tiền lương, thu nhập vào quỹ BHXH.
Quỹ này hỗ trợ NLĐ khi ốm đau, tai nạn, không có việc làm, lúc già cả để duy trì và ôn định cuộc sống của NLĐ và gia đình họ. NLĐ tham gia BHXH khi ốm đau sẽ được khám chữa bệnh và được quỹ BHXH chi tra phan lớn chi phí; được nhận tiền trợ cấp khi 6m dau không đi làm được, được nghỉ chăm con ốm; khi thai sản được nghỉ khám thai, được nghỉ khi sinh đẻ và nuôi con, được nhận trợ cấp khi sinh con và trợ cấp thai sản; khi TNLĐ hoặc BNN sẽ được nhận phần trợ cấp do giảm khả năng lao động do tai nạn, BNN gây ra. Ngoài ra, NLĐ còn được nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau, sinh đẻ hay điều trị thương tật nhăm nâng cao thể lực. Khi NLĐ mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp và được giới thiệu việc làm hoặc gửi đi học nghề đề có cơ hội tìm kiếm việc làm mới.
Thứ hai, chính sách BHXH góp phân ổn định cuộc sống của NLĐ khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động. Theo quy định của Luật BHXH, NLÐ tham gia đóng BHXH từ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng. Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Cùng với sự phát triển kinh tế, mức lương hưu cũng không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống của toàn xã hội.
Vào các thời điểm tăng mức lương tối thiểu chung cũng như xem xét chỉ số già cả, Nhà nước đều có chỉ số điều chỉnh lương hưu một cách hợp lý. Mức lương hưu không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sông chung của toàn xã hội tại thời điệm hưởng lương hưu đã đảm bảo cuộc sông của người nghỉ hưu, tạo sự an tâm, tin tưởng của người về hưu sau cả cuộc đời lao động. Thứ ba, thực hiện chính sách BHXH góp phân ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sự bình đẳng về vị thế xã hội cúa NLĐ trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển. Chính sách BHXH hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản “đóng — hưởng” đã tạo ra bước đột phá quan trọng về sự bình đẳng của NLĐ về chính sách BHXH, có nghĩa là người nào tham gia BHXH thì người đó mới được hưởng.
Khi đó, mọi NLĐ làm việc ở các thành phần kinh tế, các ngảnh nghề, dia ban khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia thực hiện các chính sách BHXH. Từ đó, chính sách này trực tiếp tham gia vào việc phân phối lại thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp, giữa những người may mắn và những người kém may mắn hơn, giữa những NLD thé hệ trước và NLĐ thế hệ sau. Với những quyền lợi về BHXH đã góp phần thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, giữ gìn và nâng cao thể lực cho NLĐ trong suốt quá trình lao động, sản xuất. Việc được tham gia BHXH, khi đang làm việc và được hưởng lương hưu sau này đã tạo ra cho NLĐ sự phan khởi, tâm ly ồn định, an tâm vào việc làm mà họ đang thực hiện.
BHXH làm cho mối quan hệ giữa NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước gắn bó khăng khít hơn. Thông qua hoạt động BHXH, NLĐÐ có trách nhiệm hơn trong lao động, họ tích cực lao động, tạo ra năng suất cao hơn, sang tạo trong quá trình lao động. Đối với NSDLĐ, góp phần tạo ra niềm tin đối với NLĐ, khuyến khích NLĐ, yên tâm, nhiệt tình trong công việc bằng cách NSDLĐ đóng đúng, đóng đủ BHXH cho NLĐ từ đó tạo sự gắn bó giữa NLĐ và người sử dụng lao động. Đối với Nhà nước, thông qua việc tổ chức và duy trì chính sách BHXH nhăm bảo đảm cho mọi NLĐ, mọi tổ chức, đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh trong sân chơi bình đăng, công băng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong đời sống xã hội, góp phần ồn định, phát triển kinh tế xã hội đảm bảo an sinh cho mọi TBƯỜI.
Thứ tư, BHXH góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế, đảm bảo ồn định chính trị - xã hội. Quỹ BHXH được thành hình từ sự đóng góp của NSDLĐ, NLĐ và sự hỗ trợ từ Nhà nước. Ngoài mục đích để chi trả các chế độ BHXH hợp pháp cho NLD và gia đình của họ, nguồn vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH còn là một kênh đầu tư sinh lời vô cùng quan trọng của mỗi quốc gia. Thông qua việc đầu tư lại vào nền kinh tế từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành nghề, lĩnh vực khác phát triển, thúc đầy sự phát triển của kinh tế đất nước.
Các chính sách BHXH còn là một công cụ đắc lực của Nhà nước, giúp phân phối lại thu nhập quốc gia một cách công băng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Sau khi thực hiện thuế thu nhập, Nhà nước sẽ tiến hành phân phối lại thông qua chính sách BHXH. Khi đó, lao động có tiền lương cao hơn sẽ đóng góp nhiều hơn cho xã hội để trợ giúp những người có hoản cảnh khó khăn hơn. Ngược lại, bộ phận lao động gặp phải rủi ro trong cuộc sống như: ốm dau, TNLD — BNN, mit viéc lam,.
sé duoc hưởng các quyền lợi từ việc tham gia BHXH. Như vậy có thể thấy, BHXH là một chính sách mang đậm tính nhân văn mà các quốc gia nên tập trung đây mạnh thực hiện. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghè nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội (tại Khoản 1 điều 3, Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ban hành ngày 20/11/2014).
Tại Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2018 cũng có quy định về các loại bảo hiểm xã hội như sau: - Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.